Tình trạng bệnh nhân suy dinh dưỡng khi nằm điều trị tại bệnh viện Ở các nước phát triển trên thế giới, khi điều trị tại bệnh viện, chế độ ăn uống của bệnh nhân được các bác sỹ chỉ định như thuốc trong điều trị, giúp bệnh nhân phục hồi sức khỏe nhanh. Thực tế tại Việt Nam gần đây cho thấy, số bệnh nhân đang điều trị nội trú có tỷ lệ suy dinh dưỡng khá cao. Nguyên nhân là do nhu cầu chất dinh dưỡng tăng theo tình trạng bệnh tật, do biến chứng khi điều trị, trong khi đó người bệnh không được đáp ứng đủ nhu cầu. Từ trước tới nay, đa số người bệnh khi nằm viện chỉ chú ý tới việc dùng thuốc trị bệnh và hỗ trợ sức khỏe mà quên mất chế độ dinh dưỡng. Hậu quả của việc thiếu hụt dinh dưỡng có thể rất nghiêm trọng như tăng biến chứng do suy giảm miễn dịch, suy giảm sức đề kháng, tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân. Nhiều trường hợp bệnh nhân tử vong không phải vì bệnh mà vì suy kiệt, thiếu hụt dinh dưỡng. Hiện nay ởViệt Nam có hơn 60% bệnh nhân nhập viện không được xét nghiệm nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng. Trong thực tế, kiểm soát nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng sẽ giúp bác sỹ tiên lượng được kết quả điều trị do các yếu tố dinh dưỡng, giảm tần suất biến chứng, tăng cường khả năng phục hồi, giảm chi phí điều trị, thời gian nằm viện. Tại các bệnh viện lớn, ước tính có 40 – 50% bệnh nhân bị suy dinh dưỡng, trong đó có 50% suy dinh dưỡng nặng. Thống kê của bệnh viện nhi đồng 1 – TP.HCM cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em bị tim bẩm sinh khi nhập viện có 48% thể nhẹ cân, 33% suy dinh dưỡng cấp, 37% ở thể còi. Hậu quả của suy dinh dưỡng đối với trẻ phẫu thuật tim làm cho vết thương dễ nhiễm trùng, lâu lành, khiến trẻ chậm phát triển trí tuệ và vận động. Để giải quyết được tình trạng này, việc kiểm soát nguy cơ suy dinh dưỡng đối với bệnh nhân đang điều trị vô cùng quan trọng. Theo dõi sát tình trạng sụt cân, tình trạng bệnh lý của bệnh nhân,… từ đó thiết lập kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng phòng ngừa để tránh các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng người bệnh. BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Chăm sóc giấc ngủ cho trẻ sơ sinh Giấc ngủ của trẻ khi mới chào đời là vô cùng quan trọng cho sự phát triển toàn diện về trí não và thể chất của bé. Để giúp con trẻ có giấc ngủ ngon, các mẹ nên trang bị cho mình một số kiến thức sau: 1. Nhiệt độ phòng ngủ: lý tưởng nhất là 22 độ C. 2. Thời gian ngủ: trong những tuần đầu, trẻ sơ sinh có thể ngủ 16 – 20h/ngày. 3. Giấc ngủ sâu (chiếm khoảng 80% giấc ngủ của trẻ sơ sinh): Đây là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển các khu vực liên quan đến thị giác và não bộ của trẻ. 4. Dỗ dành bé Dỗ dành, vỗ về bé, một vài động tác mát xa nhẹ nhàng giúp giấc ngủ của bé sơ sinh đến dễ dàng hơn. Không nên rung lắc em bé quá mạnh để tránh làm tổn thương cơ thể non nớt của bé. 5. Giữ nhiệt độ cân bằng cho bé Nếu thời tiết quá lạnh, mẹ có thể cho bé mặc nhiều lớp quần áo đi ngủ. Giữ ấm cơ thể giúp bé ngủ ngon và sâu hơn. Không nên mặc quá nhiều quần áo cho bé. Trẻ sơ sinh chỉ cần mặc thêm 1 lớp quần áo so với người lớn là đủ. 6. Tập cho con tự ngủ Khi bé bắt đầu buồn ngủ, mẹ đặt bé xuống giường (nôi) để bé hình thành thói quen nằm xuống giường có thể tự ngủ. Không nên để bé ngủ ngay trên tay mẹ… vì như vậy bé sẽ không có thói quen tự ngủ mà chỉ ngủ khi nào được mẹ bế. 7. Lập thời gian biểu ngủ Nên thiết lập thời gian ngủ nhất định sẽ khiến giấc ngủ của bé trở thành 1 phản xạ có điều kiện. Không nên để giường ngủ của bé ở khu vực đèn sáng, có tiếng ồn hay quá chật chội với chăn, gối, đồ chơi. 8. Tạo sự thoải mái cho bé Nên trang bị “bỉm”, tã dán mềm mịn, khô thoáng, thấm hút và chống tràn hiệu quả cho bé, tạo cảm giác thoải mái tối đa, giúp giấc ngủ của bé sâu hơn. Không nên dùng các đồ tã lót, bỉm kém chất lượng khiến trẻ bị ẩm ướt khó chịu… gây khó ngủ cho bé. BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Phương pháp sử dụng hợp lý sữa cao năng lượng giúp cho sự phát triển toàn diện của trẻ Hệ tiêu hoá của trẻ (nhất là trẻ dưới 12 tháng tuổi) rất non nớt, đang ở giai đoạn phát triển, hoàn thiện. Việc dùng các sản phẩm dinh dưỡng (thay thế bổ sung cho sữa mẹ) trong giai đoạn đầu đời của bé vô cùng quan trọng. Nếu sử dụng các thành phần chứa chất béo thẩm thấu nhanh, độ ngọt cao, sẽ ảnh hưởng tới quá trình chuyển hoá và phá hỏng hệ tiêu hoá của trẻ, tăng nguy cơ tiểu đường, tim mạch, trẻ không hấp thu được các chất dinh dưỡng, các vitamin và khoáng chấtdẫn tới còi xương, suy dinh dưỡng, phát triển không toàn diện. Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có những sản phẩm dinh dưỡng cao như sữa cao năng lượng bước đầu đã có tác dụng cho sự phát triển của trẻ. Tuy vậy, để hiểu biết thêm về sản phẩm này và phương pháp sử dụng sữa cao năng lượng hợp lý cũng như đạt hiệu quả tốt, các bậc cha mẹ cần lưu ý những vấn đề sau: 1. Sữa cao năng lượng (CNL) là gì? Các sữa thông thường cung cấp xấp xỉ khoảng 70 kcalo cho 100ml sữa đã pha. Sữa CNL là sản phẩm được tăng cường chất béo, chất đạm, vitamin và khoáng chất, trong đó 100ml sữa đã pha cung cấp 100 kcalo. 2. Bột giàu dinh dưỡng có phải là sữa CNL không? Theo quy định của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sữa bột phải bảo đảm đủ hàm lượng chất béo sữa từ 26 - 42% khối lượng; độ ẩm khoảng 5% khối lượng; hàm lượng protein trong sữa đã loại chất béo tối đa đạt 34% khối lượng. Còn đối với thức ăn dạng bột nếu không đạt hàm lượng trên đây chỉ được gọi là bột dinh dưỡng hoặc bột bổ sung năng lượng. 3. Dùng sữa CNL trong trường hợp nào? Sản phẩm sữa CNL thường được dùng cho trẻ không ăn được, lên cân chậm, suy dinh dưỡng, biếng ăn, hay mắc bệnh hoặc giai đoạn phục hồi sau khi bị ốm… tuy vậy nên sử dụng dưới sự hướng dẫn của bác sỹ chuyên khoa Dinh dưỡng. Với trẻ đang phát triển thể chất bình thường thì không cần thiết phải sử dụng sữa này. 4. Sử dụng sữa CNL như thế nào là hợp lý? Sữa CNL giúp bé tăng cân nhanh hơn ở những trẻ biếng ăn, suy dinh dưỡng…Tuy nhiên, việc sử dụng sữa CNL phải có lộ trình và hướng dẫn cụ thể của các bác sỹ, chuyên gia dinh dưỡng: - Khi nào cho trẻ sử dụng sữa CNL: giai đoạn trẻ biếng ăn, không lên cân hoặc chậm lên cân. - Khi nào dừng cho trẻ sử dụng sữa CNL: + Trẻ đầy bụng, khó tiêu, no lâu (do lượng chất béo trong sữa CNL cao) + Có phản ứng đi ngoài… Trong quá trình sử dụng các mẹ theo dõi cẩn thận và có thể cho bé ăn song song sữa CNL và sữa thông thường. - Lượng sữa CNL sử dụng hàng ngày: Tuỳ thể trạng hiện tại của bé (thông thường uống 1 – 3 cốc sữa CNL), cònlại thì uống sữa công thức bình thường phù hợp với tháng tuổi. 5. Các sản phẩm dinh dưỡng khác hỗ trợ trong giai đoạn sử dụng sữa CNL giúp trẻ tiêu hoá và hấp thu tốt hơn: - Các loại men tiêu hoá, men vi sinh - Sản phẩm hỗ trợ điều trị táo bón (men vi sinh, chất xơ) - Sản phẩm giúp trẻ ăn ngon, ngủ ngon 6. Một số điều các mẹ cần lưu ý - Sữa mẹ là ưu tiên hàng đầu cho trẻ trong giai đoạn đầu đời - Sữa cao năng lượng được sử dụng cho trẻ (nhất là cho trẻ dưới 12 tháng tuổi) và từ 1-6 tuổi nên tham khảo ý kiến của bác sỹ và hướng dẫn của chuyên gia Dinh dưỡng. - Không lạm dụng sữa CNL trong bữa ăn hàng ngày của trẻ. Phải chú trọng tốt các sản phẩm dinh dưỡng khác (đủ 4 thành phần chất dinh dưỡng giúp trẻ phát triển toàn diện về răng, hệ thống men tiêu hoá, hoàn thiện hệ tiêu hoá). BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Những quan niệm và hành động sai của các bà mẹ khi chăm sóc trẻ Áp dụng kinh nghiệm của người đi trước để nuôi con là một điều tốt. Tuy vậy, các mẹ nên hiểu đúng về các kinh nghiệm này để chăm sóc tốt cho con trẻ chứ đừng thực hiện sai lệch làm ảnh hưởng tới sự phát triển của bé. Một số các sai lầm các bác sỹ,chuyên gia y tế khuyên các mẹ nên tránh như sau: 1. Nắn bóp và uốn chân con cho thẳng tắp Chân của các bé sơ sinh đều hơi cong vì tư thế bé nằm trong bụng mẹ (chật chội) buộc con phải ép 2 chân lại. Chân bé không thể định hình bình thường ngay sau khi sinh mà phải mất một thời gian mới lấy lại được hình dáng chuẩn. Nắn bóp chân cho bé cũng tốt, nhưng không nắn thì theo thời gian chân bé cũng thẳng, với những bé có tật ở chân thì có nắn chân cũng không thẳng được, mà phải đi vật lý trị liệu (chân vòng kiềng, chân vẹo, chân quặt vào trong, ra ngoài,…). Trường hợp rối loạn xương (hai chân không dài bằng nhau, bàn chân khoèo, dáng đi của bé không được thẳng,…) phải cho con đi kiểm tra và có biện pháp xử lý thích hợp. 2. Dùng mật ong đánh rơ lưỡi cho bé Khi bé bú mẹ (ăn sữa công thức), lưỡi bé sẽ đọng lại một chút sữa, nếu mẹ không vệ sinh hàng ngày cho bé sẽ dẫn đến tình trạng tưa lưỡi khiến bé bỏ ăn, bỏ bú, khó chịu và quấy khóc. Mẹ chỉ cần dùng 1 ít nước muối sinh lý hoặc dung dịch rơ lưỡi cho trẻ sơ sinh để thấm gạc và nhẹ nhàng đẩy qua lưỡi bé là vết bẩn sẽ trôi ra. Quan điểm mật ong có tính kháng khuẩn tốt nên dùng để rơ lưỡi là sai lầm. Trong mật ong có độc tố không có lợi cho trẻ sơ sinh, hơn nữa mật ong trên thị trường hiện nay không đảm bảo chất lượng nên nguy hại cho bé. 3. Cho con nằm ngủ sấp (để ngủ ngon) Bé sơ sinh (do đã quen nằm trong bụng mẹ) được ôm ấp trong suốt 9 tháng 10 ngày. Khi chào đời bé rất dễ giật mình trong giấc ngủ, tay chân bé hay bị chơi vơi nếu không được ôm ấp hoặc quấn khăn. Tuy nhiên, không phải vì thế mà mẹ cho con nằm sấp nhằm giúp bé ngủ ngon, không ít trường hợp bé ngừng thở và tử vong khi ngủ sấp. 4. Vuốt mũi để tạo sống mũi dọc dừa Sống mũi trẻ cấu tạo là các mô xương, sụn, thực tế mũi trẻ sơ sinh nào cũng thẳng. Sau vài tháng, mũi trẻ sẽ cao hơn. Các mẹ đừng sốt ruột sợ mũi con tẹt mà vuốt mũi con sẽ làm tổn thương các mô mềm ở mũi bé. Mẹ thường xuyên vuốt mũi con sẽ ảnh hưởng đến hô hấp của bé, tổn thương niêm mạc … dẫn tới viêm, nhiễm khuẩn gây bệnh cho bé. 5. Cạo trọc đầu bé để tóc mới mọc đen hơn Tóc trẻ (xoăn, thẳng, đen hay sáng màu…) là do di truyền. Do đó, không phải cứ cạo trọc đầu cho con là tóc mọc sẽ có màu đen. Các mẹ nên lưu ý điều này. 6. Lên lịch cho bé bú đúng giờ Sự thật là tốt hơn hết bạn nên cho bé bú theo nhu cầu, vì bản thân cơ thể bé sẽ báo cho bé biết khi nào đói và khi nào thì no. Việc đặt bé của bạn vào một lịch bú quy củ sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các thói quen ăn uống khỏe mạnh bẩm sinh của bé. 7. Phải cho trẻ sơ sinh uống nước lọc hàng ngày Sữa mẹ là nguồn sữa trong và không hề chứa cặn bột. Trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu không cần bổ sung thêm bất cứ một loại thực phẩm hay nước nào khác (trừ trường hợp bé phải sử dụng nước để uống thuốc điều trị) vì trong sữa mẹ đã có thành phần nước phù hợp với nhu cầu của trẻ. Với trẻ bú sữa công thức, mẹ có thể cho bé uống tráng miệng 1 thìa cà phê nhỏ nước lọc mỗi lần để tránh tưa lưỡi. Tuy nhiên, không nên cho bé uống quá nhiều nước lọc bởi có thể dẫn đến khả năng ngộ độc nước ở trẻ nhỏ. Mẹ nên quan sát phân và nước tiểu của trẻ. nếu nước tiểu không màu vàng, phân mềm, không vón cục, khô cứng tức là trẻ nhận được đủ lượng nước cần thiết. 8. Đêm phải dậy thay tã cho con nếu không bé sẽ bị hăm Nước tiểu của trẻ sơ sinh hoàn toàn vô trùng và nếu mẹ đã đóng bỉm đêm cho bé, mẹ có thể yên tâm để bé ngủ ngon xuyên đêm. Tuy nhiên, nếu bé đã ị, dù chỉ một ít, phân để lâu trong tã cũng có thể gây viêm đường tiết niệu, nhiễm trùng bàng quang, đặc biệt là đối với các bé gái. Vì vậy, nếu mẹ ngửi thấy mùi lạ, đừng chần chừ mà kiểm tra và thay bỉm ngay. 9. Con bú sữa chậm tăng cân thì phải cho ăn dặm ngay Vì sợ con còi là con không khỏe, các bà các mẹ xưa thường vội vã bỏ cho con bú mà chuyển sang ăn bột/cháo từ khi trẻ mới 2,3 tháng tuổi. Điều này sẽ khiến cho trẻ dễ ốm đau, dị ứng. * Trẻ dễ ốm đau, dị ứng vì: Hệ thống ruột giúp sàng lọc ra các chất có hại và cho phép các chất dinh dưỡng lành mạnh hấp thụ vào cơ thể. Trong những tháng đầu tiên, hệ thống lọc này chưa thực sự hoàn thiện. Từ giai đoạn 4-7 tháng niêm mạc ruột của bé mới phát triển đủ để chọn lọc những gì có thể cho hấp thụ. Để ngăn chặn các loại thực phẩm có khả năng gây dị ứng xâm nhập vào máu, ruột tiết ra một chất gọi là lgA có chức năng bảo vệ ruột. Trong những tháng đầu tiên, lượng lgA của trẻ sơ sinh sản xuất ra rất thấp. Do đó, nếu cho trẻ ăn dặm quá sớm, các protein từ thực phẩm dễ gậy dị ứng và các mầm bệnh có thể xâm nhập và khiến trẻ bị dị ứng và dễ ốm đau. BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Dinh dưỡng cho trẻ mắc hội chứng tăng động giảm chú ý (ADHD) I. Hội chứng tăng động giảm chú ý là gì? - Tăng động giảm chú ý là 1 hội chứng rối loạn tinh thần thường gặp trong quá trình phát triển của trẻ em. Biểu hiện đặc trưng là hiếu động thái quá, có nhu cầu chạy nhảy liên tục, không có khả năng tập trung, khó kiểm soát hành vi. - Bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng học tập, giao tiếp giữa trẻ và những người xung quanh. - Tuổi mắc bệnh phổ biến: 8 – 11 tuổi. - Tỷ lệ mắc bệnh: 5% (toàn cầu); 3,01% (Hà Nội). II. Nguyên nhân- Di truyền: Do 1 loại gen làm cho mô não điều khiển sự chú ý mỏng hơn so với những trẻ bình thường. - Môi trường: nghiên cứu cho thấy mối liên hệ tiềm tàng giữa việc người mẹ trong quá trình mang thai đã hút thuốc lá và sử dụng nghiện rượu. Ngoài ra, trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nếu thường xuyên tiếp xúc với chì cũng có thể có nguy cơ cao bị mắc chứng ADHD. III. Vai trò của chế độ dinh dưỡng để điều trị hội chứng tăng động giảm chú ý Tình trạng suy dinh dưỡng có thể là nguyên nhân khiến cho các triệu chứng của bệnh thêm nặng hơn. Quá trình điều trị căn bệnh này đòi hỏi các bà mẹ phải chú ý tới khẩu phần ăn uống của trẻ nhằm ngăn ngừa và cải thiện các triệu chứng của bệnh thông qua các loại thực phẩm được tiêu thụ. 1. Các loại thực phẩm nên sử dụng Thực phẩm giàu protein: là nhóm thực phẩm có vai trò quan trọng nhất với hoạt động của não bộ bao gồm: trứng, thịt, pho mai, các loại đậu,… Cabonhydrate phức hợp có tác dụng: - Làm chậm quá trình tiêu hóa giúp bao tử có cảm giác no lâu hơn. - Hạn chế tình trạng ăn vặt giúp trẻ bớt tiêu thụ các thức ăn chế biến sẵn làm tăng triệu chứng ADHD. - Giúp trẻ ngủ ngon hơn. Thực phẩm giàu acid béo Omega-3, bao gồm: cá ngừ, cá hồi, dầu oliu,… 2. Các loại thực phẩm nên tránh Hạn chế sử dụng Cacbonhydrate đơn vì chúng cung cấp nhiều calo, không cho con ăn nhiều kẹo siro, bột mì trắng, gạo trắng, khoai tây đã bỏ vỏ, đường,… Không sử dụng thức ăn, đồ uống có chất phụ gia: phẩm màu, chất bảo quản, chất tạo mùi vị,… khiến trẻ trở nên hiếu động thái quá. Loại bỏ đường hóa học và bột ngọt (mì chính) ra khỏi thực đơn của trẻ đang điều trị ADHD. Lưu ý: Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sẽ khác nhau. Do đó, các mẹ nên tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị để có được sự tư vấn chuẩn xác nhất về khẩu phần ăn uống phù hợp với điều kiện thể chất và khả năng hấp thu của con mình. BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Chế độ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ Các bà mẹ đang chăm sóc con nhỏ cần được trang bị kiến thức về dinh dưỡng để chuẩn bị cho bé những bữa ăn đầy đủ, đúng chất, không thừa đạm, không thiếu chất xơ,… Tóm lại, dinh dưỡng đúng cách, tập cho bé thói quen ăn uống lành mạnh. I. Đa dạng thực phẩm trong bữa ăn cho bé 1. Không có loại thức ăn nào có đủ toàn bộ chất dinh dưỡng mà cơ thể cần do đó cần phải đa dạng thực phẩm. Việc kén chọn thực phẩm sẽ gây cản trở sự hấp thu đủ dưỡng chất. 2. Trẻ chỉ thích ăn 1 loại thực phẩm thì có thể hướng trẻ tới các thực phẩm khác cùng nhóm để thay đổi, nhưng nếu không ăn rau xanh thì không có sự thay thế nào khác. 3. Thực đơn hàng ngày phải đủ 5 nhóm dinh dưỡng, không được thiếu 1 nhóm nào. II. Cân bằng các loại thực phẩm 1. Mỗi loại thực phẩm có 1 thành phần dinh dưỡng và mỗi loại dưỡng chất đều có quy định rõ về lượng, ít hơn hay nhiều hơn đều không tốt. 2. Trẻ ăn nhiều (thức ăn ưa thích), ăn ít hoặc không ăn (thức ăn không ưa thích) thì dù có đa dạng thực phẩm cũng phá vỡ sự cân bằng tỷ lệ chất dinh dưỡng đưa vào cơ thể. 3. Phối hợp các thức ăn cùng nhóm, giữa thô và mịn, sẫm màu và nhạt màu, thịt cá và thịt gia cầm là rất cần thiết. III. Cho trẻ ăn uống đúng giờ1. 3 bữa chính trong ngày là nguồn cung cấp dưỡng chất năng lượng cơ bản cho cơ thể. Ăn vặt, không giờ giấc, ăn sát với bữa chính sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dung nạp dinh dưỡng của bữa chính. 2. Những món ăn vặt bán tại cổng trường không những không có dinh dưỡng mà còn mất vệ sinh. Các mẹ nên chuẩn bị đồ ăn cho trẻ sau khi tan học (số lượng không được quá nhiều) để không ảnh hưởng đến bữa ăn chính. 3. Cho bé ăn no vừa phải Năng lượng đưa vào cơ thể của 3 bữa được phân chia: bữa sáng (30%), bữa trưa (40%), bữa tối (30%). Không ăn, ăn ít vào bữa sáng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, giảm thể lực, ảnh hưởng đến hoạt động của đại não. IV. Không ăn thừa chất, ăn uống thanh đạm 1.Năng lượng cơ thể nạp vào/ngày bao gồm: Lương thực (50%), protein (17%), chất béo (25%), còn lại là chất xơ, vitamin, khoáng chất,… nếu ăn quá nhiều dầu mỡ, đường sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp, mỡ máu, béo phì,… 2.Thiếu chất xơ dễ dẫn đến táo bón, viêm dạ dày. V. Bữa ăn văn minh 1. Môi trường bữa ăn yên tĩnh, tạo thói quen nhai kỹ, nuốt chậm, tâm trạng vui vẻ. Cha mẹ nên kết hợp giảng giải, giới thiệu về đồ ăn,… để kích thích con ăn ngon miệng. 2. Bữa ăn không nên căng thẳng (trách mắng, dạy dỗ,..) gây ức chế cho trẻ.BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Các nguyên nhân khiến trẻ hay bị nôn trớ Nôn trớ có thể là biểu hiện của những bệnh lý tiêu hóa như trào ngược dạ dày thực quản, có khi là triêu chứng của bệnh lý như: nhiễm virus, ăn quá no, chấn thương não, suy dinh dưỡng ... Mỗi đứa trẻ đều sẽ nôn trớ ít nhiều trong giai đoạn sau khi chào đời và thường không ảnh hưởng gì tới sức khoẻ cũng như sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, khi bị nôn trớ thường xuyên có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ. I. Nôn (ói) khác với ọc (trớ) * Nôn (ói) Xảy ra khi cơ bụng và cơ hoành co bóp mạnh quá làm tống thức ăn trong dạ dày bị đẩy lên thực quản rồi trào ra miệng. * Trớ (ọc) (thường gặp nhất ở những trẻ dưới 1 tuổi) Là khi dòng thức ăn trôi từ dạ dày ra miệng mà trẻ không sử dụng cơ bụng, trẻ không dùng đến sức lực gì, thường đi kèm với tiếng ợ. * Nôn trớ có thể lành tính, tự khỏi khi trẻ lớn hơn. II. Nôn trớ như thế nào là bình thường - Khi trẻ nôn trớ nhưng vẫn khoẻ mạnh, vẫn tiếp tục tăng cân đều thì không cần phải lo lắng về hiện tượng này. - Nôn trớ thường tự hết sau 6 – 24 giờ mà không cần phải áp dụng bất kỳ cách điều trị đặc biệt nào. III. Khi nào hiện tượng nôn trớ của bé khiến bố mẹ lo lắng? Nếu bé càng lớn mà tình trạng nôn trớ càng nghiêm trọng thì bố mẹ hãy đưa bé tới bác sỹ ngay. * Khi có 1 số dấu hiệu sau đây thì bố mẹ cần đưa trẻ tới bệnh viện ngay: - Đau bụng quằn quại - Bụng trướng -Trẻ có biểu hiện vật vã, kích thích quấy khóc - Nôn trớ liên tục hoặc tiếp tục nôn trớ trên 24 tiếng - Có dấu hiệu mất nước như miệng khô, ít nước mắt, ít đi tiểu (thay ít hơn 6 tã lót/ngày), thóp trước lõm hoặc rất lõm. - Xuất hiện máu hay mật (màu xanh) khi nôn trớ: Một chút máu tươi khi nôn trớ thường không đáng lo ngại, hoặc cũng có khi có xuất hiện tia đỏ trong dịch nôn nếu bé nuốt máu từ vết thương nào đó ở miệng hoặc bị chảy máu cam trong vòng 6 tiếng trước đó. Tuy nhiên, nếu bé tiếp tục nôn trớ có lẫn máu trong những lần sau với số lượng tăng dần. Riêng với tình trạng nôn có màu xanh thì cần đưa bé đi khám ngay. - Nôn trớ không ngừng trong tháng đầu tiên sau sinh, cứ ăn xong là nôn trớ: Đây có thể là do chứng hẹp môn vị, một nguyên nhân hiếm gặp gây nôn trớ mà thường bắt đầu 1 vài tuần sau khi bé chào đời cho tới tận khi bé 4 tháng tuổi. IV. Nguyên nhân gây nôn trớ ở trẻ nhỏ 1.Nhiễm virus Trẻ nhỏ do hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nên nếu chế độ ăn uống không phù hợp, thực phẩm bị nhiễm độc, khi ăn sẽ bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy, táo bón, ăn không tiêu, đi ngoài phân sống... Các triệu chứng này thường đi kèm nôn mửa và trào ngược thực quản. 2. Dị ứng Những thực phẩm dễ gây dị ứng như đậu phộng, hải sản tôm cua, trứng, các chế phẩm làm từ đậu nành, các sản phẩm làm từ sữa động vật. Vì vậy, khi cho bé ăn thức ăn mới mẹ phải theo dõi biểu hiện của bé. Nếu trẻ có dấu hiệu bị dị ứng, nôn ói thì nên dừng ngay không nên cho bé ăn tiếp. 3. Ngộ độc thực phẩm Sự giải phóng một vài enzyme của cơ thể khi gặp các thực phẩm độc hại (do trẻ ăn quá nhiều hoặc ăn những thức ăn bị ôi thiu, chứa quá nhiều hóa chất độc hại sẽ khiến dạ dày bị kích thích, dẫn đến loạn khuẩn đường ruột) dẫn đến việc nôn trớ ở trẻ. 4. Ăn quá no Khi mẹ cho bé ăn quá nhiều sẽ tạo áp lực lên dạ dày dẫn đến hiện tượng trẻ bị nôn ói để tống bớt thức ăn ra ngoài. Nếu trẻ nôn quá nhiều và có dấu hiệu mất nước nên đưa trẻ đến bệnh viện ngay. 5. Lo lắng và căng thẳng Khi trẻ lo lắng, căng thẳng kéo theo mệt mỏi, khó chịu dẫn đến làm suy giảm hệ miễn dịch do. Đây là nguyên nhân khiến cho trẻ dễ bị nhạy cảm với thức ăn cũng dẫn đến triệu chứng nôn ói khi ăn. 6. Chấn thương não Trẻ bị chấn thương não khi bị tai nạn, hoặc bị khối u trong não hay gặp các vấn đề về tủy sống cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến nôn ói ở trẻ. Trong trường hợp không rõ nguyên nhân mẹ nên đưa bé đi khám và nên cho trẻ uống thật nhiều nước, nghỉ ngơi hợp lý. 7. Tắc ruột Trẻ bị táo bón lâu ngày nếu không điều trị sớm và điều trị dứt điểm dễ bị sa trực tràng và tắc ruột. Đây là triệu chứng gặp phổ biến ở trẻ nhỏ. Và tắc ruột cũng là một trong những nguyên nhân khiến trẻ bị nôn, kèm sốt cao. 8. Nôn sinh lý Thực quản của trẻ sơ sinh khá ngắn, vì vậy nếu ăn quá nhanh trẻ sẽ nuốt nhiều khí vào thực quản dẫn đến hiện tượng nôn trớ. 9. Trẻ bị các bệnh nhiễm trùng Nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm trùng da, viêm rốn, viêm màng não, nhiễm trùng máu cũng là những nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến phản xạ nôn ói ở trẻ. 10. Phản ứng thuốc Vị đắng hoặc vị ngọt lợ của thuốc điều trị cũng dẫn đến phản xạ nôn trớ sau khi uống thuốc. 11. Bệnh xuất huyết dạ dày ở trẻ sơ sinh Trẻ bị sốt xuất huyết dạ dày cũng gây ra triệu chứng nôn trớ ở trẻ, đi kèm theo là chất thải có màu nâu và máu đỏ tươi. Lúc này nên đưa bé đi bệnh viện ngay kẻo nguy hiểm tính mạng. BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Mình rất quan tâm đến chế độ dinh dưỡng dành cho trẻ, mình không biết con đã đầy đủ chất dinh dưỡng chưa?
Để biết con bạn đã đầy đủ chất dinh dưỡng hay chưa, bạn hãy đưa bé đi khám dinh dưỡng để các bác sỹ khám và tư vấn cho con bạn.
Các mẹ nên biết: cách nấu ăn giúp trẻ suy dinh dưỡng mau tăng cân Suy dinh dưỡng ở trẻ là nguyên nhân khiến các bệnh lý hô hấp, tiêu chảy,… xảy ra & kéo dài khiến trẻ ăn uống kém, ảnh hưởng đến phát triển thể chất, tinh thần & tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Để phát huy hết giá trị dinh dưỡng của các loại thực phẩm trong bữa ăn của trẻ, làm thế nào để trẻ ăn nhiều hơn, hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. Các bà mẹ cần tham khảo một số phương pháp sau đây: 1. Tăng cường chất dinh dưỡng Thức ăn được dùng để nấu cho trẻ phải đầy đủ chất dinh dưỡng càng đa dạng càng tốt. Tùy theo độ tuổi mà lựa chọn cho phù hợp. Khi chế biến phải cắt nhỏ, nấu mềm và nêm cho vừa, phù hợp với khẩu vị của trẻ. Thực phẩm thích hợp với trẻ nhỏ là trứng, thịt băm, cá băm, rau cũng nên cắt nhỏ. 2. Thêm dầu mỡ vào món ăn cho bé Dầu mỡ (ưu tiên sử dụng dầu thực vật) cung cấp năng lượng cho cơ thể gấp đôi chất bột, đạm. Một bát bột, cháo hoặc cơm của trẻ cần bổ sung một thìa canh dầu. Quan trọng hơn, dầu là dung môi hoà tan các vitamin A, D, E, K giúp trẻ hấp thụ được các loại vitamin này vào cơ thể. Mặt khác, dầu ăn kích thích tiêu hoá và tăng cảm giác no và no lâu cho trẻ. Thời điểm cho dầu ăn: Các bà mẹ nên cho dầu ăn vào thức ăn của trẻ khi chuẩn bị bắc thức ăn ra khỏi bếp nấu (vì khi này dầu chưa bị biến chất do tác động của nhiệt độ cao). Đồng thời khi cho dầu ăn vào thời điểm này làm cho cháo/bột của trẻ thơm ngon, giữ được màu sắc của thực phầm và giảm sự bay hơi của vitamin tan trong nước (B1, B2…) từ thực phẩm. 3. Nấu cháo đặc cho bé Nấu cháo loãng, bé có cảm giác ăn nhiều hơn nhưng thực sự chỉ là nhiều nước, năng lượng sẽ thấp.Tuy nhiên, nấu đặc quá khiến trẻ khó ăn. Các mẹ nên nấu đặc vừa phải & chú ý chuẩn bị mùi vị hấp dẫn cho bé dễ ăn hơn. 4. Ăn thêm bữa phụ Bữa phụ nên được bắt đầu trước bữa ăn chính khoảng 2 giờ. Bữa này để trẻ ăn bù cho bữa ăn chính trước đó. Bữa ăn phụ trước lúc đi ngủ giúp trẻ ngủ ngon, sâu hơn. Thực phẩm tốt nhất dùng cho bữa ăn phụ là sữa, sữa chua, hoa quả. Tuy vậy, các mẹ nên nhớ không cho trẻ ăn quá no trước khi ngủ. Mỗi ngày trẻ nên được ăn từ 5 – 6 bữa thay vì chỉ ăn 3 bữa. Chia nhỏ bữa ăn khiến trẻ không có cảm giác bị ăn nhiều, hay bị ép ăn. 5. Không ép trẻ ăn Các mẹ hãy để bé ăn vừa với sức của chúng, không nên ép ăn hết khi trẻ đã chán. Ép quá khiến trẻ sợ ăn, nôn trớ, lâu dần sẽ dẫn đến tình trạng biếng ăn. BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Một số phương pháp giúp mẹ cho bé ợ hơi sau khi bú Khi cho bé bú sữa mẹ hoặc bú bình đối với những người mới làm cha mẹ đó là việc hết sức mới mẻ và thú vị. Tuy nhiên, các bà mẹ rất hay lãng quên và bỡ ngỡ không biết xử lý ra sao đối với một phần rất quan trọng là cho bé ợ hơi. Nhất là ở trẻ sơ sinh, cứ 2 giờ bé lại cần được bú sữa và cùng với sữa, bé cũng nuốt vào 1 lượng khá nhiều không khí. Nếu không được ợ hơi, không khí tồn đọng gây đầy bụng, khó chịu và có thể là nguyên nhân gây trào ngược, nôn trớ cho bé. Các chuyên gia dinh dưỡng có một số lời khuyên giúp các mẹ biết về các tư thế bế bé, cách xoa hoặc vỗ lưng để hỗ trợ bé đẩy hơi ra khỏi bụng. I. 3 cách cho bé ợ hơi1. Bế bé áp vào ngực: mẹ ngồi thẳng, để đầu bé tựa vào vai, thân người bé áp vào ngực. Một tay mẹ đỡ mông bé, tay còn lại xoa hoặc vỗ nhẹ lưng bé. Nếu mẹ ngồi, nhún nhẹ cũng có tác dụng tốt. 2. Cho bé ngồi trong lòng mẹ: để bé ngồi thẳng trên đùi mẹ, dùng lòng bàn tay đỡ cằm của bé, phần cổ tay đỡ phần ngực bé. Tay còn lại vỗ nhẹ vào lưng bé. Mẹ nên để bé ngồi hơi nghiêng về phía trước để đẩy hơi ra dễ dàng hơn. 3. Để bé nằm sấp: để bé nằm sấp trên đùi mẹ và dùng tay hỗ trợ phần đầu cho bé. Mẹ đảm bảo giữ cho phần đầu bé cao hơn phần ngực, vỗ nhẹ lưng bé. Chú ý: - 3 tư thế giúp bé ợ hơi, mẹ có thể luân phiên thay đổi. - Những ngày đầu tiên, mẹ cảm thấy lo lắng vì phần cổ của bé còn yếu (nên không muốn bế bé đứng hay để bé nằm sấp). Nhưng khi thực hiện đúng cách, phần đầu và cổ bé được hỗ trợ, bé sẽ an toàn và không cảm thấy khó chịu. - Động tác nằm sấp sẽ giúp, khuyến khích bé mau học cách nâng đầu lên, đó là 1 bước quan trọng khởi đầu cho khả năng vận động toàn thân sau này của bé. - Lặp đi lặp lại việc vỗ lưng nhẹ nhàng rất có hiệu quả, không nên dùng lực mạnh trên lưng của bé, vì nó không giúp bé ợ hơi hiệu quả hơn và tránh không để bé ọc ra 1 ít sữa trong mỗi lần ợ hơi sẽ làm bẩn quần áo,… II. Khi nào cho bé ợ hơi?1. Với trẻ khỏe mạnh: mẹ cần cho bé ợ hơi sau mỗi cữ bú. Tốt nhất, sau mỗi 60–90 ml sữa hoặc mỗi lần đổi bên ngực, mẹ nên cho bé ợ hơi trước khi tiếp tục bú. 2. Với bé bị trào ngược, nôn trớ hoặc đang có dấu hiệu đầy bụng, khó chịu: Mẹ phải cho ợ hơi nhiều lần, hãy cho bé ợ hợi mỗi khi bú xong 30 ml sữa hay sau mỗi 5 phút bú mẹ. 3. Nếu bé vẫn chưa ợ hơi: mẹ nên thay đổi tư thế của bé và thử lại sau một vài phút.Mẹ cần cho bé ợ hơi trước khi tiếp tục cho bú, nhất là cho bé ợ hơi sau khi bú xong. 4. Trong suốt 6 tháng đầu, không những phải cho bé ợ hơi mà sau mỗi cữ bú, mẹ nên bế thẳng đứng bé trong 10 – 15 phút để tránh không cho sữa trào ra. Đôi lúc bé thức giấc, khóc ban đêm cũng vì đầy bụng, cho bé ợ hơi sẽ ngủ trở lại.BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Các mẹ nên biết: chăm sóc trẻ khi bị ốm Các mẹ thường lúng túng không biết chọn loại thức ăn nào cho phù hợp khi con bị bệnh. Nhiều bà mẹ còn cắt bớt phần ăn của bé, không cho bé uống sữa, chọn chế độ ăn kiêng… Trong khi bé bị ốm, việc bổ sung chất dinh dưỡng cho bé là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, phải có phương pháp và có sự tư vấn, hướng dẫn cho phù hợp với một số loại bệnh thường gặp ở trẻ. 1. Khi bé bị ho Khi bị ho bé thường lười ăn, dễ nôn trớ. Vì vậy, các mẹ chọn thực phẩm cho con ăn phải chú ý đủ chất dinh dưỡng cho bé trong giai đoạn điều trị và cách ăn thế nào để bé không bị nôn ra hết. Bé ho có đờm phải chọn món ăn có nhiều nước có tác dụng làm loãng đờm, nhớt ở cổ họng bé, giúp bé không bị kích thích ho nhiều. Ngoài việc các mẹ cho bé đi khám và dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ, trong chế độ ăn của bé các mẹ nên chọn loại món ăn dễ tiêu, đủ chất dinh dưỡng như súp, cháo, sữa,… đảm bảo 4 nhóm (bột, béo, đạm, rau) và phù hợp với khẩu vị của bé, hạn chế món ăn chiên, xào có quá nhiều dầu mỡ. Tập trung những thực phẩm giàu sinh tố A, chất kẽm, sắt có trong thịt bò, gà, trứng và rau xanh… Đối với đồ uống, các mẹ cho bé uống nước ép cà rốt, táo, nho, lê hoặc các loại sinh tố ít ngọt hoặc hẹ chưng đường phèn, nước ép cà rốt pha mật ong. Nên chia nhỏ thành nhiều bữa ăn cho bé, tránh ép con ăn quá nhiều một lúc, trước khi cho con ăn nên cho uống vài thìa nước, sau để bé nằm sấp, vỗ nhẹ lưng bé giúp đờm, nhớt không đọng ở cổ bé. 2. Khi bé bị tiêu chảy Trẻ bị tiêu chảy, cơ thể mất nhiều nước. Vì vậy, ngoài bù nước cho bé bằng uống dung dịch oresol, các mẹ nên cho bé uống nhiều nước (nước lọc, nước canh), không được kiêng khem chỉ cho con ăn cháo trắng và muối mà phải bổ sung nhiều chất dinh dưỡng cho bé. Ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, tiếp tục cho bú sữa mẹ, hoặc bú bình nhiều lần. Người mẹ cần ăn nhiều đạm (thịt, cá) và hạn chế chất xơ (rau xanh). Bé trên 6 tháng tuổi, bổ sung thực phẩm giàu đạm, đường bột và vitamin: gạo, thịt lợn, gà, cá, trứng, cà rốt,… chế biến thành thức ăn dạng lỏng, dễ tiêu. Trong thời gian bé bị tiêu chảy nên giảm các thực phẩm giàu chất xơ, thức ăn có nhiều đường, đồ uống có gas,.. có hại cho sức khỏe và làm bé bệnh nặng thêm. 3. Khi bé bị sốt Bé bị sốt, cơ thể mất nhiều nước, khả năng tiết nước bọt giảm, vì vậy nguyên tắc đầu tiên các mẹ phải bổ sung thường xuyên nước cho con. Trường hợp bé đang bú mẹ, mỗi ngày cần bú 150ml sữa mẹ/kg cân nặng. Bé không còn bú, cho uống nhiều nước, nước hoa quả (cam, chanh, dừa, bưởi,…), uống sữa, ăn sữa chua… để cung cấp vitamin A, C đã mất do đi tiểu nhiều. Đối với trẻ đã ăn dặm, mẹ nên cho bé ăn đồ ăn loãng, dễ tiêu nhưng phải đủ chất dinh dưỡng. Một nguyên tắc chung với các bé bị ốm là phải chia nhỏ bữa ăn thành nhiều bữa trong ngày. 4. Bé bị ngạt, sổ mũi Khi bé sổ, ngạt mũi các mẹ nên cho bé ăn, uống đồ nóng, hạn chế thực phẩm nhiều đường. Uống nóng, ăn nóng sẽ giúp bé thông hơi và giảm chảy nước mũi. Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám dinh dưỡng 70 Nguyễn Chí Thanh, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
Chăm sóc trẻ bị viêm đường hô hấp trên I. Các biểu hiện viêm đường hô hấp trên ở trẻ em 1. Sốt Sốt là biểu hiện đầu tiên của viêm đường hô hấp trên. Trẻ thường sốt cao thành cơn, thân nhiệt từ 39 độ C trở lên. 2. Sổ mũi, chảy nước mũi Trẻ bị chảy dịch mũi, chảy nhiều dịch mũi trong, loãng, không có mủ và không có mùi. Trong dịch mũi chứa nhiều mầm bệnh, khi dịch mũi chảy ngược vào trong cơ thể lan ra các bộ phận khác chính là nguyên nhân khiến bệnh viêm đường hô hấp trên chuyển sang đường hô hấp dưới. 3. Ho Ho là một biểu hiện có lợi. Ho báo hiệu chấm dứt hoàn toàn đợt viêm nhiễm đường hô hấp trên ở trẻ. Triệu chứng ho về bản chất là để tống khứ vi khuẩn ra khỏi cơ thể. Tuy vậy, các mẹ cần theo dõi sát triệu chứng này. Ho kéo dài sẽ làm trẻ mệt mỏi, nôn trớ và chán ăn. 4. Khó thở Thường là triệu chứng khi trẻ bị viêm đường hô hấp dưới, trong trường hợp trẻ bị viêm thanh quản. Đây là một biểu hiện nguy hiểm, trẻ hít mạnh và thở ra khò khè. * Hệ hô hấp được tính từ mũi xuống đến phổi. Viêm đường hô hấp trên là bệnh bao gồm mũi, họng, xoang và thanh quản. Chữa bệnh viêm đường hô hấp trên ở trẻ em gồm điều trị các triệu chứng như sốt, ho, sổ mũi, khó thở,… Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.Vì vậy, nâng cao hệ miễn dịch, tăng cường sức đề kháng là giải pháp phòng bệnh tối ưu nhất. II. Chăm sóc trẻ bị viêm đường hô hấp trên1. Đưa trẻ đi khám và sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sỹ 2. Không cho trẻ ăn kiêng Trẻ mắc bệnh phải được bổ sung chất dinh dưỡng đầy đủ. Trẻ mắc bệnh thường chán ăn, khó ăn,… các mẹ phải khéo léo chia nhỏ thành nhiều bữa ăn để trẻ vẫn nhận được đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết. 3. Cho trẻ ăn nhiều rau xanh và hoa quả tươi để bổ sung chất xơ và vitamin 4. Chữa triệu chứng sốt - Mẹ cần chườm ấm cho bé: Dùng khăn nhúng vào nước bằng nhiệt độ cơ thể trẻ (37 – 40 độ C), vắt bớt nước rồi đắp vào vùng bẹn, nách, cổ (những vùng nhiều nếp gấp ra) sẽ giúp lỗ chân lông mở, thoát nhiệt nhanh. Cần thay khăn liên tục, hết ấm lại thay để khăn không bị lạnh, không làm trẻ có cảm giác rét run do nước lạnh ngấm vào người. - Cho trẻ uống đủ nước (tốt nhất là oresol) sẽ giúp hạ sốt hiệu quả. - Dùng thuốc hạ sốt: trong trường hợp trẻ sốt cao quá hoặc sau 2 ngày không thuyên giảm, mẹ có thể dùng những thuốc hạ sốt như: panadol, biwadol, efferalgan, tylenol,… 5. Chữa sổ mũi Mẹ dùng nước muối chuyên dụng để nhỏ mũi, làm sạch mũi cho bé, nên làm như vậy trước khi cho bé bú, ăn. 6. Chữa triệu chứng ho Mẹ nên tìm hiểu các phương pháp chữa ho (hỏi ý kiến bác sỹ) và tham khảo cách chữa ho bằng mật ong… * Khi bé bắt đầu xuất hiện triệu chứng khó thở, thở khò khè trong quá trình chữa bệnh viêm đường hô hấp trên, các mẹ cần đưa bé nhập viện ngay để được bác sỹ tư vấn về hướng điều trị tiếp. BS. Hoàng Ngọc Anh,Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
Chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng bào thai ở giai đoạn ăn dặm Trẻ nhỏ bị suy dinh dưỡng bào thai (sinh non – nhẹ cân,…), khi đủ 6 tháng tuổi bắt đầu được cho ăn (tập cho ăn dặm) có đủ 4 nhóm dưỡng chất nhưng rất nhiều bé ăn rất ít hoặc không chịu ăn… Mặc dù nhiều bà mẹ đã hết sức cố gắng nấu cháo và đổi bữa cho bé nhưng bé vẫn không chịu ăn, ngậm chặt mồm, khóc hoặc nhè ra, uống sữa bột cũng rất ít, chỉ khoảng hơn 200 ml/ngày và phải bón thìa trong khi bú sữa mẹ không được vì mẹ đã đi làm và sữa cũng ít dần đi. Theo ý kiến tư vấn của các chuyên gia dinh dưỡng, các bé bị suy dinh dưỡng bào thai thường có tốc độ tăng trưởng và phát triển kém hơn các bé sinh đủ tháng, đủ cân. Chế độ ăn hàng ngày của bé từ 6 – 7 tháng tuổi: 2 – 4 bữa bột đặc hoặc cháo + 600 ml sữa (bao gồm cả sữa mẹ + sữa công thức + sữa chua ) ,hoa quả chín. * Hiện tượng biếng ăn của bé có thể bắt nguồn từ nguyên nhân: - Nguyên nhân sinh lý: bé mọc răng, tập lẫy. - Nguyên nhân tâm lý: bố mẹ trộn thuốc vào thức ăn làm bé sợ, bị ép ăn nhiều nên sợ thức ăn. - Nguyên nhân bệnh lý: bé bị thiếu vi chất, bị suy dinh dưỡng, bé bị viêm họng, viêm amidan, tối loạn tiêu hóa. - Nguyên nhân khác: bé dùng kháng sinh lâu dài, thức ăn không phong phú hoặc không hợp khẩu vị. Nếu biếng ăn xuất phát từ nguyên nhân tâm lý, qua giai đoạn mọc răng…cơ thể bé sẽ tự động quay lại trạng thái bình thường sau khi trải qua thời kỳ đó. Mẹ nên chia nhỏ bữa ăn và đổi món thường xuyên cho bé. Nếu tình trạng biếng ăn kéo dài khiến bé không tăng cân hoặc sụt cân trong 02 tháng liền thì cha mẹ cần cho đi khám để được bác sỹ điều trị. Đối với biếng ăn tâm lý: không nên ép con ăn hết khẩu phần nếu bé không ăn được. Tạo không khí vui vẻ trong bữa ăn, không nên trộn thuốc hoặc các đồ ăn bé không thích vào cháo, bột của bé. Mỗi bữa ăn chỉ nên kéo dài 30 phút. Để xác định các nguyên nhân bệnh lý, mẹ cần đưa bé đi khám bác sỹ nhi, bác sỹ dinh dưỡng để có kết quả chính xác. Bởi vì, cơ thể bé thiếu 1 số vi khoáng chất cũng có thể dẫn đến biếng ăn, suy dinh dưỡng. Đối với trẻ phải điều trị kháng sinh trong thời gian dài, hệ vi sinh vật đường ruột của bé rất kém, mẹ phải tìm cách “cấy” lại hệ vi sinh vật đường ruột bằng cách cho bé ăn sữa chua hàng ngày, đồng thời thay đổi món ăn phù hợp cho bé, tăng cường tắm nắng và các vận động vui chơi cho bé. * Lưu ý: - Thức ăn bổ sung vào cháo (thịt, tôm, cá,…) được băm nhỏ với kích thước thô dần để bé tập nhai. - Bổ sung 1/2 thìa dầu ăn vào cháo của bé. (lưu ý: trộn dầu khi đã đổ cháo ra bát). - Cho bé ăn cả xác thịt, xác rau. - Không ninh xương ống, xương chân gà,… lấy nước dùng để nấu cháo. - Nên chọn loại sữa nhạt, có mùi vị gần giống sữa mẹ cho con ăn. Nếu tất cả mọi cố gắng của mẹ không cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng của bé, phải cho bé đi khám dinh dưỡng để được bác sỹ tư vấn và điều trị. Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
Năm mới – trao đổi với các bà mẹ về nguyên nhân và cách điều trị suy dinh dưỡng ở trẻ * Nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ Trẻ bị suy dinh dưỡng, nguyên nhân chính là do không được ăn uống đầy đủ, chế độ ăn thiếu năng lượng, nghèo nàn, không đủ các chất: đạm, mỡ, đường, vitamin và chất khoáng. Do sai lầm về phương pháp cho ăn như không được nuôi bằng sữa mẹ, ăn dặm quá sớm, kiêng khem quá mức khi trẻ bị bệnh nhất là khi bị tiêu chảy. * Yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng - Trẻ từ 6 – 24 tháng có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao nhất, đặc biệt là trẻ từ 7- 8 tháng tuổi vì lứa tuổi này trẻ bắt đầu ăn bổ sung và giảm bú mẹ. - Những trẻ bị mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm phổi, sởi, thường biếng ăn, ăn ít nên dẫn đến suy dinh dưỡng. - Suy dinh dưỡng cũng thường xảy ra ở trẻ sinh non, có cân nặng sơ sinh thấp (dưới 2,5kg). - Trẻ không được bú mẹ trong năm đầu tiên. - Những trẻ bị dị tật bẩm sinh (sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh, di chứng thần kinh, bại não). - Trẻ sống trong gia đình đông con, kinh tế eo hẹp. * Điều trị bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ - Phát hiện trẻ bị suy dinh dưỡng: các mẹ nên cân, đo chiều cao cho bé hàng tháng, theo dõi biểu đồ tăng trưởng ( trẻ dưới 2 tuổi cần được cân đo hàng tháng, trên 2 tuổi thì 3 tháng/lần,…) để xác định tốc độ phát triển bình thường, suy dinh dưỡng nhẹ, nặng,… qua đó tìm nguyên nhân để khắc phục sớm. - Suy dinh dưỡng là bệnh có thể điều trị khỏi nếu phát hiện sớm, xử lý kịp thời và có chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ. Trẻ suy dinh dưỡng thường kém ăn, nên cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng. Trẻ dưới 2 tuổi nên cho bé bú sữa mẹ, không nên cai sữa trước 12 tháng tuổi. Nếu người mẹ có điều kiện, tốt nhất cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Từ 6 tháng trở đi nên bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung (bột, cháo, cơm,…). - Với trẻ bị suy dinh dưỡng, chú ý tăng thêm năng lượng trong khẩu phần ăn có giá trị dinh dưỡng cao (thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh, hoa quả,…) - Với trẻ bị suy dinh dưỡng (vừa, nhẹ) nên cho uống bổ sung vitamin A để phòng bệnh nhiễm khuẩn, khô mắt. * Phòng bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ - Ngay từ lúc mang thai: mẹ cần ăn uống đủ chất, lao động nhẹ nhàng, nghỉ ngơi hợp lý, theo dõi sự tăng cân (tăng 10 – 12 kg), uống bổ sung viên sắt đề phòng thiếu máu, khám thai định kỳ để phát hiện sớm dị tật của thai nhi. - Trẻ cần được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý. - Chăm sóc và phòng các bệnh nhiễm khuẩn. BS. Hoàng Ngọc Anh,Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
Bé nổi những nốt mẩn, ngứa khi về quê Sau đợt nghỉ tết dài, các bé được bố mẹ cho về quê, thấy con mình nổi mẩn, ngứa một số nơi, không sốt, khó chịu và gãi nhiều, có trường hợp làm bé mất ngủ và bố mẹ cảm thấy lo lắng, bôi đủ các loại thuốc mà vẫn không có hiệu quả, từ trước đến nay bé không bị như thế bao giờ. Bác sỹ mách nhỏ các mẹ một số điều để giúp các mẹ tìm nguyên nhân và yên tâm, bình tĩnh xử trí các tình huống tương tự cho bé yêu, tránh trường hợp quá lo lắng và bôi, uống nhiều loại thuốc có thể dẫn đến hỏng da của bé vì da các bé rất non nớt, dễ tổn thương hoặc ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của bé. Bé đã quen với điều kiện ở thành phố: khí hậu nóng và khô hơn, ít cây cối và hồ nước, ít động vật hơn, các bé luôn được giám sát việc chơi đùa trong điều kiện tốt hơn, sạch sẽ hơn, ít tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, động vật. Ngoài bố mẹ, cô giáo hay người trực tiếp chăm sóc bé là người được ôm ấp, chơi đùa với bé, còn mọi người ít có điều kiện để được gần các bé. Những ngày nghỉ lễ dài bé được về quê chơi, họ hàng ai ai cũng muốn được ôm ấp bé, bé được tiếp xúc nhiều hơn với các loại mùi vị của nhiều người, cây cối, động vật, vật dụng mà bé không quen, hay việc tắm rửa của các bé cũng không được thuận tiện như ở thành phố, việc giặt giũ quần áo và phơi cho bé cũng không an toàn, có thể chưa được khô sạch, hay không có điều kiện là khô, có thể có một vài loại côn trùng từ cây cối, vật nuôi, chim…bám vào quần áo khi phơi, khi mặc, hoặc bé bị côn trùng đốt rồi gãi, nguồn nước sinh hoạt, thời tiết giao mùa… . Tất cả những điều trên đều có thể là điều kiện thuận lợi gây nhiễm khuẩn da non nớt của bé. Bên cạnh đó những ngày tết do sự thay đổi sinh hoạt, điều kiện sống, bé chưa kịp thích nghi, nên việc ăn ngủ của bé bị xáo trộn làm ảnh hưởng đến miễn dịch của các bé, nên có thể sẽ làm cho tình trạng ngứa nặng hơn, gãi nhiều, ngủ không yên giấc, bố mẹ càng lo lắng bôi nhiều loại thuốc nên không thấy hiệu quả. Lời khuyên cho các mẹ Khi lên thành phố các bạn nhanh chóng lau dọn nhà cửa, giũ chăn đệm sạch sẽ, sấy khô hoặc là khô ga, thay ga trải giường, tranh thủ có nắng cần mặc đủ ấm và đưa bé ra tắm nắng, trong lúc này nên mở cửa thông phòng, khi bé về các bạn đóng các cửa lại và làm ấm phòng kẻo bé lạnh. Tất cả quần áo, đồ dùng đi đường về không để vào phòng ngủ của bé, quần áo giặt, phơi ở quê chưa khô cần giặt sạch lại, thậm chí các loại quần áo nếu luộc được nước nóng càng tốt, không thì giặt khô, là nóng lại hết để diệt khuẩn. Mọi đồ dùng rửa hoặc lau sạch, sấy khô mới đưa cho bé chơi. Việc tắm rửa cho bé: Trước tiên các mẹ chịu khó sử dụng bằng phương pháp dân gian như đun nước lá chè xanh (chè tươi) hoặc lá sài đất, kinh giới, hoặc quả mướp đắng, hoặc lá kim ngân, bồ công anh…, đun sôi khoảng 10 phút, sau đó để nguội bớt khoảng 37 độ, vừa đủ ấm để tắm rửa hàng ngày cho bé. Tắm, rửa như vậy khoảng 1 tuần. Ngừng tất cả các loại thuốc bôi. Bên cạnh đó các mẹ cần tăng cường dinh dưỡng cho con: ăn đủ chất dinh dưỡng, uống đủ sữa theo lứa tuổi, uống thêm sinh tố quả tươi từ nhiều loại quả, uống đủ nước, và nhanh chóng ổn định sinh hoạt cho bé, những ngày này mẹ nên nghỉ thêm 2 - 5 ngày (nếu được), để giúp chăm sóc, theo dõi bé. Không nên quá vui lễ hội mà để tình trạng ngứa của bé kéo dài. Khoảng 1 tuần tình trạng ngứa không cải thiện hoặc bé có những dấu hiệu bất thường như nổi nhiều mụn nước, viêm tấy các nốt, chảy dịch vàng, hoặc sốt, ho….cần đưa bé đến bệnh viện chuyên khoa để được bác sĩ khám và điều trị kịp thời Chúc mẹ và bé thành công.BSCKII. Mai Thị Lệ Tịch, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
Chăm sóc trẻ nhỏ - những điều các bà mẹ nên biết Chăm sóc trẻ nhỏ là công việc rất khó, nhất là những người mới làm bố, mẹ lần đầu. Do vậy, trang bị cho mình những kiến thức cơ bản là điều hết sức cần thiết. Dưới đây là những sai lầm gây nguy hại cho trẻ mà các bậc cha mẹ dễ mắc phải. 1. Lay, lắc người, tung bé lên khi chơi với bé Lay mạnh người trẻ để đánh thức con dậy, khi chơi với bé các mẹ lắc con mạnh, tung bé lên để đón bắt,… Tất cả đều không tốt và gây nguy hiểm cho bé, thậm chí dẫn đến tử vong. Hội chứng trẻ bị rung lắc (bị xuất huyết não) thường xảy ra ở bé sơ sinh dưới 6 tháng tuổi. Ở giai đoạn này, kích thước và trọng lượng đầu của trẻ chiếm 1/4 so với cơ thể. Trong hộp sọ, có những khoảng trống giữa não và xương sọ cho phép não tiếp túc lớn và phát triển. Não của trẻ khá mềm, màng não mỏng, cơ ở cổ quá yếu không đủ sức nặng đỡ đầu, khi bị rung lắc sẽ có khuynh hướng xoáy, gập,… không kiểm soát được. Khi rung lắc, hộp sọ mềm của bé không chịu được, gây ra sức va đập trở lại với xương sọ, làm dập não, tăng áp lực, phù và chảy máu não. Các tĩnh mạch uốn dọc theo phía ngoài não cũng mỏng manh, dễ rách, gây chảy máu, tăng áp lực hộp sọ,… Vì thế, bố mẹ đừng chơi đùa quá đà với trẻ, không nên tung bé, xốc nách,… khiến bé bị thay đổi tư thế đột ngột gây nguy hiểm cho bé. 2. Để bé ngủ ngày, thức đêm Các mẹ cần giúp bé phân biệt được sự khác nhau giữa ngày và đêm. Ngày bé có thể chơi nhưng đêm bé cần phải ngủ. Mẹ hãy giữ cho phòng ngủ của bé tràn đầy ánh sáng vào ban ngày, còn tối đến hãy tắt hết đèn để bé biết cần phải đi ngủ. 3. Cho bé ngủ chung với bố mẹ Ngủ cùng bé sẽ tạo cơ hội liên kết mẹ – con và cho con bú được thuận tiện vào ban đêm. Tuy vậy, ngủ chung với bố mẹ gây cho bé bị ngộp, khó thở, bị bố mẹ đè hoặc ép vào tường,… có trường hợp gây hội chứng tử vong đột ngột sơ sinh. 4. Bế trẻ ra chỗ đông người Ở trẻ sơ sinh, hệ miễn dịch chưa phát triển hoàn thiện rất dễ bị nhiễm khuẩn. Do vậy, hạn chế bế bé ra chỗ đông người sẽ không tốt cho sức khỏe của bé, tránh bị lây nhiễm và bị các vi khuẩn có hại tấn công. 5. Thoa phấn rôm sau khi tắm Thói quen này của các mẹ rất có hại cho bé, nhất là ở vùng cổ, nách, bẹn,… nếu vùng da này chưa được lau khô hẳn sẽ bị bết phấn rôm, làm bịt kín lỗ chân lông khiến bé dễ bị hăm hơn. Mặt khác, khi thoa phấn, bé dễ bị hít phải bụi phấn, ảnh hưởng tới đường hô hấp, dễ bị viêm nhiễm. Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
Cách nấu bột cho bé mới bắt đầu ăn dặm theo phương pháp truyền thống Đất nước của chúng ta có rất nhiều sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm tươi ngon, thuận lợi cho việc chế biến món ăn cho bé mỗi ngày, phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình, tập quán, địa phương, dân tộc. Các gia đình không cần phải mua những loại bột đóng hộp sẵn, bởi bé tập ăn còn rất ít, cần cho bé thử dần và được thưởng thức đa dạng thực phẩm, tươi ngon theo mùa. Trong trường hợp phải di chuyển hoặc đi du lịch xa thì các mẹ có thể tạm mua một, hai hộp bột ăn dặm sẵn tùy thuộc tháng tuổi, thời gian di chuyển, mang theo đi đường phòng có sự cố tàu, xe, máy bay… mà mình chưa sẵn sàng chuẩn bị mà thôi, chuẩn bị đầy đủ sữa mà bé vẫn thường dùng là rất cần thiết. - Tròn 6 tháng, trẻ bắt đầu tập ăn dăm, các mẹ sẽ từng bước thực hiện như sau (theo nguyên tắc tăng dần độ đặc của bột, bắt đầu là bột loãng đến bột sệt, đến bột đặc): + Tuần 1: bột loãng (bột 5%) + Tuần 2: Bột sệt (bột 10%) + Tuần 3, 4 trở đi: Bột đặc (bột 20%) * Bột loãng: - Tuần thứ 1: Ninh xương lợn và cà rốt (hoặc rau củ). Xương sống lợn: 100g chặt nhỏ ninh nhừ cùng 50g cà rốt (hoặc rau củ). Bột gạo ngon: 5g (chỉ bột gạo, không thêm bất cứ loại đậu hay ngũ cốc, thực phẩm gì lẫn vào). + Trong 1- 3 ngày đầu của tuần 1: 100ml nước (xương và cà rốt) để nguội + 5g bột gạo quấy cho tan hết vón, sau bắc lên bếp vặn vừa lửa quấy đều tay cho đến khi bột sôi đều, chuyển nhỏ lửa, thỉnh thoảng quấy cho đến khi bột chín nhuyễn, thơm là được, đổ ra đĩa cho nguội bớt ở nhiệt độ 40 – 50 độ C là có thể cho bé ăn. + Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6,7 của tuần 1: 100ml nước xương đã ninh với rau củ + 1 thìa rau củ (củ đã ninh trong xương) xay (hoặc miết thật nhỏ) + 5 g bột. Quấy bột và nước như trên, khi gần bắc ra thì cho thìa rau củ đã xay nhuyễn vào sôi 3 – 5 phút nữa rồi bắc ra, đổ ra đĩa để nguội ở nhiệt độ vừa cho bé ăn như trên. * Bột sệt: - Tuần thứ 2: Không cần phải ninh xương, chỉ cần nước trắng sạch, thực phẩm tươi (các loại thịt, rau củ, rau xanh), quấy với bột, thêm dầu, mỡ. + Ngày 1, 2 của tuần 2: 100ml nước lã sạch + 10g bột + 1/2 thìa thịt thăn bò (đã xay nhuyễn) + 1 thìa rau củ hoặc rau xanh các loại (đã xay nhuyễn) + 1/2 thìa dầu, sử dụng thìa 5g. Cho thịt vào trong nước lạnh quấy cho tan đều, vớt hết những gân, sợi nếu có thì bỏ đi, tiếp theo cho 10g bột gạo vào nước vừa hòa thịt quấy cho tan khỏi vón, tiếp theo cho lên bếp vừa lửa quấy đều tay cho đến khi thịt, bột chín quyện đều, sánh, đậy vung, hãm nhỏ lửa, thỉnh thoảng mở ra quấy khỏi cháy, khoảng 10 phút bột chín, thơm hoàn toàn thì cho rau vào quấy đều và sôi khoảng 5 phút, bắc ra cho 1/2 thìa dầu vào, quấy đều tay, đổ ra đĩa, chờ nguội ở nhiệt độ đảm bảo cho bé ăn. + Ngày thứ 3, 4 của tuần 2: số lượng nước, bột, rau, dầu không thay đổi, nhưng tăng thịt bò lên 1 thìa. Cách làm như trên. + Ngày thứ 5,6,7 của tuần 2: số lượng nước, bột, rau, dầu không thay đổi, nhưng tăng thịt bò lên 1,5 thìa. Cách làm như trên. * Bột đặc: - Tuần thứ 3: Nước 100ml + thịt các loại (lần lượt là bò, lợn, gà) + bột 20g + rau 2 thìa + dầu ăn 1 thìa. Cách làm như trên. - Tuần 4 trở đi: Nước 100ml + thịt, trứng (lòng đỏ 1/3 quả), cá, tôm, cua + bột 20g + rau 2 – 3 thìa + dầu ăn 1 – 1,5 thìa. Cách làm như trên. * Chú ý: - Các loại thực phẩm (thịt, trứng, cá, tôm, cua, rau…) loại nào mới ăn bữa đầu cũng cho bé ít và tăng dần lên để thăm dò xem bé có dị ứng hay không, đặc biệt ở những bé hay dị ứng hoặc gia đình có tiền sử dị ứng - Tháng thứ 7: 01 bữa/ngày. Thời gian thích hợp: lúc 9h sáng. Số lượng: 60 - 80 ml/bữa (khi đã ăn đến bột đặc thì thành phần trong mỗi bữa nên có đủ 4 nhóm thực phẩm tươi: thịt (các loại hoặc trứng, cá, tôm, cua): 25g. Dầu, mỡ: 5 - 8g/bữa. Rau 2 thìa cà phê, không ép bé ăn quá nhiều. - Tháng thứ 8: Phải đảm bảo cho bé 2 bữa bột/ngày. Thời gian thích hợp: 9h và 14 – 15h. Số lượng: 80 – 100ml/bữa (trong đó đầy đủ bốn nhóm thực phẩm: thịt (các loại hoặc trứng, cá, tôm, cua: 25g. Dầu, mỡ: 5 – 10g/bữa. Rau 2 thìa cà phê). - Tháng thứ 9 trở đi: Phải đảm bảo cho bé 3 bữa cháo/ngày. Giờ ăn phù hợp: 8giờ ; 11-12giờ; 18 giờ. Số lượng: tăng dần theo tháng (trong đó đầy đủ các loại đạm từ thịt, trứng, cá, tôm, cua: 25g/bữa. Dầu, mỡ: 5 - 10g/bữa. Rau: 3 thìa cà phê/bữa), có thể bắt đầu cho vào cháo một giọt nước mắm đầu tiên nếu thấy cần thiết, nếu không thì chờ khi bé được tròn tuổi hãy cho 1-2 giọt/bữa . Tập cho bé ăn cháo từ cháo sệt đến cháo đặc đến cháo nguyên hạt, và tăng dần độ thô. - Ngoài ra các mẹ có thể gia giảm thực phẩm cho phù hợp với hệ tiêu hóa của bé, ví dụ: Bé táo bón cần cho thêm rau nhuận tràng (mồng tơi, rau lang, rau đay…), bé đi ngoài quá nhiều lần hoặc phân lỏng thì cần giảm rau hơn bình thường đặc biệt là các loại rau nhuận tràng, hoặc chuyển sang rau dạng củ, giảm dầu, mỡ… Giai đoạn này nếu bé không thích thú ăn theo món ăn truyền thống thì các mẹ cần thay đổi phương pháp ăn, cách chế biến món ăn đa dạng, phù hợp sở thích, khẩu vị của bé, đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm: Đạm, lipid, bột đường, vitamin và khoáng chất. Các mẹ cần tham khảo phương pháp ăn dặm “BLW” của Châu Âu và phải thật kiên trì để giúp con vui vẻ, thoải mái, hào hứng với bữa ăn, điều này cũng giúp con chuyển hóa tốt hơn, tránh stress cho bé và mệt mỏi cho người chăm, bé sẽ thông minh và tự chủ hơn trong cuộc sống. * Một số nguyên tắc: Phải đảm bảo đủ sữa theo tháng tuổi, vì năm đầu đời của bé sữa vẫn là chính, sữa mẹ là tốt nhất. Không ép bé ăn quá nhiều bột, cháo. Cần ăn vừa đủ số lượng phù hợp, tăng dần theo tháng tuổi (số bữa, số lượng). Cũng đừng thấy bé ăn ngon (bất kể món gì) mà người lớn cứ cho bé quá liều bé sẽ đầy bụng khó tiêu và dễ bỏ sữa, thậm chí lần sau bé sẽ sợ ăn, lười ăn, thậm chí ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa của bé. Ăn khi bé thích, nếu mỗi bữa bé ăn quá ít mẹ nên tăng thêm số bữa/ngày, đừng bằng mọi cách để ép bé ăn tăng số lượng cho một lần, đừng kéo dài thời gian cho mỗi bữa, chỉ nên 20 – 30 phút/ bữa. Ngồi ăn một chỗ, nên có bàn, ghế cho bé ngồi, bé rất thích được ngồi bàn ăn cùng người lớn, hãy nên làm như vậy. Luôn tạo cho bé không khí đầm ấm vui vẻ trong bữa ăn. Dù có bị bôi bẩn nhem nhuốc lúc ăn cũng vẫn phải tập dần cho bé từ bốc thức ăn đến cầm thìa, dĩa xúc ăn. Khi bắt đầu ăn dặm là khi cần cho bé tập ăn quả tươi các loại để bổ sung vitamin: khởi đầu là một loại , sau đó sẽ nhiều loại quả tươi xay hỗn hợp, tăng dần theo tháng tuổi, nên uống sau ăn một giờ hoặc giữa 2 bữa ăn, hoặc sau khi đi tắm nắng về. Tập dần cho bé thưởng thức các món ăn tốt của người lớn. BSCKII. Mai Thị Lệ Tịch, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh