Kỳ 1: Heo "xì ke" tràn ngập thị trường – Mầm mống của bệnh ung thư Số liệu y tế mới nhất báo động gia tăng bệnh tật nguy hiểm ở Việt Nam: Trung bình mỗi năm có 75.000 người tử vong vì ung thư và hơn 150.000 ca mắc bệnh mới. Đáng lo hơn, số ca bị ung thư mới ở Việt Nam hiện thuộc tốp đầu thế giới. Một trong những nguyên nhân chính đến từ những thứ mà chúng ta đưa vào miệng hằng ngày chứa đầy độc tố. Nguy hiểm hơn, độc tố từ các loại thức ăn, nước uống… cũng có phần do người Việt mình “đang tự đầu độc nhau”. Rà theo những hộ chăn nuôi lớn chuẩn bị xuất chuồng heo, thương lái đưa cho người nuôi chất tạo nạc (trong nghề gọi là “xì ke”) đề nghị cho ăn rồi sẽ ưu tiên mua giá cao. Khi người nuôi kêu thương lái đến bắt heo, câu đầu tiên thương lái hỏi không phải giá cả mà là “heo anh có chất “xì ke” không”? Nhiều người chăn nuôi bức xúc phản ánh với phóng viên Lao Động. Thịt heo “xì ke”- mầm mống của bệnh ung thư - đã và đang tràn ngập thị trường… NGƯỜI NUÔI HEO BỨC XÚC Mới đây, Chi cục Thú y TP.Hồ Chí Minh thông báo phát hiện 8/31 mẫu heo dương tính với chất cấm thuộc nhóm beta - agonist (chất tạo nạc, thuốc tăng trọng cho heo) có xuất xứ từ tỉnh Tiền Giang khi nhập vào các lò giết mổ ở thành phố này. Tiền Giang lập tức cho kiểm tra lấy mẫu nước tiểu trên đàn heo tại các trang trại, hộ gia đình chăn nuôi quy mô lớn trên địa bàn tỉnh. 50 mẫu xét nghiệm ban đầu đã dương tính với chất beta - agonist. Kết quả giám định của Cơ quan Thú y vùng II TPHCM cho thấy có đến 32 mẫu dương tính với chất tạo nạc. Tiền Giang có trên 550.000 con heo nuôi tập trung tại huyện Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Đông. Có mặt tại xã Xuân Đông, huyện Chợ Gạo - một trong những địa phương có đàn heo lớn nhất Tiền Giang, đến đâu chúng tôi cũng nghe người nuôi heo bức xúc với chuyện những lái heo tỏa khắp nơi để bán (thậm chí cho không) chất tạo nạc cho người nuôi. “Heo nào có chất tạo nạc họ ưu tiên mua trước với giá cao hơn 500 đồng/kg, thử hỏi người nuôi làm sao mà bỏ qua. Người dân trồng dừa, nhưng mấy năm nay giá dừa xuống thấp, nhờ đàn heo mà dân sống được, nay chất tạo nạc len lỏi vào trong dân khiến chúng tôi vô cùng khổ sở”. Anh Huỳnh Phương Vũ (hộ chăn nuôi heo tại ấp An Lạc Trung, xã Xuân Đông, Chợ Gạo) kể: “Heo tôi tới lứa, điện thoại kêu lái heo. Câu đầu tiên họ không hỏi giá cả mà hỏi, heo anh có “xì ke” không, nếu có thì họ mới mua”. Anh Vũ giải thích “xì ke” là chất tạo nạc mà trước đó các lái heo cho người chăn nuôi bỏ vào thức ăn khoảng 20 ngày trước khi xuất chuồng. Heo ăn chất này vào lông xù, đùi to ra, lượng mỡ giảm đáng kể. Anh không cho thức ấy vào bữa ăn của heo vì sợ bệnh cho mình và cho người tiêu dùng. Vậy là anh bán chỉ được 45.000 đồng/kg, thay vì 47.000 đồng/kg. Anh bức xúc: “Người chăn nuôi ai cũng biết, dùng chất “xì ke” là không nên, nhưng lái heo thao túng đầu ra như vậy, thử hỏi làm sao chúng tôi chịu được? Xin đừng đổ cho chúng tôi hám lợi mà giết người tiêu dùng”. TRUY TÌM KẺ GIEO RẮC CHẤT "XÌ KE" Tại Bến Tre, Thanh tra Sở NNPTNT vừa kiểm tra 4 cơ sở có quy mô chăn nuôi từ 50 con heo trở lên trên địa bàn 4 huyện: Châu Thành, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm và Mỏ Cày Nam. Đoàn đã lấy 20 mẫu (mỗi cơ sở 4 mẫu nước tiểu và 1 mẫu thức ăn) để xét nghiệm. Kết quả, đã phát hiện chất tạo nạc Salbutamol trên cả 4 mẫu nước tiểu và 1 mẫu thức ăn của cơ sở ông Phạm Văn Tánh (ấp Phú Tây, xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam). Ông Tánh cho biết, chất tạo nạc Salbutamol mà ông đang sử dụng được cung cấp từ một đại lý của Cty CP Chăn nuôi CP Việt Nam (có địa chỉ tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Đoàn thanh tra đã xử phạt 15 triệu đồng và tạm niêm phong, cấm xuất bán đối với cơ sở này trong thời gian điều tra truy tìm nguồn gốc xuất xứ thật sự của chất cấm trên. Đoàn kiểm tra cũng đã thông báo kết quả trên đến Sở NNPTNT tỉnh Tiền Giang và Công an Bến Tre để phối hợp điều tra. Cùng lúc, ông Đoàn Văn Đảnh, Giám đốc Sở NNPTNT Bến Tre đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thành lập đoàn kiểm tra chuyên ngành để khẩn trương tiếp tục kiểm tra ở một số điểm nóng khả nghi sử dụng chất cấm để tạo nạc trong chăn nuôi heo trên địa bàn tỉnh. Nếu phát hiện các chất cấm sử dụng trong chăn nuôi như đã công bố, sẽ xử phạt hành chính. Người vi phạm phải cung cấp đầy đủ nguồn gốc heo được thu mua (nếu là đại lý, doanh nghiệp) để cơ quan chức năng truy tìm và có biện pháp xử lý theo quy định pháp luật. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tiền Giang cũng chính thức vào cuộc truy tìm người bán chất “xì ke” cho heo. Đại tá Nguyễn Văn Hùng - Trưởng phòng PC 46 Công an tỉnh Tiền Giang, cho biết, đã cử trinh sát đi điều tra nắm rõ tình hình mua bán chất tạo nạc. PC 46 kêu gọi người dân hợp tác, cung cấp thông tin người bán, bán cho ai, khi nào, ở đâu để phối hợp truy tìm, xử lý đúng pháp luật. NHỮNG HÀNH VI GIAN LẬN BỊ BÓC MẼ Tại cuộc họp báo tổng kết công tác tháng 8, kế hoạch tháng 9.2015 của ngành nông nghiệp, ông Phạm Tiến Dũng - Trưởng phòng Thanh tra chuyên ngành (Bộ NNPTNT) - cho biết: Chỉ trong 6 tháng đầu năm, Chi cục Thú y TP.HCM đã lấy 227 mẫu nước tiểu heo giết mổ của 51 lô, thì phát hiện tới 31 mẫu dương tính hàm lượng cao với chất Salbutamol. Trong 7 lô heo dương tính với Salbutamol thì có tới 4 trường hợp có xuất xứ từ Đồng Nai, 2 trường hợp ở Tiền Giang và 1 trường hợp ở Long An. Ngay sau khi phát hiện nguồn gốc lô heo có hoạt chất cấm, đoàn thanh tra đã làm việc với Sở NNPTNT Đồng Nai, kiểm tra 44 trong tổng số gần 2.000 trang trại trên địa bàn tỉnh, phát hiện 14 trang trại có heo dương tính với hoạt chất Sabutamol. Các trang trại vi phạm chủ yếu tập trung tại huyện Vĩnh Cử, Trảng Bom và Biên Hòa. Theo Thanh tra Bộ NNPTNT, hành vi vi phạm chủ yếu tập trung tại các trang trại chăn nuôi nhỏ lẻ từ 100 - 200 con. Tại những trang trại này, chủ yếu con giống có chất lượng kém, nên chủ trại đưa chất cấm vào để tăng trọng, nhằm thu lợi bất chính. Bênh cạnh đó, một số cá nhân, thương lái đã lợi dụng sơ hở của các chủ trang trại, thu lại các trang trại chăn nuôi rồi thu mua heo đã xuất chuồng của các công ty có uy tín về “nuôi thúc” bằng thức ăn có chất cấm. Với cách nuôi này, chỉ trong vòng 10 - 30 ngày, đàn heo đã tăng trọng lượng khoảng 130 - 140kg. Như vậy trừ chi phí, mỗi đầu heo đều tăng lợi nhuận từ 5 trăm ngàn đến một triệu đồng. Chưa kể, những kẻ vô lương tâm này còn quay vòng phiếu tiêm phòng, hợp lý hóa thủ tục để tiến hành xin cấp giấy kiểm dịch của cơ quan thú y. Theo BÁO LAO ĐỘNG
Kỳ 2: Khi hạt lúa "ngậm độc" Không ai phủ nhận, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đã góp phần đưa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ chỗ thiếu đói vươn lên vị thế “thủ phủ” của cây lúa nước. Nhưng cũng chính thứ hóa chất này đã “quay đầu” hạ bệ lúa gạo ĐBSCL… Trưa đứng bóng, nắng chang chang, nhưng hai anh em anh Đỗ Văn Phú xã Kiến Thành (Chợ Mới – An Giang) vẫn hì hục pha nhiều thứ thuốc để phun lên ruộng lúa đang giai đoạn đang chín. Thấy tôi tò mò như người muốn “học nghề”, anh Phú hào hứng chia sẻ: “Tôi pha 4 loại thuốc TILT Super, LACA SUTO, FILIA và MANCOZEB để “chuốt” cho hạt lúa phì to tới cậy bông”. Rất tự hào với kinh nghiệm 20 năm trồng lúa của mình, anh Phú chỉ dẫn tường tận: “Ngoài tác dụng trị bệnh, khi trộn chung, 4 loại thuốc này làm cho cây lúa cứng hơn và hạt vừa no tròn vừa giữ nước ươn ướt khi thu hoạch nên rất được ký”. Đây là lần phun thuốc thứ 8/vụ lúa với tổng số tiền khoảng 1 triệu đồng/công, nhưng anh Phú vẫn cho là thấp, vì nhiều hộ phun cả chục lần với tiền thuốc lên 1,2-1,5 triệu đồng/công/vụ. Và tất cả đều có chung kỳ vọng: Phun nhiều hóa chất sẽ làm tăng năng suất và hóa giải “chiêu trò” kéo dài thời gian thu mua nhằm làm cho hạt lúa khô trên cây mà cánh thương lái thường áp dụng mỗi khi giá lúa sụt giảm. Sau khi múc nước ngay ruộng pha thuốc, Phú cùng người anh đeo máy lên vai rồi lội xuống ruộng xịt thuốc bằng chiếc cần có đến 7 miệng. Đám ruộng phớt vàng lúa đang thì con gái, bỗng chốc như mờ ảo trong màn sương mỏng mảnh của thuốc BVTV. Hết bình này họ lại múc nước lên pha bình khác. Nhìn cảnh tượng, anh bạn kỹ sư nông nghiệp đi cùng lắc đầu ngao ngán: “Cả 4 loại thuốc này đều có thời gian cách ly khoảng nửa tháng, trong khi đó đám ruộng còn khoảng chục ngày là thu hoạch, nên khả năng hạt gạo nhiễm dư lượng thuốc BVTV là rất cao”. Tuy nhiên không nhiều nông dân hiểu được nguy hiểm này. ThS Lê Thanh Phong, Phó giám đốc Trung Nghiên cứu - Phát triển nông thôn Trường Đại học An Giang chia sẻ: “Khi khảo sát nông dân tại 3 tỉnh Phú Thọ, Nam Định và An Giang cho nghiên cứu “Kiến thức-Thái độ- Hành vi trong sử dụng hóa chất”, chúng tôi ghi nhận có khoảng 10% nông dân hiểu hóa chất nông nghiệp là “vô hại, hoặc chỉ là chất dinh dưỡng giúp bảo vệ mùa màng”. Vì thế không lấy làm lạ khi tại các tỉnh “vựa lúa” như An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang vẫn nhan nhản chuyện “sáng phun thuốc - chiều thăm đồng thấy lúa chưa tốt lên, tiếp tục mang thuốc ra phun thêm”. Điều này không chỉ gia tăng nguy cơ nhiễm độc trước mắt, mà còn bắc cầu cho nguy cơ nhiễm lâu dài cho hạt gạo. ThS Nguyễn Hữu An, Chi cục trưởng Chi cục BVTV An Giang lo ngại: “Việc sử dụng cần phun có nhiều “béc” hay phun nhiều lần thuốc/vụ lúa đều có tác dụng làm cây lúa bị “bội thực” hóa chất, bắc cầu cho sâu bệnh kháng thuốc, mà còn đe dọa đến “tập đoàn vi sinh vật” bên dưới mặt đất”. Theo ông An, điều này rất nguy hiểm, vì tập đoàn này chiếm đến 80% số vi sinh vật có lợi cho cây trồng. Vì vậy một vi sinh có lợi bị giảm “quân số”, người trồng lúa lại phải gia tăng phân, thuốc… để bù đắp. Cứ thế cây lúa, hạt gạo ngày càng lún sâu vào cái lòng luẩn quẩn của hóa chất độc hại. KHÔNG DỄ THAY ĐỔI Theo ThS Tuyên, để lấy lại niềm tin, vấn đề then chốt là phải thay đổi cách sản xuất theo khái niệm “xanh”. Tuy nhiên nhiều nhà nông học cho rằng đây là việc không dễ làm khi kết cấu sản xuất lúa-gạo ở ĐBSCL gần như đã và đang bị phá vỡ từ vai trò chủ đạo cho đến tư duy của một bộ phận nông dân. Nếu gọi sản xuất lúa gạo là cơ thể hoàn chỉnh thì giờ đây sự sống cơ thể ấy gần như phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp chuyên kinh doanh phân bón, thuốc BVTV. Điều này thể hiện qua các loại hình khuyến nông do các doanh nghiệp chủ động tổ chức dưới nhiều hình thức tài trợ hội thảo, truyền hình tư vấn kỹ thuật trồng lúa. Thật vậy, giờ đây các thuật ngữ sản xuất lúa giảm thuốc BVTV của ngành “Khuyến nông” ngày trước như: Quản ký dịch hại tổng hợp, không phun thuốc BVTV 40 ngày sau sạ… được biết đến dưới cái tên dễ nhớ: IPM, FPR… gần như đã nhường chỗ cho những lời khuyến cáo về sử dụng thuốc của doanh nghiệp. Và để thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mình, nhiều doanh nghiệp đã hướng dẫn người dân sử dụng hóa chất ngay khi cây lúa còn là hạt giống cho đến giai đoạn làm hạt. Thậm chí có doanh nghiệp còn bán kèm thuốc “phụ” cho nông dân tham gia chuỗi liên kết. Ông Nguyễn Văn Trãi, Giám đốc HTX Tân Cường (Tam Nông- Đồng Tháp) bức xúc: “Mỗi lần thăm đồng, bên cạnh việc kê toa thuốc trị sâu, bệnh họ thường kèm theo thuốc dưỡng bất chấp xã viên phản ứng. Tôi phải tìm cách bán ra ngoài”. Tuy nhiên theo nhiều nhà nông học, chính sự khuyến cáo này đã khơi mào cho một bộ phận “nông dân thích năng suất cao” lún sâu vào việc lạm dụng thuốc BVTV mà chuyện tiếp tục phun thuốc 4 loại thuốc lên lúa của anh Phú là một điển hình. Đáng nói là không chỉ “lúa xanh” không có đất sống mà “lúa chất lượng cao” cũng đang ngắc ngoải. Từng được biết đến như điển hình của mô hình trồng lúa VietGAP bởi không chỉ được Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ) tập huấn và chuyển giao quy trình sản xuất lúa theo hướng VietGAP, IRRI hỗ trợ dự án sau thu hoạch mà còn được Sở NNPTNT Đồng Tháp đầu tư xây dựng cánh đồng hiện đại từ năm 2010, thế nhưng giờ đây trên 1.000ha lúa của HTX Tân Cường (huyện Tam Nông - Đồng Tháp) không còn bóng dáng nào của GAP. Thậm chí khi chúng tôi hỏi: “HTX trồng lúa GAP năm nào?”, GĐ HXT Tân Cường Nguyễn Văn Trãi chỉ buông tiếng thở dài: “Không nhớ rõ, vì đã muốn quên từ lâu rồi”. Theo lời ông Trãi, khi Tân Cường trồng lúa GAP, có đến 3-4 doanh nghiệp đăng ký bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn thị trường 50-100đ/kg. Thế nhưng đến lúc thu hoạch thì tất cả đều tìm cách… không mua. Bị “trở mặt” vào “phút 90 + 1”, nông dân quáng quàng bán tháo cho thương lái. Sau lần “suýt chết” này, như “chim bị tên, sợ cả cành cong”, Tân Cường “cạch mặt” với GAP, quay trở lại nếp sản xuất cũ. Và đó không phải là trường hợp cá biệt của mô hình sản xuất chất lượng cao bởi lý do: “Chất lượng càng cao, đầu ra càng thấp”. CHẾT VÌ THIẾU HIỂU BIẾT Sau khi nghe cô cán bộ nông nghiệp xã Mỹ Phú (Châu Phú - An Giang) giới thiệu: “mùa lũ, ruộng ở đây ngập đến đầu gối”, đoàn cán bộ Trung tâm Nghiên cứu - Phát triển nông thôn - ĐH An Giang (RCRD) đơn vị được huyện Châu Phú đặt hàng khôi phục lúa mùa nổi (LMN), đã nhăn mặt. ThS Lê Thanh Phong, Phó giám đốc Trung tâm RCRD chia sẻ: “Đất ngập nông là thách thức lớn vì LMN chỉ thích hợp với vùng ngập lũ sâu”. Đây không phải là chuyện cá biệt của thực trạng trồng lúa chất lượng cao thời gian qua ở ĐBSCL. Sau khi nắm được thông tin: GAP là tốt, nhiều tỉnh, thành như quay trong guồng phát động nông dân thực hiện với suy nghĩ trồng tốt sẽ bán được giá tốt. Thấy địa phương này làm, địa phương khác cũng lao theo. “Chính kiểu tư duy đám đông của nhà quản lý đã dẫn lúa chất lượng cao đến chỗ chết, PGS.TS Nguyễn Tri Khiêm Trưởng khoa Kinh tế - Luật (Đại học Nam Cần Thơ) nhấn mạnh: “Bởi điều này đi ngược lại quy luật kinh tế và cách làm hiệu quả của nhiều quốc gia trên thế giới”. Theo ông Khiêm, ở nhiều nước, nhà quản lý chỉ “đặt hàng” nông dân trồng sau khi đã xác định được cái thị trường cần nên có những thông số rất cụ thể: áp dụng biện pháp canh tác nào, sản lượng, quy cách ra sao, thời điểm thu hoạch, chất lượng của từng lô gạo. Còn ở ta thì ngược lại, kêu gọi nông dân áp dụng GAP, hay gì gì đó nhưng không biết ai cần cái mình đang có và vào thời điểm nào với giá bao nhiêu… nên nông dân cũng mù mờ trồng cái mình sẵn có. Mặt khác do chỉ trồng theo kiểu lấy “thành tích” nên trên thực tế diện tích, sản lượng các mô hình này “chẳng ra làm sao”. VƯỢT BÁO ĐỘNG ĐỎ ThS Nguyễn Phước Tuyên (Sở NN-PTNT Đồng Tháp) - chuyên gia trong lĩnh vực sau thu hoạch lúa-gạo của ĐBSCL cho biết: Mức nhiễm “độc” của gạo hiện đã vượt quá mức “báo động đỏ” mà căn nguyên của vấn đề xuất phát từ tập quán lạm dụng thuốc BVTV. Theo ThS Tuyên, Hexaconazole là hóa chất được nhiều người biết qua tên thương mại là Anvil 5SC, Saizole 5SC, Annongvien 5 SC, Hexavil 5SC… có tác dụng như thuốc trị bệnh khô vằn. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều nông dân được quảng cáo và sử dụng thuốc này với mục đích làm xanh lá, tăng năng suất và làm mẩy hạt lúa nên thường phun khi cây lúa trổ đòng, tức khoảng 80 ngày tuổi. Điều này được xem như chủ động lưu tồn hoạt chất trong hạt gạo. ThS Tuyên giải thích: “Thời gian cách ly của Hexaconazole trên cây lúa là trên 20 ngày, nói cách khác, nếu không có đủ ít nhất 21 ngày trước thu hoạch thì xem như chúng ta đã tự tẩm hóa chất vào hạt gạo”. Theo BÁO LAO ĐỘNG
Kỳ 3: Hãi hùng "sầu riêng" tắm hóa chất Người ta nói “đi lượm sầu riêng”, không ai bảo “hái sầu riêng”. Nhưng bây giờ rất ít người được ăn sầu riêng chín rụng, mà chỉ có sầu riêng non tẩm hóa chất. PV Lao Động đã tận mắt thấy sầu riêng xanh non được thu hái đồng loạt, đem nhúng vào một loại hóa chất đặc quánh, vàng như nghệ, để vài ngày biến thành... sầu riêng “chín rụng”. Ăn của này có thể bị mờ mắt, ngạt thở, giảm trí nhớ... và những tai họa chưa lường được. Những ngày này, đi trên quốc lộ 26 - đoạn qua xã Ea Yông, huyện Krông Pắk - thấy cảnh mua bán, vận chuyển, đóng gói sầu riêng tấp nập. Cả một đoạn quốc lộ dài hàng chục cây số thường xuyên tắc đường bởi xe công nông, xe container, những vựa sầu riêng lấn ra đường. Dự án khu dân cư của Cty Thái Bình Dương ít người làm nhà ở, được tận dụng làm bãi tập kết sầu riêng, bãi đậu xe container không khác cửa khẩu Tân Thanh trên Lạng Sơn những lúc tắc hàng. Đây là năm thứ ba liên tiếp nhà vườn ở Krông Pắk “lên hương” nhờ sầu riêng. Ông Nguyễn Lộc - nông dân ở xã Ea Yông - phấn khởi nói: “Tôi có 2ha càphê, trước thấy người ta trồng xen cây sầu riêng vô cũng bắt chước trồng, giờ thu hoạch sầu riêng không cũng gần cả tỉ bạc”. Cũng như ông Lộc, không ít nông dân xây nhà lầu, sắm xe hơi rầm rầm ngay trong mùa sầu riêng này. Xếp theo thứ hạng, hiện sầu riêng đang là “cây vua”, ngang hàng với cây hồ tiêu. Còn càphê, caosu giờ chỉ lấy công làm lời, nuôi cây sống cầm cự chứ không ăn thua. ĂN SẦU RIÊNG NON TẨM HÓA CHẤT Nhưng khác với những năm trước, ngoài thương lái thu mua số lượng lớn, khách qua đường không dừng lại mua sầu riêng về làm quà mỗi khi đi qua đoạn quốc lộ này. Bởi chuyện thu hái sầu riêng xanh, nhúng hóa chất cho chín ở vùng này giờ ai cũng… kinh. Vào vườn cây đang thu hoạch của ông Nguyễn Văn Bảy - xã Ea Yông, tôi được chứng kiến sầu riêng cắt xanh đồng loạt, bỏ lên xe công nông chở ra hướng quốc lộ 26. Ông Bảy nói các đại lý, doanh nghiệp chỉ thu mua trái xanh rồi xử lý bằng thuốc, tính toán sao đó mà chở tới nơi bán sầu riêng mới chín. Chị N.T.Ng - hàng xóm của ông Bảy - nhìn chúng tôi một lượt từ đầu đến chân, hất hàm hỏi: “Nhà báo phải không”. Thấy chúng tôi không nói gì, chị Ng thì thầm nói: “Không biết ổng nói với mấy chú sao, chứ sầu riêng người ta từ lúc rụng đài hoa tới khi thu hoạch là 100 - 110 ngày, còn ổng mới 70 - 80 ngày đã hái hết rồi. Đem nhúng thuốc là chín hết, có mùi thơm vậy, nhưng trái non nên bóc ra chỗ nhão nhoét, chỗ sống sượng không ăn được đâu”. Chúng tôi bám theo một xe công nông từ vườn ông Bảy, chiếc xe ra quốc lộ 26 một đoạn rồi chạy tuột vào một cơ sở thu mua sát bên đường. Là nơi đóng gói sầu riêng, có diện tích khá lớn, nhưng cơ sở này dùng bạt che kín toàn bộ, đi trên quốc lộ không thể nhìn thấy các hoạt động bên trong. Bạn đồng nghiệp lái xe máy chở tôi chạy vào, bỗng khựng lại trước cổng khi thấy một bà to béo, da ngăm đen, mắt trắng, mặc đồ bộ ngồi chình ình giữa cửa quát: “Đi đâu”. Bạn tôi mới vào nghề, còn non gan nên vòng xe chạy mất... Vừa đi, bạn làu bàu: “Buôn trái cây mà giấu như chế biến thực phẩm bẩn...”. Chúng tôi trở ra khu Thái Bình Dương, gặp ông chủ dễ tính cho đứng xem, nhưng cấm quay phim. Khoảng 10 công nhân đang làm việc, họ phải đeo găng tay, bịt kín từ đầu đến chân để tránh... ngộ độc hóa chất. Những quả sầu riêng xanh được công nhân nhúng vào thùng dung dịch loại 30 lít, bên trong có hóa chất đặc quánh, vàng như nghệ. Nhúng xong họ đem xếp cho ráo nước, ngấm thuốc rồi cho vào thùng lên những chiếc container. Ông N.V.Ch - chủ cơ sở, là người Tiền Giang lên đóng chốt cho biết: “Đây là thuốc trái chín, loại 500ml, một chai như vậy pha với 20 lít nước. Sau khi ngấm thuốc, để khoảng 5 - 6 ngày là sầu riêng sẽ chín đều. Nhưng nếu giao hàng gấp, muốn chín nhanh hơn thì chỉ cần pha thuốc đậm đặc hơn, ngâm lâu hơn thôi”. Cũng theo ông Ch, khi cắt phải để nguyên cả cuống; sau khi chín vì ngấm thuốc, sầu riêng sẽ rụng cuống, để lại dấu cuống y như sầu riêng chín rụng. Với công nghệ tài tình này, chắc chắn người tiêu dùng không thể phân biệt được đâu là sầu riêng nhúng thuốc, đâu là quả chín tự nhiên. Chúng tôi hỏi công nhân phải bịt kín vậy, chắc là hóa chất kịch độc, người ta ăn sầu riêng vào người thì sao? Ông Ch cười sởi lởi: “Hổng có, xưa giờ có ai bị gì đâu, ăn ngon bình thường mà. Còn anh em công nhân người ta cẩn thận nên bịt vậy thôi, bởi nếu không thì có thể bị ngứa, cay mắt, tiếp xúc lâu thì khó thở chút thôi...”. Ông chủ nói hồn nhiên, chúng tôi nghe mà lạnh toát cả người. Bởi mới tháng trước đã xảy ra một vụ ngộ độc hóa chất tập thể tại Cty TNHH Kim Quý - xã Ea Yông, huyện Krông Pắk. Sáng 23.8, trong khi tẩm nhúng sầu riêng vào hóa chất để ép chín, nhiều công nhân bị cay mắt, chóng mặt, nôn ói. Phía Cty đưa họ đến một số cơ sở y tế kiểm tra, tối đó đưa họ về nhà, tránh tiếp xúc với báo chí và các đoàn kiểm tra. BẮT QUẢ TANG HÀNG LOẠT VỤ "TẮM" SẦU RIÊNG Tại các cửa hàng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ở huyện Krông Pắk bày nhan nhản các loại thuốc dạng lỏng có tên ETHREL 40% có xuất xứ từ Trung Quốc, rồi thuốc Trái chín HPC -97-HXN do một Cty có trụ sở tại TPHCM sản xuất. Tại nhiều cửa hàng, bên trên những tủ kính bày các loại hóa chất này, có biển quảng cáo ghi dòng chữ rõ to: “SẢN PHẨM CHUYÊN DÙNG CHO CÂY SẦU RIÊNG”. Giá mỗi chai chỉ từ 30.000 - 50.000 đồng, nhưng sức tiêu thụ rất lớn. Do vậy chỉ trong vòng 1 tháng qua, Cảnh sát môi trường (PC 49) Công an Đắc Lắc đã liên tiếp bắt quả tang 4 vụ “tắm” hóa chất cho sầu riêng. Đêm 6.9, PC49 phát hiện cơ sở thu mua sầu riêng Hương Sang - ở xã Ea Kênh, do ông Khổng Minh Sang làm chủ - đang nhúng sầu riêng xanh vào một loại dung dịch. Chủ cơ sở thừa nhận dung dịch này gồm phân bón lá nhãn hiệu Trái chín, nước, bột nghệ vàng. Cũng trong đêm 6.9, PC49 còn phát hiện hành vi tương tự tại cơ sở thu mua sầu riêng Huỳnh Mai ở xã Ea Kênh, cơ sở Rồng Hoa Thái ở xã Ea Yông. PC49 đã xử phạt mỗi cơ sở 30 triệu đồng, tiêu hủy hơn 1,4 tấn sầu riêng tẩm hóa chất. Sự việc chưa kịp lắng xuống thì tối 17.9, PC49 tiếp tục bắt quả tang cơ sở thu mua trái cây Lan Tươi - phường An Lạc, thị xã Buôn Hồ - đang “hô biến” sầu riêng non thành sầu riêng chín, với tang vật là 309kg sầu riêng cùng một số chai phân bón lá nhãn hiệu Trái chín. Một lãnh đạo PC49 Công an Đắc Lắc cho biết: “Từ chỗ hoạt động công khai, bây giờ họ tổ chức tẩm nhúng vào ban đêm, trong những cơ sở kín đáo nên rất khó phát hiện. Để bắt quả tang được một vụ, anh em phải mất nhiều ngày mai phục, theo dõi…”. Theo tìm hiểu của PV Lao Động, dung dịch HPC-97 HXN Trái chín - có chứa hoạt chất ethephon - không có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng theo Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22.2.2012 của Bộ NNPTNT. Nhưng hoạt chất ethephon lại được phép sản xuất dưới dạng phân bón với công dụng là kích thích caosu ra mủ, kích thích nhãn, vải, xoài, thanh long… ra hoa. Sau khi biết hoạt chất này có tác dụng sản sinh khí etylen xúc tiến trái cây chín nhanh, nhiều doanh nghiệp đã đăng ký sản xuất dưới dạng phân bón, nhưng ngầm hiểu với người sử dụng là ép chín trái cây. Nếu dùng quá liều lượng, chất này sẽ ảnh hưởng đến hệ thần kinh, mắt, da, phổi, trí nhớ hoặc gây thiếu oxy. Theo ông Trịnh Tiến Bộ - Trưởng phòng Trồng trọt, Sở NNPTNT Đắc Lắc - thì trên vỏ chai thuốc “Trái chín” chỉ ghi mỗi thành phần là etylen nên chưa thể khẳng định thuốc gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng như thế nào, phải chờ kết quả phân tích, kiểm nghiệm. Nhưng trước mắt có thể khẳng định chất lượng sầu riêng nhúng thuốc “Trái chín” kém hơn sản phẩm cùng loại chín tự nhiên. Theo BÁO LAO ĐỘNG
Kỳ 4: Rau trái – bất an và bất thường “Bây giờ dịch bệnh dữ lắm nên 3 ngày là tôi pha trộn 3-4 thứ thuốc để phun một lần, và sau mỗi lần phun là tôi đổi thuốc mới để tránh bị “lờn”… thuốc” - anh Lê Văn Kề (ấp Long Bình, Long Kiến, Chợ Mới, An Giang) khiến chúng tôi chết lặng khi cho biết quy trình thu hoạch ớt là 4 ngày/lần. Bởi với thời gian này, khi đến người tiêu dùng, trái ớt ngậm cả chục loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đang trong thời kỳ “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn”… MỖI VỤ ỚT PHUN CẢ CHỤC LOẠI THUỐC Mây đen kịt báo hiệu sắp mưa lớn, vậy mà anh Lê Văn Kề (Long Bình, Long Kiến) hối vợ phụ mang thuốc BVTV để phun lên 2 công (2.000m2) ớt cạnh nhà. Thấy lạ, tôi bám theo và tận mắt chứng kiến toàn cảnh buổi “tắm” hóa chất lên cây trồng. Từng bước thật chậm rãi, anh Kề lia cần phun có 5 chiếc “béc” vào tận ngóc ngách… nên từ lá, trái đến thân cây ớt ướt như… tắm. Nhưng chỉ một loáng, những giọt nước li ti ấy đồng loạt chuyển sang màu trắng đục… khiến toàn thân cây ớt như được rắc đều lớp bột. “Trời sắp mưa mà phun, thuốc trôi hết… uổng quá anh!”, sau câu gợi chuyện của chúng tôi, anh Kề ngước mắt lên bầu trời xám xịt rồi buông tiếng chặc lưỡi có vẻ… khó xử: “Bây giờ dịch bệnh dữ lắm, 3 ngày là phải xịt 1 lần, hôm nay tới “cữ”, không phun không được”. “Thường mình phun thuốc gì?”. “Làm sao nhớ hết. Mỗi lần phun là mỗi lần đổi thuốc. Một vụ ớt phun cả chục lần” - anh Kề thật lòng: “Tôi chỉ biết khai bệnh rồi cửa hàng kê toa, bán thuốc. Mà cũng toàn là tiếng tây, tiếng TQ lạ hoắc nên tui cũng không nhớ”. Đây cũng là “chuyện thường ngày” ở vùng trồng rau màu ĐBSCL. Mỗi khi phát hiện cây trồng có dịch bệnh, nông dân đến cửa hàng nông dược gần nhà, kể lại triệu chứng để nơi đây định ra thuốc. Thường là cửa hàng kê bao nhiêu, nông dân nhận bấy nhiêu, nhưng phần lớn là mỗi lần có đến vài ba loại thuốc. Thậm chí với nhiều nông dân “kỹ tính” như anh Kề, sau mỗi lần phun, là đề nghị cửa hàng đổi “toa” mới để dịch bệnh không bị “lờn” thuốc. Tuy nhiên với anh Kề, điều này “chưa có gì”, bởi cũng như phần lớn người trồng rẫy ĐBSCL, “thủ phủ” rau màu của cả nước, hằng ngày anh còn làm nhiều điều dữ dằn hơn thế… GÌ CŨNG NHIỄM “Một lần hút hàng, lái đến hỏi mua đám cải tôi vừa sạ được 20 ngày. Do còn gần tháng mới tới kỳ thu hoạch, nên tôi từ chối” - anh Kề nhớ lại: “Nhưng khi biết được, chủ cửa hàng thuốc BVTV gần nhà đã đưa viên thuốc hình tròn màu trắng có giá 38.000đ/viên và khuyên tôi nhận lời với cam kết: Không hiệu quả không lấy tiền”. Chiều hôm đó, anh Kề phun 1 viên/công như chỉ dẫn, sáng ra thân cải dài, to lớn như đúng độ thu hoạch và mập mạp hơn tất cả những lứa cải anh trồng đủ ngày, đủ tháng trước đó. Do không đọc được chữ TQ trên bao thuốc, nên cũng như nhiều nông dân ở đây, anh Kề nôm na đó là “thuốc vượt”, tức thuốc làm cho cây trồng vươn lóng, vượt lên khác thường”. Sau thành công với thuốc giá rẻ đã nhanh chóng đưa anh Kề “bén duyên” và gắn bó với thế giới thuốc “thần kỳ” này. Bởi bên cạnh thuốc vượt, còn có “phì” làm cho dưa leo, bầu bí, hay rau cải to tròn, non mướt sau một ngày phun thuốc. “Thấy cũng ớn ớn, nhưng nhìn quanh ai cũng dùng, mình không dùng thì khó bán được hàng” - anh Kề thật lòng. Đó không phải là lời nói đùa. Kết quả thu mẫu giám sát năm 2014 của Chi cục Quản lý chất lượng nông-lâm và thủy sản - Sở NNPTNT An Giang (Chi cục QLCLNLTS) đã phát hiện 3/19 mẫu rau (thông dụng) nhiễm dư lượng thuốc BVTV. Theo lãnh đạo chi cục, con số này chưa phản ánh đầy đủ thực trạng phức tạp và nhạy cảm của lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên rau màu, vì các đợt giám sát được tuân thủ theo nguyên tắc: “Thông báo trước” nên đơn vị được kiểm tra có bước “chuẩn bị”. Tuy nhiên, kết quả phân tích cho thấy mức độ nhiễm “độc” là vô cùng “khủng khiếp”. Chi cục trưởng Chi cục QLCLNLTS Ngô Đình Sỹ cho biết: “Mức giới hạn cho phép chất carbendazim trong rau họ cải là 2mg/kg, nhưng kết quả phân tích cho thấy dư lượng này trên rau diếp cá lên đến 188,1mg/kg, mồng tơi là 38,68mg/kg”. Thậm chí nhiều trường hợp mức độ “bẩn” còn “năm sau cao hơn năm trước”. Năm 2013, Báo Lao Động có bài “Phát “sốt” với đặc sản thốt nốt” (22.5.2013) phản ánh nạn lạm dụng hóa chất trong quá trình khai thác nước thốt nốt nguyên liệu tại huyện Tịnh Biên (An Giang). Đến năm 2014, Chi cục QLCLNLTS tiếp tục phát hiện 100% mẫu đường thốt nốt ở đây (6/6) nhiễm SO2 (lưu huỳnh dioxide) với mức độ cực kỳ… báo động, có trường hợp vượt giới hạn tối đa lên đến gần 20 lần (792,90mg/kg/40mg/kg). Điều đáng nói là nạn sản xuất “bẩn” cũng dây dưa và dai dẳng tại vùng nguyên liệu của DN xuất khẩu. Sau nhiều lần xử lý nội bộ không đủ sức răn, năm 2013 Cty CP Rau quả thực phẩm An Giang (ANTESCO) chủ động đưa lên phương tiện truyền thông nạn lạm dụng thuốc kích thích (cypermethrin và difecconazole) vượt mức cho phép hàng chục lần (16.22mg/kg so với mức cho phép là 0,5mg/kg) để tăng trọng đậu nành rau tại vùng nguyên liệu HTX nông nghiệp Thành Lợi (Châu Phú, An Giang) với hy vọng búa rìu dư luận sẽ góp phần “hạ nhiệt”… “Tuy nhiên đến nay câu chuyện này vẫn cứ lặp đi lặp lại với mức độ phức tạp hơn” - TGĐ ANTESCO Huỳnh Quang Đấu chia sẻ. BẤT AN VÀ BẤT THƯỜNG Sau lần tiêu hủy trên 1.300kg đậu nành rau vì nhiễm dư lượng thuốc BVTV vào năm 2013 làm thiệt hại tiền bạc, ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng, cuối năm 2014, ANTESCO lại tiếp tục bồi thường cho đối tác vì HTX Thành Lợi giao thiếu hợp đồng hơn 300 tấn đậu nành rau do một số nông dân sử dụng thuốc BVTV không đảm bảo thời gian cách ly. “Bồi thường trên 700 triệu đồng, nhưng quan trọng hơn là uy tín trên thương trường của Cty bị ảnh hưởng…” - ông Đấu bức xúc. Không dừng lại ở đó, nạn sản xuất “bẩn” còn dồn đẩy DN xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn trong việc thu mua nguyên liệu. “Mỗi năm Cty xuất khẩu 1.000 tấn sản phẩm nấm rơm, dù tại chỗ và các tỉnh lân cận có vùng nấm rơm nguyên liệu lớn, nhưng Cty phải lặn lội xuống tận vùng sâu Sóc Trăng để mua” - ông Đấu tiếc rẻ. Đi xa, chi phí tăng thêm, lợi nhuận giảm xuống, nhưng ANTESCO không thể làm khác hơn vì phần lớn nấm rơm tại các địa phương vựa lúa “nhạy cảm” với dư lượng thuốc BVTV. Thậm chí dù đang nằm giữa vùng trọng điểm trái cây của cả nước, trong đó có xoài, nhưng để chế biến xoài xuất khẩu, ANTESCO phải ra tận miền Trung đặt mua nguyên liệu. Vì sao có chuyện trớ trêu này? “Chủ yếu là vì an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngoài đó, bà con ít lạm dụng thuốc BVTV như các tỉnh quanh đây” - ông Đấu giải thích. Vì vậy nếu không có biện pháp can thiệp hữu hiệu, vấn nạn này sẽ làm bùng phát thiệt hại trên diện rộng. “Việc đưa thuốc tăng trọng vào nông sản, có thể mang về cho nông dân chút ít lợi ích tăng thêm, nhưng với quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp và trông cậy đầu ra vào cánh cửa xuất khẩu như Việt Nam thì điều này sẽ không dừng lại ở chỗ việc nông sản bị trả về, hay bị đưa vào danh sách hạn chế, mà còn dẫn đến khả năng bị “cấm cửa” …” - PGS-TS Nguyễn Tri Khiêm - Trưởng khoa Kinh tế - Luật (ĐH Nam Cần Thơ) - nhấn mạnh. Người Việt Nam đang sợ hãi và “xa lánh” rau trái do mình sản xuất vì những ám ảnh bệnh tật nan y, và Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị nhiều nhà nhập khẩu nông sản từ chối vì sản phẩm “bất an”… nhưng thực tế cho thấy các mô hình rau, trái an toàn lại rất khó tìm được chỗ đứng. Đây là điều không bình thường, thậm chí là vô cùng bất thường đối với quốc gia thế mạnh và chủ yếu sống nhờ vào nông nghiệp như Việt Nam. Và bất thường hơn khi vấn đề đã nhiều lần được cảnh báo, mổ xẻ trên các phương tiện truyền thông, tại nhiều diễn đàn khoa học, thậm chí trở thành “tâm điểm” tại nhiều nghị trường, nhưng rau trái vẫn tiếp tục là nỗi lo ngay ngáy của toàn xã hội… CẢ NƯỚC CÓ 200 ĐIỂM Ô NHIỄM DO TỒN LƯU THUỐC BVTV Ông Hồ Kiên Trung - Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường (Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường) - cho biết: “Việc sử dụng ngày càng nhiều các chất hữu cơ gây ô nhiễm khó phân hủy và các loại hóa chất BVTV có độc tính cao, đã làm cho mức độ tồn lưu dư lượng các loại hóa chất này trong nông sản, thực phẩm, đất, nước, không khí và môi trường ngày càng lớn. Các vụ ngộ độc thức ăn bởi hóa chất BVTV, các loại bệnh tật do ô nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng và trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nước ta”. Theo kết quả điều tra của Bộ TNMT, tính đến tháng 6.2015 có 1.562 điểm tồn lưu do hóa chất BVTV trên 46 tỉnh, thành phố, trong đó có khoảng 200 điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa chất BVTV có mức độ rủi ro cao, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Theo BÁO LAO ĐỘNG
NGƯỜI VIỆT TỰ ĐẦU ĐỘC NGƯỜI VIỆT Kỳ 5: Thịt, cá – vừa ăn vừa run Trung bình mỗi năm, một lượng lớn thủy sản của Việt Nam, chủ yếu là cá ba sa và tôm trị giá hơn 14 triệu đô la bị các thị trường nhập khẩu trả lại do nhiễm bẩn. Cũng rộ lên thông tin, các doanh nghiệp Việt Nam đã tìm cách “xả” những lô hàng này ra thị trường nội địa... "HOÀNG ĐẾ" CŨNG Ế Về An Giang, thủ phủ của cá tra, vào thời cao điểm lũ, nhưng trước mắt chúng tôi, người nuôi cá tra nơi đây như ngồi trên đống lửa. Vừa điều hành công nhân chuẩn bị trị bệnh cho ao cá tra gần 1 ha, ông Nguyễn Hữu Nguyên, Chủ nhiệm HTX Thủy sản Châu Phú (huyện Châu Phú) vừa điện thoại, rồi phân bua với chúng tôi: “Hơn 100 tấn cá quá lứa, kêu bán lỗ, vẫn chưa có người mua, lại phải tốn tiền thức ăn, điều trị bệnh…”. “Sao không kêu bán hồi mới vào chuẩn mà để đến nông nỗi này?”, chúng tôi khơi chuyện. Ông Nguyên cay đắng trả lời về vụ cá khó khăn nhất trong sự nghiệp của mình: “Biết tình hình khó, nên trước thời điểm cá đạt trọng lượng 700-800g, tôi gọi đến nhiều doanh nghiệp “đặt chỗ”, rồi cậy nhờ mấy anh lãnh đạo Hiệp hội Thủy sản An Giang (AFA), lãnh đạo huyện, tỉnh đánh tiếng thêm, nhưng chẳng ai ngó ngàng”. Phó Chủ tịch AFA Lê Chí Bình, xác nhận: "Cứ vài ngày anh Nguyên điện thoại đến, nhưng chúng tôi không giúp được vì phần lớn các doanh nghiệp cũng đang gặp khó với cá nguyên liệu trong vùng nuôi của chính mình. Đây cũng là tình cảnh mà hàng trăm người nuôi cá tra tại các vùng trọng điểm như Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long… đang đối mặt". Vì sao từ chỗ được ví như “Hoàng đế” vì chất lượng vượt trội, cá tra lại ế đến vậy? Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị cho rằng, cốt lõi vẫn là do nhà nhập khẩu mất tín nhiệm vì chất lượng tuột dốc. Do phát triển nóng, công suất các nhà máy chế biến cá tra cao hơn 2 lần nhu cầu thị trường, nên nảy sinh cạnh tranh nội bộ. Nhưng nhiều doanh nghiệp đã cạnh tranh không lành mạnh bằng chiêu hạ giá bán. Để bù đắp vào khoản này, trong bối cảnh giá xuất khẩu liên tục giảm (từ 5USD/kg năm 1998 đến nay đang dao động 1,8-2,4 USD/kg), các doanh nghiệp dùng chiêu tăng trọng lượng ảo. “Thay vì chỉ dùng để ngăn quá trình mất nước làm xấu miếng phi lê khi đông lạnh, nhiều doanh nghiệp đã đẩy tỷ lệ tăng trọng và mạ băng đến 80-90%, thậm chí nhiều hơn cả trọng lượng miếng cá”, ông N…B - một người thâm niên trong lĩnh vực xuất khẩu cá tra Việt Nam - bật mí. TS Võ Hùng Dũng, Phó chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam thừa nhận: “Nhiều doanh nghiệp nước ngoài kêu, sau khi rã đông, phi lê cá tra Việt Nam bèo nhèo như miếng kem chuối bị cúp điện!”. BỔ DƯỠNG THÀNH … BỔ NGỬA “Dịch bệnh bây giờ phức tạp lắm, nên nuôi cá tra cũng sử dụng thuốc phòng, trị nhiều hơn”, ông Nguyễn Văn Tưởng (ấp Khánh Lợi, xã Khánh Hòa-Châu Phú-An Giang) chia sẻ. Dù có trên 20 năm kinh nghiệm, nhưng mấy năm nay, vụ cá nào ông Tưởng cũng phải rước “thầy” từ các công ty thuốc nổi tiếng về hỗ trợ với tổng số tiền thuốc tăng gấp 3-5 lần so với trước. Điều này không chỉ lấy đi lợi nhuận của người nuôi mà còn để lại nhiều nguy cơ về an toàn thực phẩm. Theo các chuyên gia thủy sản, đây chính là căn nguyên để các cơ quan chức năng nước ngoài liên tục phát hiện và trả về nhiều lô phi lê cá tra Việt Nam do có dư lượng kháng sinh vượt mức cho phép… Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), mỗi năm, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, chủ yếu là cá tra và tôm bị thiệt hại hơn 14 triệu đô la vì bị thị trường nhập khẩu trả về do nhiễm bẩn và dư lượng thuốc thú y. Và cũng như nhiều mặt hành nông sản khác, sau khi bị trả về, các doanh nghiệp lại âm thầm “xả” ra thị trường nội địa. “Cá tra, basa là món quà thiên nhiên hào phóng ban tặng cho ĐBSCL. Bởi ngoài khả năng thích nghi với đặc thù địa lý nơi đây, cá tra còn cho thịt thơm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là axít béo omega-3 (tiền thân của chất DHA được xem là chất bổ não, ngăn ngừa ung thư), nhưng do sản xuất, chế biến thiếu trách nhiệm mà thực phẩm bổ dưỡng này đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ khiến người tiêu dùng bổ… ngửa”, GS.TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng ĐH Nam Cần Thơ tỏ vẻ tiếc rẻ: “Điều này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn xâm hại đến sức khỏe giống nòi”. Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là giới hạn cuối cùng mà người tiêu dùng đối mặt. Ông N…B mang miếng cá rã đông, đưa vào nồi nấu. Một loáng sau, nước trong nồi ngầu đục rồi liên tiếp phụt lên chuỗi bọt như xà phòng… “Lúc này miếng cá như... dừa nạo đã vắt nước cốt, vì các dưỡng chất và cốt thịt bị lôi kéo ra ngoài do các tế bào đã vỡ do bị trữ đông quá lâu - ông N…B nói - Giới hạn tối đa trữ đông đối với mặt hàng phi lê cá tra là 3 năm, nhưng do vận hành thiếu khoa học, nên nhiều doanh nghiệp để xảy ra tình trạng lô hàng bị “nhốt” đến 5-6 năm, thậm chí là 10 năm, sau đó họ đem bán ra thị trường nội địa..." (Theo nghi nhận của PV, dù bày biện giữa không gian rộng lớn, nhưng hầu như cả chợ khô Châu Đốc không có bóng dáng của ruồi và kiến) THỊT CÁ, KIỂM LÀ "TÁ HỎA" Không chỉ có cá tra mà còn rất nhiều sản phẩm thịt, cá đang lưu hành hiện nay nếu tiến hành thanh tra, kiểm tra đều “tá hỏa” vì mức độ nhiễm và mất an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó có cả chất cấm. Ngay ở địa phương có số mẫu đạt yêu cầu “tăng đáng kể” như An Giang, Đồng Tháp cũng tồn tại nhiều con số đáng ngại. Chi cục phó Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản An Giang Trần Văn Nhì cho biết: "Năm 2014, kiểm tra 25 mẫu thủy sản khô thì phát hiện 13 mẫu bị nhiễm”. Không chỉ các sai phạm như, vượt giới hạn cho phép đối với vi khuẩn Staphylococcus, vi khuẩn E.coli… người ta còn phát hiện cả chất Trichlofon với nồng độ báo động đỏ (20.023,96 µg/kg) trên khô cá sặc rằn. Đây là hóa chất dùng để làm thuốc trừ sâu, diệt côn trùng, cấm sử dụng trong chế biến thực phẩm. Chất này được các chủ cơ sở bán khô phun, tưới thường xuyên lên miếng khô để chống côn trùng, nhất là ruồi và kiến “tấn công” lên khô. Và để chứng thực lời nói thật của mình, một bạn đồng nghiệp địa phương đưa chúng tôi đến chợ khô Châu Đốc (phường Châu Phú “A”- Tp Châu Đốc) để mục sở thị. Chiếm trọn cả khu nhà lồng là cả một "rừng" khô với đủ các loại cá, nên chợ khô Châu Đốc nồng nặc mùi đặc trưng. Hầu hết "rừng" khô này được bày thẳng giữa chợ, không được đậy điệm. Rảo một vòng, chúng tôi không hề phát hiện hình ảnh “ruồi bu, kiến đậu” nào lên những miếng khô. “Nhờ Trichlofon”, bạn đồng nghiệp quả quyết. Việc liên tiếp phát hiện sản phẩm cá khô ở An Giang nhiễm Trichlofon trong nhiều năm qua đã nhắc nhớ chúng tôi không được đồng lõa với sai phạm ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, thậm chí tính mạng người tiêu dùng. “Sau hai năm liên tiếp 2011, 2012 phát hiện sản phẩm khô cá của các cơ sở sản xuất ở ấp An Thái (Hòa Bình-Chợ Mới) nhiễm Trichlorfon với hàm lượng cao (8.446,77µg/kg - 13.413µg/kg), mới đây, chúng tôi trở lại tái kiểm và tiếp tục phát hiện sản phẩm cá khô nhiễm Trichlorfon”, một vị lãnh đạo Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và thủy sản An Giang bức xúc: “Thậm chí có đến 6/8 cơ sở bất hợp tác bằng cách đóng cửa cơ sở lại không tiếp đoàn kiểm tra”. Trong khi đó ở Đồng Tháp, diễn biến thịt, cá nhiễm bẩn cũng khá phức tạp theo hướng “năm sau cao hơn năm trước”. Nhất là mặt hàng thịt heo. Theo Chi cục trưởng chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và thủy sản Đồng Tháp Phạm Minh Quyền, 9 tháng đầu năm 2015, kiểm tra 6 mẫu đã phát hiện 5 mẫu nhiễm Salmonella, tăng trên 30% so cùng kỳ năm 2014. “Đây là vi sinh không được phép có trong thịt heo”, ông Quyền cho biết thêm. THU GIỮ HƠN 100 KG TIM LỢN ĐÃ MỐC XANH Ở HÀ NỘI Ngày 2.10, Đội 4 - Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường (PC49, Công an thành phố Hà Nội) phối hợp Thanh tra Sở NN&PTNT Hà Nội kiểm tra, phát hiện 3 hộ kinh doanh bán tim lợn mốc xanh tại chợ Phùng Khoang (phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội). Tại thời điểm kiểm tra, đoàn công tác phát hiện 3 hộ kinh doanh gồm: Nguyễn Thị Thanh; Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Khâm đang kinh doanh hơn 100kg tim lợn nhập khẩu nhưng không có hóa đơn chứng minh nguồn gốc xuất xứ và đang có màu đen, mốc xanh, có dấu hiệu cấp đông lại... Các chủ kinh doanh khai nhận, tim lợn đông lạnh được các hộ kinh doanh nhập về không rõ nguồn gốc để bán cho người tiêu dùng. Đoàn công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời giao cho lực lượng Thú y quận Nam Từ Liêm chịu trách nhiệm tiêu hủy số tim lợn trên. Theo BÁO LAO ĐỘNG
NGƯỜI VIỆT TỰ ĐẦU ĐỘC NGƯỜI VIỆT Kỳ 6: Chè "ngấm độc" gây rúng động dư luận Thông tin phía đối tác Đài Loan (TQ) vừa trả lại 80 tấn chè cho các doanh nghiệp Lâm Đồng vì dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong sản phẩm vượt quá ngưỡng cho phép vào giữa tháng 7 vừa qua, và cũng với nguyên nhân trên, hơn 2.000 tấn chè khác của các doanh nghiệp Lâm Đồng hiện đang tồn kho, không thể xuất đi Đài Loan, một lần nữa gây chấn động dư luận. Điều đáng nói, người trồng chè ở Lâm Đồng đã và đang bơi trong mê hồn trận thuốc BVTV, khi họ không thể biết sử dụng loại nào là “đúng ngưỡng”, loại nào là “vượt ngưỡng”… NỔI TIẾNG KÈM THÊM TAI TIẾNG Bây giờ thì chè của Lâm Đồng - địa phương dẫn đầu Việt Nam về diện tích và sản lượng với gần 24.000ha và 230.000 tấn/ năm, ngoài sự nổi tiếng đã kèm thêm tai tiếng với các cụm từ “chè bẩn”, chè “nhiễm độc”, thậm chí cả “chè dioxin” dù Lâm Đồng nói riêng và Nam Tây Nguyên nói chung không có hệ lụy với dioxin trong chiến tranh chống Mỹ. Đây không phải lần đầu chè Lâm Đồng bị đối tác từ chối vì dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, cụ thể dư lượng của hoạt chất fipronil vượt ngưỡng cho phép (trong năm 2014 và giữa 2015 có đến hàng trăm lô bị trả lại). Và gần đây nhất trước “vụ” Đài Loan, chè của chúng ta khi xuất sang EU cũng bị từ chối bởi hai hoạt chất acetamiprid và imidacloprid. Cả 3 loại hoạt chất này có trên cây chè của Việt Nam đều được xếp vào nhóm “độc II”, theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Tiến sĩ Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, tác giả của 2 giống chè mới của Việt Nam - bắt đầu bằng giọng bùi ngùi: “Thực tình, tôi không tin nhà nông và doanh nghiệp Lâm Đồng cố tình làm ra những sản phẩm mang tiếng ấy. Bởi, với vùng nguyên liệu quá dồi dào và với một khả năng canh tác được đánh giá là “làm bằng cái đầu” như thế, không có lý do gì để những người nông dân ở Lâm Đồng sinh ra một thứ sản phẩm trà kém chất lượng! Về phía doanh nghiệp, trong thời buổi hội nhập, họ thừa hiểu sản phẩm của họ nếu “dưới chuẩn” thì chắc chắn chỉ có ôm nợ vì bị tẩy chay. Tôi cho rằng, những người trồng và chế biến chè ở Lâm Đồng đã chủ quan trong việc sử dụng thuốc BVTV có chứa ba loại “độc II” chứ không phải cố tình “đầu độc” người tiêu dùng”. CẦN PHẢI NÓI KHÔNG VỚI FLIPRONIL Theo Tiến sĩ Phạm S, sau các sự cố liên tiếp về chè, chính quyền tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức ít nhất 3 hội nghị, hội thảo mang tính chuyên đề với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các doanh nghiệp và cả đại diện của những hộ nông dân trực tiếp sản xuất chè. Và giải pháp khắc phục là, thay vì sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có chứa các hoạt chất fipronil, acetamiprid và imidacloprid hiện có trên thị trường thì chúng ta dễ dàng tìm thấy hàng loạt thuốc có cùng một tác dụng nhưng dưới tên thương phẩm khác và hoàn toàn không chứa 3 hoạt chất “độc II” đó. Về vấn đề này, ông Lại Thế Hưng, Chi cục trưởng Chi cục BVTV Lâm Đồng - cho biết: “Ngay từ đầu năm 2013, khi trà Việt Nam có “vấn đề” ở thị trường EU, Cục BVTV đã đưa ra khuyến cáo bằng văn bản “Sử dụng thuốc BVTV thay thế các thuốc có hoạt chất acetamiprid và imidacloprid trên cây chè” (văn bản số 885/BVTV-QLT ngày 3.5.2013). Để đáp ứng yêu cầu đối với chè xuất khẩu, Cục BVTV đề nghị các chi cục BVTV khuyến cáo các địa phương và nông dân không sử dụng và kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất acetamiprid, imidacloprid tại các vùng sản xuất chè, đồng thời hướng dẫn sử dụng các thuốc BVTV khác có trong danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam để thay thế”. Về hoạt chất fipronil, nguyên nhân chính mà Đài Loan thải loại trà của Việt Nam là do dư lượng của loại “độc II” này vượt ngưỡng 0,002ppm (ppm: một phần triệu) - mức giới hạn cho phép của Đài Loan. Ông Lê Văn Minh - GĐ Sở NNPTNT Lâm Đồng - chia sẻ: “Việc thay thế bằng các loại thuốc BVTV không chứa hoạt chất fipronil trong sản xuất chè nguyên liệu ở Lâm Đồng là việc làm trong tầm tay. Bởi vậy, sự cố một số lô trà xuất khẩu của Lâm Đồng bị thải loại hồi đầu năm có phần do sự chủ quan của các cơ sở sản xuất. Vấn đề đặt ra trong lúc này là Lâm Đồng cần nói không với fipronil! Hiện, Sở chúng tôi đã xây dựng kế hoạch hành động quản lý dư lượng thuốc BVTV trên cây chè giai đoạn 2015 - 2020. Theo đó, từ nay đến 2016, hoạt chất fipronil sẽ được loại bỏ hoàn toàn ra khỏi sản phẩm trà, nhất là đối với sản phẩm trà xuất khẩu”. MÊ HỒN TRẬN THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Là chính quyền nói thế, nhưng thực tế rất đáng quan ngại là hiện nay, người trồng chè ở Lâm Đồng rơi vào mê hồn trận của các loại thuốc BVTV: Họ không thể phân biệt đâu là thuốc BVTV có chứa 3 loại “độc II” và đâu là thuốc có thể thay thế. Theo Chi cục BVTV Lâm Đồng, chỉ riêng “độc II” fipronil thì hiện có đến 8 loại thuốc BVTV thương phẩm được đăng ký dùng phòng, trừ sâu bệnh trên cây rau, 17 loại đăng ký sử dụng trên cây chè, 167 loại sử dụng cho cây lúa... Còn trên các loại cây quýt, cam, xoài, nhãn... thì cứ gọi là nhan nhản thuốc BVTV “độc II”. Xin ghi lại vài dòng một văn bản của Chi cục BVTV Lâm Đồng: “Cơ quan Bảo vệ môi sinh Hoa Kỳ (US.EPA) đã xếp fipronil vào nhóm có nguy cơ gây ung thư (Group C - possible human carcinogen). Việc tiêu thụ trong thời gian dài hoặc quá mức sản phẩm có chứa fipronil gây nên khả năng gia tăng tế bào khối u tuyến giáp, gan và ảnh hưởng đến thận”. Còn với 2 hoạt chất acetamiprid và imidacloprid, cũng theo tài liệu của Chi cục BVTV Lâm Đồng, theo quy định của EU, trên cây chè, dư lượng hoạt chất acetamiprid tối đa cho phép là 0,1mg/kg và imidacloprid là 0,05mg/kg...”. Ở nước ta, hai hoạt chất này cũng đang nhan nhản trong hàng trăm loại thuốc BVTV được phép lưu hành. Một vài số liệu đáng quan tâm về sản xuất trà ô long do Chi cục BVTV Lâm Đồng ghi nhận được: Hiện, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 40 công ty sản xuất (trồng) chè ô long và 47 công ty chế biến và kinh doanh trà ô long; hiện cả tỉnh có 1.645ha chè ô long, trong đó có 334ha được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và Organik. Ông Lại Thế Hưng - Chi cục trưởng Chi cục BVTV Lâm Đồng, cho biết: Trong 6 tháng đầu năm 2015, Chi cục đã lấy 18 mẫu chè tại 12 công ty sản xuất và chế biến trà ô long để phân tích dư lượng thuốc BVTV (gồm 6 mẫu chè búp tươi và 12 mẫu trà thành phẩm). Kết quả cho thấy: 6 mẫu chè búp tươi, qua phân tích định lượng đối với 7 chỉ tiêu thì có đến 4 mẫu (66,67%) có dư lượng 3 loại thuốc BVTV vượt ngưỡng cho phép so với tiêu chuẩn EU, trong 3 loại thuốc này có hai loại acetamiprid và imidacloprid. KHÔNG KIỂM SOÁT ĐƯỢC ĐỘC TỐ TRONG CHÈ DÙNG NỘI ĐỊA Trong khi việc kiểm soát chè xuất khẩu ở Lâm Đồng được tăng cường từ khâu đầu đến khâu cuối (nhưng vẫn cứ “dính” dư lượng thuốc BVTV vượt ngưỡng) thì ngược lại, chất lượng chè nội tiêu (mỗi năm, thị trường nội địa tiêu thụ khoảng 80.000 - 90.000 tấn) lại có phần dễ dãi, nếu không muốn nói là không kiểm soát được độc tố. Hiện Lâm Đồng đã đưa ra “chỉ tiêu” đến năm 2016, trong sản phẩm chè từ nguyên liệu đến thành phẩm phải được loại trừ hoàn toàn các hoạt chất “độc II” fipronil, acetamiprid và imidacloprid. Tuy nhiên, trước một thực tế như trên vừa đề cập là người trồng chè vẫn đang lạc vào “mê hồn trận” thuốc BVTV như hiện nay thì từ chủ trương đến hiện thực lại là một khoảng cách khá xa, trong khi về thời gian, từ nay đến 2016 lại là quãng thời gian không còn dài. MỖI NĂM CÓ 200.000 TẤN THUỐC BVTV NGẤM VÀO MÔI TRƯỜNG Đây là con số được đưa ra tại Hội thảo Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tổ chức tại Hà Nội trong 2 ngày 29 và 30.9 vừa qua. Tại hội thảo, GS-TS Đặng Kim Chi (Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam) cho rằng: “Tình trạng sử dụng ngày càng tăng thuốc BVTV và phân bón hóa học (PBHH) đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường. Đối với cây lúa, hàm lượng sử dụng phân lân và kali khá cao (gấp trên 6 lần so với mức khuyến cáo), trong khi theo kết quả nghiên cứu về quá trình hấp thụ phân bón trong trồng trọt cho thấy, hầu hết các cây trồng chỉ hấp thụ được khoảng 40 - 50% lượng phân bón. Trong khi đó, từ năm 2008 đến nay, PBHH và thuốc BVTV được sử dụng tăng trung bình khoảng 481.167 tấn/năm. Như vậy, nếu không có biện pháp quản lý thì dư lượng thuốc BVTV có thể ngấm vào môi trường là 192.467 - 240.583 tấn/năm”. Theo BÁO LAO ĐỘNG
NGƯỜI VIỆT TỰ ĐẦU ĐỘC NGƯỜI VIỆT Kỳ 7: Vỗ béo lươn bằng thuốc tránh thai Hôm nọ, một người bạn ghé tai chúng tôi thì thầm: “Bây chừ đàn ông, phụ nữ ở xứ Nghệ mình không cần phải dùng bao cao su hay thuốc tránh thai nữa vì đã có trong con lươn, chỉ cần ăn cháo lươn, miến lươn… là được!”. Bán tín bán nghi trước thông tin lươn “uống” thuốc tránh thai, chúng tôi đã hỏi một dược sĩ chuyên khoa I và một giáo sư, tiến sĩ nông học, cả hai đều cho rằng đó là chuyện hoang đường. Bởi vậy, chúng tôi sững người khi được chủ một trại nuôi lươn ở huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) hồn nhiên hướng dẫn một cách tường tận cách cho lươn ăn thuốc tránh thai của người để tăng năng suất. THUỐC CỦA NGƯỜI, DÙNG CHO CẢ LỢN Ông T.N.D ở xã H.T (huyện Hưng Nguyên) được cho là một mô hình nuôi lươn trong bể không bùn đạt hiệu quả cao. Tháng 6.2014, ông D mua 1 tạ lươn giống của dân bắt từ ruộng (bằng cách đặt trúm - tức ống lươn). Lươn nuôi trong hai bể bêtông, sau 6 tháng, bán được gần 3 tạ, thu xấp xỉ 50 triệu đồng. Ông D phát triển thêm 3 bể nuôi lươn. Mới đây, chúng tôi được một người dân dẫn vào xem trang trại của ông D. Trại nuôi lợn, gà vịt, lươn... của ông D nằm ở giữa cánh đồng, cách khá xa khu dân cư, song người dân phản ánh mùi hôi thối vẫn “tấn công” xóm làng theo từng cơn gió. Trong căn nhà nhỏ, có mấy cái bể bằng gạch xây liền nhau, mỗi bể chừng hơn chục mét vuông, bên dưới lót bạt nhựa, xâm xấp nước. Ông D. lội xuống bể, dỡ mấy tấm đan bằng tre, trên có mấy búi dây nhựa, thấy bầy lươn nhỏ lúc nhúc bám vào. “Lươn tôi mới mua của dân bắt từ ruộng, giá vài chục ngàn/kg, phải nuôi lớn bằng cái “típ” phi 27 thì xuất, trong khoảng 8 tháng”, ông D cho biết. Tôi hỏi: “Trong khi nuôi có dùng thuốc gì không?”. Ông D trả lời: “Thuốc tránh thai”. Tôi ngạc nhiên: “Thuốc tránh thai của người sao dùng được cho lươn?”. “Thuốc của người dùng cho lợn cũng được nữa là. Cứ xay nhỏ trộn vào thức ăn cho lươn, khoảng vài lần để hạn chế sinh sản, mau lớn”. Hỏi tên thuốc gì, mua ở đâu, ông D bảo không nhớ tên thuốc, nhưng mua thì tại trạm y tế xã. Thấy chúng tôi sợ thịt lươn nhiễm độc, ông D trấn an: “Một chu kỳ nuôi cho ăn một vài lần thôi, chứ phải ăn liên tục mô”. Rồi ông hồ hởi khoe: “Thuần lươn giống rất khó. Chỗ tôi làm được bao nhiêu, người ta lấy hết bấy nhiêu. Không chỉ dân mà cả bộ đội cũng về lấy. Vừa hết. Một bể này là hai tạ, bán được 36 triệu”. Lươn xuất cho các đầu nậu để bán vào các nhà hàng trong Nam ngoài Bắc, càng to càng có giá. Thông tin dân nuôi lươn bằng thuốc tránh thai của người được kỹ sư Trần Trung Thành - Trưởng Phòng Kỹ thuật khuyến ngư (Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nghệ An)xác nhận: “Tôi đi làm việc tại các mô hình ở Yên Thành, thấy nhiều vỏ vỉ thuốc tránh thai tại các trang trại nuôi lươn, biết chắc là người dân có sử dụng, trộn vào thức ăn cho lươn”. Về nguyên nhân, kỹ sư Thành giải thích: “Lươn là loài lưỡng tính, lươn đực nhanh lớn hơn lươn cái, nên người dân dùng thuốc tránh thai để ức chế quá trình lươn biến thành lươn cái”. Kỹ sư Thành cho biết thuốc tránh thai là chất cấm sử dụng trong quá trình nuôi lươn, vì sẽ không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. “Chúng tôi đã khuyến cáo nhiều lần, nhưng bà con có chấp hành hay không thì không kiểm soát được” - kỹ sư Thành nói. THỊT LƯƠN "TẨM" KHÁNG SINH, TĂNG TRỌNG Trong vai những người đi tìm hiểu mô hình nuôi lươn, chúng tôi được người dân giới thiệu đến nhà ông Hồ Văn Lương, xóm 9, xã Lý Thành (huyện Yên Thành). Anh Trung, con trai ông Lương dẫn chúng tôi vào xem các bể nuôi lươn theo mô hình không bùn. Có khoảng chục bể xây bằng gạch, bên trong lươn được nuôi với mật độ khá cao. Tương tự hộ ông D ở Hưng Nguyên, lươn ở đây cũng được nuôi bằng cách mua con giống bắt từ ruộng, sau đó cho ăn thức ăn chế biến sẵn từ cá, ốc. Nước được hút từ cái hồ gần đó, yêu cầu phải thay thường xuyên. “Nuôi lươn không đơn giản đâu, nhiều người cũng về đây học hỏi, xây bể nhưng sau đó phải bỏ”, anh Trung nói. Theo anh Trung con lươn rất dễ bị bệnh, gồm nhiều loại bệnh phức tạp như lở loét, tiêu hóa, đỏ đít, rồi bị gan, đen một vùng trước bụng... Để phòng chữa bệnh cho lươn, anh Trung phải nhập thuốc từ Đà Nẵng về, gồm rất nhiều loại như thuốc sát trùng, thuốc kháng sinh... Thuốc được pha, tạt vào nước trước hoặc sau khi thay bể, hoặc trộn vào thức ăn cho lươn như thuốc tiêu hóa. Anh Trung bê ra một thùng carton lớn trong đó có nhiều loại thuốc sát trùng, kháng sinh ghi bằng tiếng Việt. “Những loại này đều được phép, không độc, giống như thuốc sát trùng hoặc thuốc tiêu hóa vậy thôi”, anh Trung trấn an. Kỹ sư Phan Thị Tư Lan (Trạm Khuyến nông huyện Yên Thành) cho biết, có một số mô hình nuôi lươn tại các xã Thọ Thành, Đô Thành, Lý Thành... năng suất bình quân 40kg/m2 (bể) và nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ khác. Lươn nuôi được xuất qua thương lái đi các địa phương như Vinh, Hà Nội... “Lươn bị bệnh được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Những mô hình của trung tâm quản lý thì không sử dụng kháng sinh một tháng trước khi xuất bán. Nhưng hộ dân nuôi nhỏ lẻ thì khó kiểm soát” - bà Lan cho hay. Về chuyện cho lươn uống thuốc tránh thai của người, bà Lan cho rằng đây là điều có thật, nhưng ở bên Trung Quốc, chứ ở Yên Thành thì không có. Bà Lan cho biết, hiện nay trung tâm chưa có cơ chế kiểm tra dư lượng kháng sinh và hóa chất trong thịt lươn nuôi thành phẩm trước khi bán ra thị trường. Trong vai một người ở Diễn Châu cần học hỏi kỹ thuật nuôi lươn để sao cho “nhanh lớn, mau thu hồi vốn”, chúng tôi được ông N.V.C ở xã Mỹ Thành (Yên Thành) nhiệt tình “tư vấn”: “Phải chọn được giống tốt, giống trong nước hiện nay không có lời, anh đang đặt một tạ lươn giống từ Campuchia, chuyển về bằng máy bay. Thức ăn cho lươn xay từ cá, trộn với 30% cám công nghiệp. Nhưng để lươn nhanh lớn hơn nữa thì phải có một loại thuốc kích thích đặc biệt, phải mua ở nơi khác”. Ông N.V.C hứa hôm sau gặp trực tiếp sẽ chỉ cho nơi mua và cách sử dụng loại thuốc kích thích “đặc biệt” này. BẤP BÊNH THƯƠNG HIỆU LƯƠN XỨ NGHỆ Theo kỹ sư Trần Trung Thành, nghề nuôi lươn ở Nghệ An bắt đầu từ khoảng năm 2005, hiện nay các địa phương có nghề này gồm Nam Đàn, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Đô Lương, nhiều nhất ở Yên Thành và có một ít ở Đô Lương. Từ nuôi trong bể có bùn, hiện nay lươn được nuôi chủ yếu bằng bể không bùn, nguồn giống đánh bắt từ tự nhiên. Các bể nuôi lươn do người dân tự học hỏi, tự đầu tư vốn để làm, nên chưa kiểm đếm được con số, sản lượng cụ thể. “Theo Thông tư 15/2009/TTBNN ngày 17.3.2009 của Bộ NNPTNT thì trong quá trình nuôi lươn không được sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinh. Chúng tôi đã nhiều lần khuyến cáo điều này, nhưng không có thẩm quyền và chế tài xử phạt nên chỉ dựa vào ý thức tự giác của bà con” - kỹ sư Trần Trung Thành nói. Khi được hỏi liệu với tính chất tự phát của việc nuôi, mua bán lươn hiện nay, liệu có thể an tâm với chất lượng của thịt lươn nuôi, kỹ sư Thành trả lời: “Khi người dân sử dụng hóa chất và thuốc kháng sinh, chắc chắn chưa đảm bảo chất lượng sản phẩm. Hiện nay chúng ta chưa quản lý được chất lượng đầu ra của con lươn”. Với thực trạng này, thương hiệu lươn xứ Nghệ vốn đã nổi tiếng từ lâu sẽ có nguy cơ bị ảnh hưởng. “Thương hiệu lươn xứ Nghệ cần được xây dựng một cách bài bản, dựa trên sự trung thực và công nghệ tiên tiến bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, chứ nếu để tình trạng này kéo dài, chắc chắn thương hiệu lươn xứ Nghệ sẽ bị ảnh hưởng. Nếu muốn xuất khẩu thì phải có công nghệ nuôi sạch” - kỹ sư Thành không khỏi lo lắng. PHÁT HIỆN CHẤT "VÀNG Ô" GÂY UNG THƯ TRONG GÀ Tại cuộc họp báo chiều 6.10, ông Phạm Tiến Dũng -Trưởng Phòng Thanh tra chuyên ngành (Thanh tra Bộ NN&PTNT) cho biết, qua tin báo của người chăn nuôi và kinh doanh thức ăn chăn nuôi, Cục Chăn nuôi và Thanh tra Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn vừa phát hiện chất có tên “vàng ô” là chất màu được sử dụng trong công nghiệp dệt nhuộm và xây dựng trong thức ăn cho gà nhằm tạo màu vỗ béo (chất này không có tác dụng tạo nạc). Chất này khi các nhà khoa học thử nghiệm cho kết quả gây ung thư trên động vật và có nguy cơ gây ung thư ở người. Đây là lần thứ hai “vàng ô” được phát hiện trong thức ăn chăn nuôi, lần đầu vào năm 2014 tại Hải Phòng. Theo BÁO LAO ĐỘNG