Tranh luận: CLB những người muốn tìm hiểu đạo Phật

Thảo luận trong 'Các CLB' bởi zetafashion, 11/2/2011.

  1. Giông gió

    Giông gió Thành viên mới

    Tham gia:
    12/10/2016
    Bài viết:
    47
    Đã được thích:
    26
    Điểm thành tích:
    8
    Mình cộng tác thiện nguyện tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo có rất nhiều chương trình hay và ý nghĩa, các bạn quan tâm có thể tìm hiểu tren fb hoặc website, bạn nào có hứng thú có thể làm cộng tác viên thiện nguyện, hoặc cộng tác viên có hưởng lương nhé.

    Các chương trình của Trung tâm ví dụ như:
    - Chương trình dạy thư pháp và chữ Hán miễn phí (10 năm rồi)
    - Chương trình dạy tiếng anh miễn phí cho trẻ em
    - Các khóa trải nghiệm, tu tập cho người lớn và trẻ em
    - Trại hè trong chùa
    - Các khóa giáo dục trải nghiệm và dạy kỹ năng cho trẻ em (phi lợi nhuận)
    - Xây dựng trường học miễn phí cho trẻ em miền núi
    - ....

    FB: https://www.facebook.com/VNRCHC/
    Website: http://vnrchc.org/

    Sắp tới Trung tâm có tổ chức chương trình trải nghiệ "Chìa khóa của An lạc" các bạn xem thông tin dưới đây:

    [​IMG][​IMG][​IMG]LÀM THẾ NÀO????
    - Để sống tự do trước những áp lực và các luồng ảnh hưởng tiêu cực.
    - Để thay đổi cách nhìn, vượt qua khó khăn, trở ngại.
    - Để làm chủ suy nghĩ và cảm xúc.
    - Để tâm bình an và trí sáng suốt.

    [​IMG][​IMG][​IMG] Đức Phật dạy rằng: " Thật sự giác ngộ, thật sự hiểu rõ, chúng ta mới chịu buông bỏ. Buông xuống được sẽ giác ngộ, tâm sẽ thanh tịnh"

    [​IMG][​IMG][​IMG] Đời vô thường, biết buông bỏ chính là chìa khóa của An Lạc.

    KHÓA TU TẬP " CHÌA KHÓA CỦA AN LẠC"
    Tại: Chùa Cổ Lễ, Nam Định
    Thời gian: 02 ngày Thứ 7 và Chủ Nhật (Ngày 5 - 6/11/2016)
    Để biết thông tin chi tiết, quý vị vui lòng xem trong link dưới đây:

    https://docs.google.com/…/1nzOnnMq8TwP_4vzctqQwCs2tuE…/edit…
    Đăng ký tham gia: Quý vị có thể đăng ký qua 2 hình thức:
    1. Đăng ký trực tiếp tại văn phòng Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo.
    - Địa chỉ: Phòng 1, tầng 2, số 59 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
    - Hotline: 0168 295 9455
    2. Đăng ký online:
    Quý vị liên lạc qua điện thoại để nhận mẫu đăng ký qua E-mail, sau đó điền và gửi lại vào hộp thư của Trung tâm: ttvhtg@gmail.com.

    Quý vị quan tâm vui lòng đăng ký trước ngày 02/11.
     
    Đang tải...


  2. Nguyễn Thu Giang 90

    Nguyễn Thu Giang 90 Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    15/9/2016
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    13
    Điểm thành tích:
    8
    CÓ CÕI TRỜI KHÔNG ?

    Câu hỏi của Diệu Tâm

    Hỏi: Kính thưa Thầy! Trời có phải là một trong sáu nẻo luân hồi, nếu làm thiện tương xứng sẽ sanh ở đó. Trong kinh có nói 18 tầng trời hoặc 36 cõi trời. Xin Thầy chỉ cho con rõ?

    Đáp: Sáu nẻo luân hồi chỉ là một sự diễn biến nhân quả nghiệp báo, do con người và chúng sanh vì vô minh tạo ra mà phải gánh chịu.

    Mười tám tầng trời chỉ cho 18 trạng thái thiện.
    Ba mươi sáu cõi trời chỉ cho ba mươi sáu pháp thiện.

    Ví dụ: Thầy nhập Sơ Thiền tức là Thầy đã ở cõi Sơ Thiền Thiên, nhập Không vô biên xứ tưởng tức là Thầy đã ở cõi Không vô biên xứ Thiên, nhập nhẫn nhục tức là Thầy đã ở cõi Đâu suất Thiên...Như vậy có phải đợi chết rồi mới sanh về đó đâu? Chỉ cần thực hiện diệt một ác pháp tăng trưởng một thiện pháp là sanh vào cõi trời đó ngay liền, nhưng con phải hiểu thiện pháp có rất nhiều, nên có 33 cõi thiện pháp mà trong kinh gọi là 33 cõi trời, 33 cõi trời tức là 33 trạng thái thiện pháp.

    Đó là một trạng thái giải thoát của tâm, khi tâm đã đạt mức độ thiện ở đó, thì tương xứng với cảnh giới Thiện ở đó. Có hiểu được như vậy mới hiểu được đạo Phật.

    Dù cho có các cõi Trời thật sự đi nữa mà tâm chẳng thiện thì cũng chẳng có ích lợi gì cho chúng ta, phải không hỡi con ?
    Dù cho không có các cõi Trời đi nữa, mà tâm chúng ta sống trong thiện pháp thì tâm chúng ta cũng được an vui, hạnh phúc như thường. Và như vậy, không phải sống trong cõi Trời sao? Chứ đâu phải chết mới được sanh về đó. Chết được sanh về cõi trời đó là một ảo tưởng, một giấc mộng mơ hồ của những người thiếu óc thực tế khoa học vô minh không sáng suốt bị các tôn giáo lừa đảo.

    Sống đang ở trong cõi Trời thì chết về đâu các con có biết không? Hỏi tức là trả lời. Do thế ngay từ trong cảnh sống ở thế gian mà người nào biết ngăn ác, diệt ác pháp thì người ấy đang sống trong Thiên Đàng chứ không phải Thiên Đàng ở cõi giới nào cả.

    Thế giới siêu hình Thiên Đàng là do các tôn giáo dựng lên, chỉ là một cảnh giới do tưởng ấm sanh ra, để an ủi tinh thần của những người yếu đuối đang gặp khổ đau tai nạn, để nuôi hy vọng làm thiện được sanh về đó...

    Người tu sĩ đạo Phật vì thấu rõ nhân quả nghiệp báo, nên tự lực cứu mình bằng cách sống trong thiện pháp: “Các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Đây là lời kêu gọi thiết tha do lòng đại từ bi của đức Phật đối với chúng ta.

    Nói đến thế giới thì chúng ta phải nói đến sự duyên hợp, có nhiều duyên hợp lại mới thành thế giới, vì thế một thần thức (thức ấm) đơn độc không thể là thế giới được. Vì thế giới hữu hình không có thì thế giới siêu hình và linh hồn cũng không có.

    Ví dụ: Chúng ta lấy một cây cột mà bảo rằng là cái nhà thì không thể được, vì cái nhà phải có nhiều duyên hợp lại như: cột, kèo, cửa sổ, cửa cái, vách, đòn tay, ngói gạch hợp lại thì mới gọi là cái nhà được.

    Tóm lại, thế giới siêu hình không có mà chỉ có những trạng thái, từ trường thiện, ác pháp của nhân quả đang phóng xuất theo thân hành, khẩu hành và ý hành của sự vận hành nhân quả.


    (Trích Đường Về Xứ Phật tập III)

    (http://metintrongphatgiao.blogspot.com/2010/10/co-coi-troi-khong.html)
     
    Bình Minh hương trầm thích bài này.
  3. Nguyễn Thu Giang 90

    Nguyễn Thu Giang 90 Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    15/9/2016
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    13
    Điểm thành tích:
    8
    Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ là Một Sản Phẩm Tưởng Tượng

    Hình ảnh quen thuộc ngày nay của Phật Bà Quan Âm là một phụ nữ đẹp dịu hiền mặc áo trắng tay cầm bình nước Cam Lồ, tay cầm nhành dương liễu đứng trên một tòa sen trước một rừng trúc ở biển Nam Hải.

    Thật ra Quan Thế Âm Bồ Tát chỉ là một sản phẩm tưởng tượng.

    Quan Thế Âm hay Quan Âm còn có tên khác là Avalokitesvara. Cả hai tên Avalokitesvara và Quan Âm đều có nghĩa là "nghe được tiếng kêu than của chúng sinh".

    Avalokitesvara là một bồ tát nam trong Phật giáo Ấn Độ. Qua một quá trình tiến hóa trong lịch sử, Avalokitesvara đã dần dần được những soạn giả của kinh điển cho biến thể thành một bồ tát nữ được yêu chuộng và phổ biến rộng rãi trong Phật giáo Trung Hoa và Việt Nam gọi là Quan Âm.

    Khảo nghiệm các hình tượng của Quan Âm trong lịch sử cho thấy sự biến thể nầy xẩy ra dần dần qua nhiều thế kỷ. Một số hình tượng của Avalokitesvara diễn tả một người đàn ông mặc áo giáp hở ngực có râu, một số hình tượng khác diễn tả một người đàn ông tướng mạo dịu dàng không khác phụ nữ mấy. Những hình tượng nầy vẫn còn thấy ở một số chùa chiềng hiện tại trong và ngoài Ấn Độ.

    Sau khi Phật giáo được truyền sang Trung Hoa, Quan Âm không những là bồ tát cứu khổ cứu nạn mà còn là bồ tát mang đến sự sống, có nghĩa là ban bố con cái cho những người hiếm mọn. Vì vai trò nầy mà có nhu cầu để Quan Âm là một người đàn bà thay vì đàn ông (mới thích hợp hơn cho các vấn đề liên quan đến việc sinh sản của phụ nữ). Các hình tượng Quan Âm do đó biến đổi dần dần từ một người đàn ông hẳn hoi ra thành những hình tượng mềm mại dịu dàng với phái tính không rõ rệt. Một vài kinh sách soạn ra trong thời nầy rồi bắt đầu diễn tả Quan Âm như một phụ nữ (một "mẹ từ bi") và ý niệm nầy dần dần bắt rễ trong lịch sử Phật giáo.

    Nhiều sử gia cho rằng người đã có công nhất (mặc dù chỉ gián tiếp) trong việc tạo dựng và phổ biến hình ảnh Quan Âm như một "mẹ từ bi" chính là Hoàng Hậu Võ Tắc Thiên ở thế kỷ thứ 7.

    Võ Tắc Thiên là một người rất tôn sùng đạo Phật. Trong quá trình gầy tạo và củng cố địa vị là một Hoàng Đế phụ nữ duy nhất trong một nền văn hóa cực kỳ trọng nam khinh nữ Trung Hoa, Võ Tắc Thiên luôn luôn cố ý đề cao vai trò của phụ nữ trong xã hội. Một cách hữu hiệu để đạt mục đích nầy là phát động và phổ biến ý niệm Quan Âm là một phụ nữ. Ngoài ra bà cũng có tham vọng được xem là một bồ tát. Bà đã cho đúc rất nhiều tượng phật mang hình dáng của chính bà và rất nhiều tượng Quan Âm mang hình ảnh một người phụ nữ dịu hiền. Đối với Võ Tắc Thiên, việc Quan Âm là một phụ nữ rất quan trọng vì mọi người đều cần có một bồ tát cứu nạn và nếu vịbồ tát nầy là một phụ nữ thì vai trò của phụ nữ cũng sẽ được nâng cao lên trong xã hội.

    Nhiều kinh sách viết soạn trong thời kỳ nầy (thừa lịnh Võ Tắc Thiên) còn truyền lại đến ngày nay đã góp phần rất lớn vào việc quảng bá hình ảnh Quan Âm là một phụ nữ.

    Có kinh kể rằng Avalokitesvara là một hoàng tử sống ở miền nam Ấn Độ đã bỏ hết sự giàu sang để đi tu và nguyện thành bồ tát để cứu độ chúng sinh. Tuy vậy, trong lịch sử không hề có gì để kiểm chứng được sự hiện hữu thật sự của vị tiểu sử hoàng tử nầy.

    Trong kinh Mani Kanbum (được công nhận có thể là chứa đựng những lời dạy "nguyên thủy" nhất của Phật giáo) kể rằng Avalokitesvara được “sinh ra trong một tia sáng từ con mắt phải của Phật Di Đà”. Không có tài liệu nào trong Phật học cho thấy Avalokitesvara xuất phát từ một nhân vật có thật.
    (Ngay cả Phật Di Đà cũng chỉ là một nhân vật tưởng tượng; ngoại trừ những câu chuyện huyền bí trong một số kinh điển thì không sử gia nào có thể xác định được tiểu sử thật sự của Phật Di Đà).

    Chỉ có một điều duy nhất tất cả kinh sách đồng ý là Avalokitesvara biểu bượng cho từ bi và trí tuệ, nổi tiếng nhất là đặc tính cứu độ chúng sinh.

    Hiện tượng "mẹ từ bi" xảy ra trên khắp thế giới trong nhiều tôn giáo. Đây là một nhu cầu cần thiết của tín đồ, họ cần có một đấng thiêng liêng nhiều phép thuật thần thông và dịu hiền chăm lo cứu độ họ qua những tai biến trong cuộc đời. Một trong những hiện thân phổ biến rộng rãi của Quan Âm có 11 đầu, ngàn tay, ngàn mắt. Vì tín đồ cần có một người có thể nhìn thấy mọi sự việc và can thiệp giúp đỡ mọi người, mọi nơi, mọi lúc nên họ đã tạo dựng ra một bồ tát thích ứng với nhu cầu của họ.

    Một thí dụ điển hình về việc “tạo dựng một bồ tát thích ứng với nhu cầu” của người ta là Quan Âm Thị Kính của Việt Nam. Quan Âm Thị Kính là nhân vật chính trong một sản phẩm văn hóa soạn thảo bởi một tác giả vô danh. Từ là một nhân vật tưởng tượng, Quan Âm Thị Kính cũng dần dần được sùng bái và thờ tự trong dân gian. Có một sự bất đồng nhất về gốc gác của Thị Kính. Có sách cho rằng Thị Kính là “con gái của nhà họ Mãng, quận Lũng Tài, thành Đại Bang, nước Cao Ly”, có nguồn cho rằng Thị Kính xuất thân từ một ngôi chùa cổ gọi là Pháp Vân Tự (hay là chùa Dâu) ở Bắc Ninh. Phật Bà chùa Dâu được xem là Phật Bà Quan Âm Thị Kính.

    Hình ảnh Quan Âm Thị Kính bồng con trên tay rất gần gũi và tương đồng với những hình tượng Quan Âm và đồng tử của Trung Hoa. Theo các sử gia, tượng Quan Âm tay ôm đồng tử lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử tín ngưỡng Việt Nam vào thế kỷ thứ 17 và đã trở nên nổi tiếng vào thế kỷ thứ 18, hiện nay vẫn còn bảo lưu tại nhiều chùa.

    Phần lớn Phật tử vì không có khả năng hay phương tiện nghiên cứu nên không biết rằng Quan Âm chỉ là một sản phẩm tưởng tượng. Họ tin tưởng triệt để vào sự “linh hiển” của Quan Âm Bồ Tát. Góp thêm phần vào việc giả chân bất định, những tăng sư nào đó đã còn chế đặt ra ba “ngày vía” của nhân vật không có thật nầy : 19 tháng 2 là kỷ niệm Quan Âm “đản sinh”, 19 tháng 6 là kỷ niệm Quan Âm “thành đạo” và 19 tháng 9 là kỷ niệm Quan Âm “xuất gia”. Phần lớn Phật tử đều ăn chay và các chùa chiềng đều tổ chức những lễ nghi trang trọng trong 3 ngày nầy.

    Thật ra thì một số Phật tử khác tuy đã có nghe hay đọc qua về nguồn gốc của Quan Âm nhưng họ vẫn không quan tâm lắm. Đối với họ thì trong những tình cảnh ngặt nghèo nhất họ chỉ cần có một đấng cứu khổ cứu nạn, một mẹ từ bi; và Quan Âm là một giải đáp sẵn có, thuận tiện và hợp lý nhất. Họ không cần, và không muốn, biết đến sự kiện Quan Âm chỉ là một sản phẩm tưởng tượng.
     
  4. Hồng Tuyên

    Hồng Tuyên Thành viên tích cực

    Tham gia:
    12/3/2016
    Bài viết:
    637
    Đã được thích:
    50
    Điểm thành tích:
    28
     
  5. Hồng Tuyên

    Hồng Tuyên Thành viên tích cực

    Tham gia:
    12/3/2016
    Bài viết:
    637
    Đã được thích:
    50
    Điểm thành tích:
    28
    A Di Đà Phật! Nhưng nếu không cúng dường tiền, thì các thầy tăng còn phải đóng tiền điện, tiền điện thoại, xăng xe đi lại, xây dựng chùa chiền, mua kinh sách.... con còn chưa hiểu biết gì về phật pháp, rất mong các Thầy hoan hỉ giải thích cho con đỡ ngu muội ah?
     
  6. Bình Minh hương trầm

    Bình Minh hương trầm Chậm lại nhé.

    Tham gia:
    14/9/2016
    Bài viết:
    79
    Đã được thích:
    15
    Điểm thành tích:
    8
    Đây là nghiên cứu về mặt học thuật của học giả, chứ không phải về mặt tâm linh. Bồ tát Quán Thế Âm tất nhiên là sự tưởng tượng, bởi tất cả Chư Phật, Bồ Tát đều vô tướng, tức là không có hình dạng cụ thể nào. Việc có hình tướng như ta thấy qua ảnh, tượng, sách v..v chỉ là phương tiện để giáo hóa tâm một cách từ từ.

    Chúng ta là nhưng người chưa giác ngộ về tâm thức (tức là chưa đạt sự tỉnh thức và ly xả triệt để), nên ta chỉ tin vào những gì mình nhìn thấy, sờ thấy, ngửi thấy v..v. Cho nên để giáo huấn chúng sinh dần dần từ thấp cho đến cao, Phật tổ Thích Ca cho đến các bậc Hiền Nhân, Thánh Nhân, Cao Tăng, Đại Đức từ xa xưa đã chế ra các hình tướng, mầu sắc, kinh điển để cho chúng sinh căn cứ vào đó mà tu hành. Khi tâm đã chuyển hóa nhận ra vạn sự vô tướng, vạn pháp vô thường thì Phật chính là Tâm, Bồ Tát là ánh sáng của Từ Bi Hỷ Xả.
     
  7. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
    Cảm ơn bài viết của bạn. Mình cũng đồng ý như vậy. Và mình cũng tự hỏi không hiểu bạn Thu Giang kia post bài kia với ý gì nhỉ?
     
    Nguyễn Thu Giang 90 thích bài này.
  8. Nguyễn Thu Giang 90

    Nguyễn Thu Giang 90 Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    15/9/2016
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    13
    Điểm thành tích:
    8
    Chào chị, em chỉ muốn mọi người bớt mê tín đi thôi, mê tín bây giờ tràn lan khắp xã hội, ở dòng họ nhà em, cảm tưởng những nghi thức đáng ra mang những ý nghĩa nhân văn tốt đẹp bây giờ lại biến tướng ra nhứng hình thức van vái, những lễ nghi lê thê dài dòng tốn kém quá mức, hao tài tốn của, tốn công sức của bao nhiêu người.

    Ở các xã hội văn minh người ta có vái lạy thế không? sao họ vẫn văn minh và tiến bộ (mặc dù có những thứ họ cũng chưa được), nhìn văn hóa ứng xử của họ hơn hẳn chúng ta, họ làm việc chăm chỉ gấp mấy lần chúng ta, họ có cần van xin nhiều như chúng ta không? Em có tìm hiểu về đạo Phật, thực ra ông Phật đâu có dạy chúng ta van vái cầu xin, học Phật rồi thì em mới thấy thật đau lòng khi những giá trị tốt đẹp của đạo Phật lại bị biến tướng đến như vậy, không những ngoài xã hội mà còn ở trong chùa nữa.


    Mời chị và mọi người tham khảo những dòng này:

    “Mê tín” thường được hiểu là “tin vào những gì mê hoặc, sai lầm”. Có một định nghĩa nữa, khách quan hơn, đó là “những niềm tin hay ý niệm phát xuất từ lòng dễ tin không dựa trên lý lẽ hay kiến thức - nhất là khi những niềm tin hay ý niệm nầy không cần có bằng chứng vững vàng và đầy đủ.”

    Tôi cho rằng đa số quan điểm tín ngưỡng và thực hành trong Phật giáo nằm trong hai định nghĩa trên.

    Có những mê tín trong Phật giáo rất dễ nhận thấy thí dụ như cúng sao, cầu an, cầu phước, cầu siêu, xin xăm, bói tướng, v.v. như thường gặp trong sinh hoạt ở các chùa chiềng. (4)

    ...

    Không ai thật sự biết Thích Ca Mâu Ni đã dạy gì trong lúc còn sinh tiền. Đó là vì khoảng 500 năm sau khi ông qua đời thì các đệ tử mới bắt đầu ghi chép lại các lời ông dạy thành những tập kinh đầu tiên. (2)

    Hầu hết những gì gọi là “lời Phật dạy” trong tất cả kinh sách Phật giáo xưa nay đều đã bị pha trộn ít nhiều bởi định kiến riêng của người sao chép lại, bởi ảnh hưởng của các tôn giáo khác nhất là Lão giáo và Ấn Độ giáo, bởi phong tục tín ngưỡng dân gian, bởi áp lực chính trị trong tôn giáo. (3)

    Có hai giáo phái chính trong Phật giáo đó là Tiểu thừa (còn gọi là Nguyên Thủy hay Nam Tông) và Đại thừa (còn gọi là Bắc Tông). Trong phạm vi của hai giáo phái chính này, có hàng trăm tông phái chi nhánh khác nhau. Mỗi tông phái có những hình thức và nội dung tín ngưỡng hoàn toàn khác hẳn với các tông phái khác.

    Tông phái nào cũng cho rằng chỉ có kinh sách của mình mới là “chánh tín”, tức là lời Phật dạy thật sự. Tông phái nào cũng cho rằng những khác biệt trong các kinh sách khác là mê tín, ngoại đạo. Chỉ nội hiện tượng nầy thôi cũng đủ để chứng minh lời nhận định ở trên của tôi rằng không ai ngày nay biết rõ Thích Ca đã thật sự dạy gì khi còn sinh tiền. (3)

    Tuy vậy, có một số ít hình thức và nội dung tín ngưỡng trong Phật giáo có vẻ như giống nhau trong đại đa số các tông giáo. Tôi gọi chúng là các nguyên lý cơ bản của Phật giáo. (1)

    Các nguyên lý cơ bản nầy nằm trong các khái niệm “vô ngã”, “vô thường” và nguyên tắc diệt khổ “Tứ Diệu Đế”. Trong Tứ Diệu Đế, nổi bật nhất là các nguyên lý như Bát Chính Đạo, Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Định, v.v. (1)

    Tuy có thể chỉ là ngẫu nhiên, các nguyên lý nầy diễn tả những nhân sinh quan và vũ trụ quan phù hợp với giá trị đạo đức và nhận xét khoa học ngày nay.

    Theo nhận xét của tôi, vì chỉ có những nguyên lý cơ bản của Phật giáo đề cập ở trên là giống nhau trong kinh sách của hầu hết mọi tông phái nên rất có thể chỉ các nguyên lý cơ bản nầy là những gì Thích Ca đã dạy lúc sinh tiền. (2)

    Nói cách khác, theo tôi thì đại đa số những gì truyền dạy trong Phật giáo Đại thừa đều là mê tín và huyễn hoặc; còn nguyên lý tín ngưỡng của Phật giáo Tiểu thừa thì tuy phản ảnh trung thực hơn những gì Thích Ca đã dạy nhưng cũng vẫn chứa đựng không ít vấn đề huyền bí huyễn hoặc. (3)

    Theo tôi, những kinh sách nổi tiếng như kinh Duy Ma Cật, kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, kinh Pháp Hoa, v.v. đều là những Phật pháp biến thái do các Trưởng lão, các Tổ của những tông phái như Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, Pháp Hoa tông, Phật giáo Tây Tạng, v.v. chế tạo ra (3). Theo tôi, các nhân vật như Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ tát, v.v. đều là những sản phẩm tưởng tượng. (5)(6)

    Trong những thập niên gần đây có vài trường phái nhỏ cố gắng loại bỏ phần lớn các mê tín ra khỏi triết lý của Thích Ca. Những tác giả như Thích Thông Lạc, Thích Từ Thông của phái Tiểu thừa hay Steven Batchelor của phong trào “Phật giáo phi tín ngưỡng” là những tác giả tiêu biểu của các trường phái nầy (7).

    Tuy đây là một tiến bộ vượt bực trong vấn đề truyền bá triết lý của Thích Ca, các trường phái trên vẫn giữ lại một số những đặc thù huyền bí của tôn giáo. Nổi bật nhất là quan niệm “nhân quả”, một quan niệm có giá trị nặng về tín ngưỡng hơn về thực tế. Hơn nữa, các nhân vật nồng cốt của trường phái nầy vẫn có khuynh hướng khẳng định chỉ có họ mới là “chánh đạo” mặc dù ngay từ ban đầu họ cũng xác nhận rằng không ai thật sự biết rõ Thích Ca đã dạy gì.

    Theo tôi, điều đáng tiếc nhất của Phật giáo là vị thế của tăng ni thường đòi hỏi họ có nhu cầu bám víu vào những điều huyền bí. Và họ có khuynh hướng truyền bá niềm tin của họ như là một sự thật tuyệt đối. Nói cách khác, họ khẳng định giá trị của những khái niệm, những sự kiện mà họ không hề có bằng chứng là đã có, hay có thể, xảy ra hay không.
     
    Sửa lần cuối: 14/12/2016
    Bình Minh hương trầm thích bài này.
  9. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
    Cảm ơn Giang đã phản hồi tin của mình. Mình cũng phản đối mê tín. Vì mê tín là tin vào điều mê lầm. Nhưng Đạo Phật đâu phải là mê tín? Còn biến tướng gì chưa đúng thì chúng ta cần lên tiếng, nếu mình hiểu rõ thì giúp họ hiểu cho đúng vì họ có thể đang hiểu sai lệch.
    Còn việc cúi đầu lễ, lạy Phật đầu tiên thể hiện sự cung kính, đó là lễ nên làm, đẹp. Nhưng lễ Phật chỉ có tác dụng khi lễ từ Tâm, cầu xin cũng xin cho đúng. Phật có độ thì cũng chỉ độ cho những gì đúng, tốt, nên, chứ chẳng độ cho những gì ngược lại.... Còn chi tiết ra sao, cần tìm hiểu để rất nhiều để rõ, hiểu đúng ý Pháp rồi mới có thể hành Pháp cho đúng. Chẳng đơn giản vài câu, vài từ là nói hết hay tìm hiểu qua loa là xong... Điều đó cũng không có nghĩa là cầu kỳ, phức tạp. Mà vấn đề gì muốn hiểu tới nơi tới chốn thì cần phải có đủ thông tin và hiểu cho đúng,... Mình được hiểu là vậy... Xin chia sẻ....
     
    Bình Minh hương trầm thích bài này.
  10. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
    Bạn Giang có thể nghe nghe bài giảng này xem đây có phải là mê tín?







    Và rất nhiều bài giảng khác của nhiều thầy... Trên đây là người thầy mình muốn được nghe giảng nhiều nhất hiện nay, xin chia sẻ...
     
  11. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
    Lâu mình không vào Topic.. Cuộc sống mưu sinh đôi khi mình lại sao nhãng, xa rời Đạo... Phải về lại thôi, nương tựa nơi Tam Bảo....
     
  12. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
    Mình thấy Topic của mẹ tạo Top có tới gần 150 người like cho tới thời điểm này. Các mẹ còn đó không?
     
    Bình Minh hương trầm thích bài này.
  13. chipaoe2

    chipaoe2 Thành viên nổi tiếng

    Tham gia:
    24/4/2013
    Bài viết:
    5,996
    Đã được thích:
    868
    Điểm thành tích:
    823
    Mình cũng muốn tìm hiểu nhiều về đạo Phật đây! Thks bác đã chia sẻ!
     
  14. Tùng Lãng

    Tùng Lãng Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    24/11/2015
    Bài viết:
    108
    Đã được thích:
    5
    Điểm thành tích:
    18
    cảm ơn bạn, Đạo Phật đúng là vi diệu giúp chúng ta yêu thương nhau và hạnh phúc hơn. Đó là một đạo phật chân chính của những người Phật tử chân chính. Hãy ti và làm theo nhân quả bạn ah
     
  15. Mẹ Thủy Ngọc

    Mẹ Thủy Ngọc Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    7/8/2012
    Bài viết:
    2,275
    Đã được thích:
    440
    Điểm thành tích:
    173
    Mình vô duyên hay sao ấy, đọc sách mà không nghiệm được bao nhiêu :(
     
  16. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
    Như bạn kể, cũng có thể bạn chưa có duyên với Đạo. Nếu bạn có tin vào Đạo Phật, nôm na là các giáo lý của Đạo Phật thì bạn có thể cứ niệm Phật và cầu Phật độ cho bạn sớm hiểu đạo để được hành đạo....

    Trước đây, mình cũng không hiểu gì về Đạo Phật đâu, gia đình mình xưa nay cũng chủ yếu thờ cúng ông bà tổ tiên, thỉnh thoảng có đi chùa, nhưng cũng chẳng hiểu gì, đi theo thói quen và theo người lớn đi trước.... Rồi đâu đó trước đây cũng có nghe thấy các thầy giảng pháp (những điều Phật dạy), mình chỉ nghe qua hoặc như vịt nghe sấm... rồi cũng không kiên trì nghe, rồi qua.. Có lần ai đó cho mình 02 chiếc đĩa ghi hình một chủ đề thầy giảng năm 2008 ("Bến yêu thương" do Thầy Thích Trí Chơn giảng trong khóa tu mùa hè năm 2008, tại chùa Hoằng Pháp, Tp HCM), mình cũng chưa xem ngay và để bừa bãi đâu đó... Mình cũng từng mình cũng chưa có duyên với Đạo nên ... Tới vài năm trở lại đây, bắt đầu bằng những chuyện không vui xảy đến với mình trong cuộc sống, ban đầu mình chỉ tới chùa để công đức và cũng chắp tay lễ Phật như cầu xin tai qua nạn khỏi cũng như tâm thế thư thái khi đi lễ Phật hay vãng cảnh ở chùa... Cũng có lúc đúng dịp có sư thầy Giảng... rồi tình cờ trong một lần dọn dẹp trên máy tính, mình thấy nội dung 02 chiếc đĩa ai cho hồi trước kia (mình đã kịp sao lưu vào ổ cứng máy tính trước đó)... rồi mình bắt đầu nghe....

    ... mình nghe và xem trọn 02 đĩa... mình đã khóc rất nhiều... Đây là lần đầu tiên mình nghe trọn vẹn 01 bài giảng của sư thầy.... Lúc này thì trên mạng đã có lác đác audio hoặc video bài giảng này trên mạng (chưa nhiều như trên youtube bây giờ).... Từ đó thì mình bắt đầu lần tìm nghe rất nhiều các bài giảng của nhiều thầy, nghe lần 1 chưa hiểu hết thì mình nghe lại, thậm chí nghe đi nghe lại rất rất nhiều lần như để mình nhớ và cố gắng hành đạo..... Rồi khi hiểu, mình đã cố gắng hành bằng cách cố gắng sửa dần những thói hư, tật xấu của mình cũng như học những điều Phật dạy mà trước đó mình cứ tưởng đã tốt, nhưng khi soi vào Đạo Phật thì chưa đúng, sai....................

    Cầu Phật độ cho các bạn chưa có duyên với Đạo thì sớm có duyên với Đạo để sớm hiểu và hành đạo... Nam Mô A Di Đà Phật

    P/s: Trước đây mình là người rất cá tính (khá ngang, bướng trong mắt hầu hết mọi người), hay nói cách khác cái tôi của mình rất cao... nhiều điều xấu lắm..... Giờ được Phật độ cho biết tới Đạo, mình đã cố gắng, giờ có lẽ đã đỡ hơn rồi bạn ah.... Nói chung, mọi điều mình đều cố gắng để soi theo lời Phật dạy... biết là còn xa lắm mới hiểu hết & hành hết được những điều Phật dạy... Mình tin vào Đạo Phật và cố gắng xét soi để nghĩ, nói, làm bất cứ điều gì....
     
    Sửa lần cuối: 10/3/2017
  17. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
    Các mẹ có hay nghe/xem Pháp thoại hàng ngày ở nhà không thế?
     
  18. Chaymoc

    Chaymoc Thành viên mới

    Tham gia:
    9/3/2017
    Bài viết:
    21
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    3
    | Những lời dạy cuối cùng của Đức Phật |

    Trong một khu rừng cạnh thị trấn Câu-thi-na. Phật nằm nghỉ giữa hai gốc cây sa-la. Ngài tự gấp áo cà sa làm bốn, rồi nằm nghiêng về phía tay phải, đầu hướng về phía bắc, mặt hướng về phía tây, hai chân duỗi thẳng, chân này gác lên chân kia. Sau đó Phật ngỏ những lời cuối cùng với các đệ tử để nhắc lại một lần nữa tầm quan trọng của Đạo Pháp. Phật nhắc nhở các đệ tử phải hiểu rằng vị thầy của họ không phải là một nhân vật nào cả, dù đó là Phật, vị thầy đích thực của họ chính là Đạo Pháp. Phật cất tiếng và nhắn nhủ các đệ tử đang ngồi chung quanh Ngài như thế này:

    "Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; không nên lệ thuộc vào bất cứ ai.

    Những lời giảng huấn của ta sẽ làm ngọn đuốc dẫn đường cho các con, làm nơi nương tựa cho các con; không cần phải lệ thuộc thêm vào những lời giảng huấn nào khác nữa.

    Hãy nhìn vào thân xác các con, các con sẽ thấy cái thân xác đó ô uế biết chừng nào.
    Khi các con hiểu được rằng lạc thú lẫn đớn đau của thân xác cũng chỉ là cội nguồn chung của khổ đau, khi hiểu được như thế, các con sẽ không thể nào tự buông lỏng cho dục vọng chi phối các con.

    Hãy nhìn vào tâm thức các con, các con sẽ thấy cái tâm thức đó biến dạng không ngừng.
    Vì thế các con sẽ không thể nào tự buông rơi vào chính những ảo giác của tâm thức, để rồi tự duy trì những kiêu căng và ích kỷ do tâm thức tạo ra, nhất là khi các con đã hiểu rằng những xúc cảm đó nhất định chỉ mang đến khổ đau mà thôi.

    Này các đồ đệ của ta, những lời giáo huấn ta giảng cho các con, các con đừng bao giờ quên, đừng bao giờ để cho mai một đi.

    Phải bảo tồn những lời giáo huấn ấy, đem ra nghiên cứu và thực hành.
    Nếu theo đúng những lời giáo huấn ấy, các con sẽ đạt được an vui.

    Những gì hệ trọng nhất trong những lời giáo huấn của ta là các con phải kiểm soát được tâm thức các con.
    Hãy gạt bỏ mọi thèm muốn và giữ cho thân xác đứng thẳng, tâm thức tinh khiết và ngôn từ chân thật.

    Nếu các con biết tự nhắc nhở là cuộc sống của các con chỉ là tạm bợ, các con sẽ đủ khả năng loại bỏ mọi thèm khát và hung dữ đưa đến khổ đau.
    Nếu các con nhận ra được là tâm thức các con đang có xu hướng bám níu hay vướng mắc vào ham muốn, các con phải gạt bỏ ngay sự ham muốn và chặn đứng sự cám dỗ đó.
    Các con phải làm chủ được tâm thức các con.
    Tâm thức có khả năng biến một con người thành một vị Phật hay một con thú.

    Khi rơi vào sự lầm lẫn, ta có thể trở thành quỷ sứ, nhưng khi Giác ngộ ta sẽ thành Phật.
    Vì thế, các con phải kiểm soát lấy tâm thức các con và không đi lạc ra ngoài Chánh Đạo.

    Những lời giáo huấn ta ban cho các con là do nơi kinh nghiệm của chính ta, và chính ta đã noi theo con đường đó. Các con nên tuân theo những lời giáo huấn ấy và giữ đúng như thế dù phải gặp hoàn cảnh khó khăn nào.

    Nếu các con xao lãng, có nghĩa là các con chưa hề gặp được ta, các con thật sự còn đang ở một nơi nào đó thật xa, dù cho trong lúc này đây các con đang ngồi bên cạnh ta cũng vậy.

    Nhưng nếu ngược lại, các con chấp nhận và đem ra thực hành những lời giáo huấn của ta, thì dù cho các con ở thật xa trong một chốn tận cùng của thế giới, nhưng cũng giống như các con đang ở bên cạnh ta trong lúc này.

    Hỡi các đồ đệ, phút cuối cùng của ta đã gần kề, phút xa lìa giữa ta và các con không còn bao lâu nữa. Tuy nhiên các con không nên than khóc. Sự sống là một sự đổi thay không ngừng và không có gì cản trở được sự tan rã của xác thân. Cái sự thực đó, ta đang chứng minh cho các con thấy ngay trên thân xác của ta, thân xác ta sẽ tan rã như một cỗ xe hư nát.

    Đừng than khóc một cách vô ích, trái lại các con phải hân hoan khi nhận ra được cái quy luật biến đổi ấy và hiểu được rằng sự sống của con người chỉ là trống không mà thôi.

    Đừng cố gắng duy trì cái khát vọng phi lý, mong muốn những gì tạm bợ phải nhất định trở thành trường tồn.

    Con quỷ của những dục vọng thế tục luôn luôn tìm cách đánh lừa tâm thức các con. Nếu có một con rắn độc trong phòng, các con sẽ không thể nào ngủ yên nếu chưa đuổi được nó ra ngoài. Các con phải cắt đứt những mối dây ràng buộc của thèm khát thế tục và rứt bỏ những mối dây đó như các con đã đuổi bỏ con rắn độc ra khỏi phòng.

    Các con phải bảo vệ thật cẩn thận tâm thức các con.

    Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta đã đến, tuy vậy các con phải hiểu rằng cái chết chỉ là sự tan rã của xác thân vật chất mà thôi. Thân xác được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bệnh tật và cái chết.
    Một vị Phật đích thực không mang thân xác con người, mà vỏn vẹn chỉ là sự Giác ngộ. Chỉ có sự Giác Ngộ mà thôi. Thân xác con người phải tiêu tan, nhưng Trí tuệ của Giác ngộ sẽ trường tồn vô tận trong thực thể của Đạo Pháp, trên con đường tu tập Đạo Pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấy ta.

    Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách các con tỏ lòng trung thành với ta.
    Trong bốn mươi lăm năm sau cùng trong cuộc đời của ta, ta không hề giấu giếm điều gì trong những lời giáo huấn. Chẳng có một lời giáo huấn nào bí mật, không có một lời nào mang ẩn ý.
    Tất cả những lời giảng của ta đều được đưa ra một cách ngay thật và minh bạch.

    Này các con yêu quý của ta, đây là giây phút chấm dứt. Trong một khoảnh khắc nữa ta sẽ nhập vào Niết bàn. Những lời này là những lời dặn dò cuối cùng của ta cho các con.”

    Trích từ "Đức Phật và Phật Pháp"

    [​IMG]
     
    binbonbon1214 thích bài này.
  19. binbonbon1214

    binbonbon1214 Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    22/9/2015
    Bài viết:
    367
    Đã được thích:
    68
    Điểm thành tích:
    28
  20. Nguyễn Thu Giang 90

    Nguyễn Thu Giang 90 Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    15/9/2016
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    13
    Điểm thành tích:
    8
    Nhân bạn nói về Quy y Tam Bảo, gửi các mẹ xem bài này:

    Lý Quy Y Tam Bảo
    Lượt xem: 2001

    (Trưởng lão Thích Thông Lạc, trích THỌ TAM QUY NGỦ GIỚI, tr.5-12)

    Nguồn: Sách: Thọ Tam Quy Ngủ Giới

    – Quy y Tam Bảo là nương tựa ở Phật, Pháp, Tăng; không những Tam Bảo thường trụ ở đời, mà chính Phật, Pháp Tăng nơi tự tâm của mỗi chúng ta nữa. Mỗi khi ta làm quấy, nói sai, lòng ta thấy hổ thẹn, lương tâm ta tự c ăn rứt hối hận không vui; cái biết tự khiển trách điều quấy, hoan hỷ những điều Giới đức, nhiệt tình vui vẻ trong những việc thiện lành, ý thức luôn sáng suốt – Ðó là Giác ngộ là PHẬT.

    – Trông thấy người đau khổ, ta nghe lòng mình nao nao thương xót, muốn cứu giúp họ, là tâm từ bi của ta – Ðó chính là PHÁP.

    – Thấy sự thuận hoà êm ấm của mọi gia đình, nhìn cảnh thanh bình an lạc của muôn loài, lòng ta mến chuộng; nghe những việc nồi da xáo thịt, thấy người hiền lương bị lừa đảo, hành hung hiếp đáp, ta tìm cách can ngăn – Lòng nghĩa cử thuận hoà ấy. Chính đó là TĂNG vậy.

    – Chúng ta trở về với đức tánh giác ngộ sáng suốt, với tâm từ bi cứu khổ yêu thương, với lòng thanh tịnh thuận hoà là ta đã tương ưng với ba ngôi Tam Bảo. Là “Lý Quy Y Tam Bảo”. Vì, Phật là Giác ngộ sáng suốt, Pháp là Từ bi chân thật, Tăng là Thanh tịnh thuận hoà.

    – Trở về với đức tánh giác ngộ sáng suốt ta sẽ sa thải bọn Quỉ si mê.

    – Trở về với tâm từ bi yêu thương tha thứ, ta cố thanh trừng bọn ác Ma tham lam ích kỷ.

    – Trở về với lòng thanh tịnh thuận hoà, ta quyết diệt trừ bọn A Tu La sân hận gây gỗ đấu tranh.

    Vì thế, Quy y Tam Bảo không có nghĩa là hoàn toàn ỷ lại nơi Phật, Pháp, Tăng bên ngoài, mà chính ý thức chúng ta luôn biết sử dụng những phương pháp bỏ điều xấu ác, nương việc thiện lành, lìa mê mờ phiền khổ, về chỗ tươi sáng, hạnh phúc thanh lương vậy.

    Tóm lại, giáo lý nhà Phật lúc nào cũng giữ tính cách “Trung Ðạo – Viên dung”. Người Quy y Tam bảo không phải hoàn toàn ỷ lại nơi Phật, Pháp, Tăng bên ngoài, mà phải trực nhận nơi Phật, Pháp, Tăng ở lòng mình. Ngược lại, cũng không tự cao nơi Phật, Pháp, Tăng của mình, mà thờ ơ sự sùng kính nơi thế gian Trù trì Tam bảo. Chúng ta Quy y Tam Bảo phải “viên dung sự, lý” và quyết định một hướng đi, tạo cho mình một nghị lực dũng mãnh, ngăn ác diệt ác pháp, làm lành tăng trưởng thiện, quyết tiến thủ trên con đường từ phàm đến Thánh. Quy y Tam bảo là một ý chí quyết tiến không lùi, nó vừa mở đầu, lại vừa dẫn đến cuối cùng của chiều sống đạo đức, sống giác ngộ, sống thanh thản an lạc, sống giải thoát.

    QUY Y NHƯ VẬY ÐIỀU CẦN THIẾT LÀ GÌ?

    – Là phải quyết định giữ vững “Chánh-Tri-Kiến”. Vì khi phát tâm Quy Y ta tự hứa nguyện dưới Phật đài và trước Thánh Chúng rằng:

    “Con nguyện suốt đời tiến theo chiều Giác ngộ giải thoát, mà đức Phật đã trải qua, con hứa tránh mọi điều tội lỗi, làm tất cả điều lành, để trọn nhân cách con người”. Và “Con nguyện suốt đời Quy-Y Phật thì không Quy-Y Thiên thần Quỉ vật, Quy-Y Pháp thì không Quy-Y ngoại đạo tà giáo, Quy-Y Tăng thì không Quy-Y tổn hữu ác đảng”.

    Lời thệ nguyện đó quyết định về “Chánh tri kiến” và giữ đúng như vậy thì sự Quy-Y còn, mà không giữ thì mất! Do những lời hứa nguyện này, tạo thành một năng lực dũng mãnh khiến ta tinh tấn không ngừng trên đường tự giác. Ngày xưa Ðức Thích Ca Mâu Ni cũng đã chỉ cội cây Bồ Ðề mà thệ nguyện rằng: “Nếu ngồi dưới cội cây này, mà tìm không được đạo, thì dù xương tan thịt nát Ta quyết không rời bỏ chỗ ngồi này...” Như thế việc Quy-Y duy nhất thì chánh tri kiến còn, mà chánh tri kiến mất thì sự Quy-Y cũng hỏng.

    Ý NGHĨA CHÁNH TRI KIẾN TRONG VIỆC QUY-Y LÀ GÌ?

    – Ðiều đó Phật tử cần phải hiểu cho thật kỹ. Nó vô cùng quan trọng! Bởi vì Quy-Y rồi dù không thọ và giữ giới đầy đủ nổi, thì cũng vẫn còn TAM QUY – Nhưng nếu thọ và giữ giới mà Quy-Y mất (Tức phá hủy Chánh-tri-kiến) – Nghĩa là “Phá Kiến” thì chỉ là người tà kiến ngoại đạo mà thôi !!!...

    Chánh tri kiến trong sự Quy-Y là ẩn nơi lời thệ nguyện trên. Có nghĩa là ta đã xác nhận và quyết định lấy đạo đức nhân bản nơi Phật, Pháp, Tăng làm cái lẽ sống đạo của mình, làm lý tưởng lập trường của đời mình. Vì chủ trương của Ðạo Phật về cuộc đời là “Sống đạo đức nhân bản –nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai, sống hỗ trợ sinh tồn”. Nếu ta phản bội chủ trương đó, vô tình hay cố ý thừa nhận và tuyên truyền cho những tưởng tri ảo giác siêu hình mê tín, những đường lối cầu khẩn Thần quyền (nương vào tha lực – phi đạo đức nhân quả) hoặc những tư tưởng cạnh tranh… hóa trang với bất cứ hình thức nào khác, thì thế là chánh tri kiến mất. Mà thà chúng ta chỉ có một mình “phạm giới”, không giữ nổi sự sát sinh, trộm cắp v.v… nhưng, những sự việc đó không làm lầm lạc ai được – Không ai cho sự việc đó là phải ! Nghĩa là không lôi cuốn ai vào tội ác như mình. Nhưng nếu trái lại, ta dùng tà kiến, tà tưởng biện minh để che dấu sự phá giới! Chẳng hạng như: Nói Phật cho huỷ bỏ những học giới nhỏ nhặc hoặc có thể dùng tam tịnh nhục… và lợi dụng tín ngưỡng để thoã lòng tham dục, sân si (sống thiếu đạo đức) rồi phủ che những chiêu bài như để “thử thách” hoặc “khảo đảo cho tiêu nghiệp” hay để “trả nghiệp” v.v… thì đã tự làm mất “Chánh tri kiến” và tự mình phản lại lý tưởng của Phật pháp! Mà còn tiếp tay cho những tà tưởng đạo đức trá hình, xuyên tạc cạnh tranh lợi dưỡng… thì ngàn vạn người, thế hệ này tiếp thế hệ khác, sẽ mê theo sự cổ võ những chiêu bài tà tưởng ấy để bước vào con đường sinh sát nhau liên miên vô tận đó! Con đường mà loài người sẽ diệt vong bởi chính những hành vi tà tưởng của loài người. Trong Kinh nói rằng tội “Phá Kiến” rất nặng, điều đó rất đúng. Bởi vậy, mọi người Phật tử chúng ta đều phải xác nhận rằng sự mong mỏi hợp lý của nhân loại hôm nay cũng như ngày mai là phải được sống có đạo đức, được sự hỗ trợ của nhau, được an bình và được tiến hóa, chứ “ngày mai” không thể cũng là cái ngày kết quả của sự tham cầu lợi dưỡng cạnh tranh... Chính muốn ngày mai không thể như vậy, cho nên ngày nay : Chúng ta, những người phật tử, mới quyết tâm Quy-Y theo lý tưởng của Phật Pháp. Sự quả quyết nầy phải duy nhất giữ vững thì mới không mất ba Quy-Y, và không mất lý tưởng lập trường của một người Phật tử chân chánh là “Quy-Y Phật thì không Quy-Y Thiên-thần Quỉ-vật, Qui-Y Pháp thì không Quy-Y ngoại đạo tà giáo, Quy-Y Tăng thì không Quy-Y tổn hữu ác đảng”.

    Như vậy, chúng ta đã rõ nghĩa cụm từ QUY Y TAM BẢO:

    – Quy-Y có nghĩa là quay về nương tựa.

    – Tam bảo là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng.

    – Phật là giác ngộ (Tánh toàn Chơn)

    – Pháp là chơn chánh (Tâm toàn Thiện)

    – Tăng là tịnh hạnh (Hạnh toàn Mỹ)

    NHƯNG HIỆN GIỜ CÓ QUÁ NHIỀU PHẬT, PHÁP, TĂNG THÌ LÀM SAO BIẾT ÐƯỢC PHẬT, PHÁP NÀO CHƠN CHÁNH VÀ LÀM SAO BIẾT ÐƯỢC BẬC NÀO LÀ THÁNH TĂNG TU CHỨNG CÓ ÐỦ TỊNH HẠNH ÐỂ NƯƠNG TỰA QUY Y?

    – Ðiều nầy rất quan trọng, nếu không tìm hiểu tới nơi tới chốn cho thông suốt rõ ràng thì dễ bị danh lợi tà đạo mượn cữa tín ngưỡng, đội lốt Phật giáo, như chùm gởi bám vào cây Bồ Ðề nhà Phật để mê hoặc lợi dụng lừa đảo một số tín đồ Phật tử ngây thơ, nhẹ dạ đã trở thành con chiên ngoan đạo của Thần Si-Va, Thần tà … Do lòng danh lợi, tham dục mà họ tìm mọi cách để đầu độc, mê hoặc những kẻ khát khao đến cầu đạo, dễ thành cuồng tín, mê tín một cách đáng thương… như hiện nay đang diễn ra ở các chốn Thiền môn !...

    1) PHẬT BẢO: Phật Bảo là ngôi báu vô giá tối thượng. Châu báu trong đời dù quí giá đến mức nào cũng có thể định được giá trị của bảo vật ấy – Còn gương hạnh ân đức cao thượng của Ðức Phật là vô giá để cho loài người từ vua chúa, quan thần đến muôn dân nương về Qui Y ngôi Phật Bảo này đều được lợi ích lớn. Vì Phật Ngài đã đoạn diệt mọi phiền não, tham ái, ác pháp có đầy đủ năm đức tối thượng là Giới đức, Ðịnh đức, Tuệ đức, Giải thoát đức và Giải thoát tri kiến đức. Hoàn toàn trong sạch cao thượng.

    Trong kinh Chi Bộ đức Phật dạy : “Này chư Tỳ Kheo, một bậc độc nhất vô nhị tu chứng xuất hiện trong thế gian, không có người đồng đẳng; không có người cạnh tranh… Bậc không giống như tất cả chúng sanh… là bậc tối thượng trong tất cả chúng sanh có hai chân. Bậc độc nhất vô nhị ấy là đức Như Lai, đức Alahán, đức Phật Chánh Ðẳng Giác… Này chư Tỳ Kheo, bậc độc nhất vô nhị này đang xuất hiện trong thế gian là bậc tối thượng trong tất cả, để chúng sanh qui ngưỡng nương về”.

    Trong đời, những thứ châu báu như kim cương, hột xoàn, ngọc ma ni, vàng y bốn số 9… là những báu vật, đồ trang sức của hạng giàu sang phú quí, người nghèo khổ thiếu thốn nhìn thấy được những thứ quí giá ấy cũng là điều khó. Huống chi được sử dụng chúng làm đồ trang sức cho mình, phải không thưa quí vị? Nhưng, những thứ châu báu trong cõi người này cũng không thể nào so sánh với Phật Bảo tối thượng.

    Vì, Phật Bảo là vô giá cao thượng, nên nhưng người đến Qui Y nương tựa nơi Phật Bảo là những người có phước duyên, đã từng tạo thiện duyên tích luỹ nhiều đời nhiều kiếp trong thời Ðức Phật Thích Ca còn tại thế hoặc các vị Thanh Văn Thánh Chúng đệ tử của Phật. Nên kiếp hiện tại này những người ấy mới có chủng tử phước điền đến xin Qui Y nương về Tam Bảo.

    Như vậy, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni là một con người có thật trên hành tinh này, người Ấn Ðộ dòng dõi Hoàng tộc, là Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta kết duyên với công chúa Gia-Du-Ðà-La và đã sinh Hoàng tôn La-Hầu-La. Ngài cũng có gia đình vợ con như bao nhiêu người khác, nhưng giác ngộ được nỗi khổ của kiếp làm người, rời bỏ Hoàng cung bèo mây hạnh phúc, để tìm lối giải thoát bốn nỗi khổ sanh, già, bệnh, chết… Ngài là người có lịch sử tu chứng hẳn hoi là Giáo Chủ của Ðạo Phật đã để lại cho loài người một nền đạo đức nhân bản – nhân quả tuyệt vời, một phương pháp tự lực tu tập đến chỗ làm chủ được bốn sự khổ sinh, lão, bệnh, tử chấm dứt luân hồi. Ngài đã chỉ rõ cho loài người đường lối tự lực tu tập rất rõ ràng. Ngài dạy rằng “Trên đầu con người chẳng có một đấng thiên liêng siêu hình nào cai quản cả, và trước Ngài cũng chưa có vị Phật nào ra đời cả…” Như vậy, thì chúng ta chỉ Qui Y và thờ duy nhứt một Ðức Phật Thích Ca để tưởng nhớ công đức của Ngài và lấy gương hạnh của Ngài để soi sáng nhắc nhở đạo tâm chúng ta hằng ngày phải tu tập sống buông xả như Ngài. Còn những gì khác được đặt để như “Phật quá khứ hay Phật vị lai hoặc Bồ Tát Long Thần…” thì đều là của Bà La Môn Ða Thần Giáo sau này đưa vào chùa nên không có lịch sử gương hạnh và giáo pháp để lại rõ ràng như Ðức Phật Thích Ca thì chúng ta không Qui Y thờ phụng những vị Thần mạo danh Phật ấy !!!.

    Theo Phật sử ghi lại, sau 6 năm tu khổ hạnh không thành, Ngài đến dưới cội Bồ Ðề miên mật trong 49 ngày đêm thực hành “Pháp Tứ Niệm Xứ” và Ngài đã chứng đạt chân lý –thành Phật. Rồi liền tìm lại 5 người bạn cũ đồng tu khổ hạnh đã rời bỏ Ngài qua ở vườn Lộc Uyển (Vườn Nai). Nơi đây, Ngài đã cất lên tiếng Sư Tử Hống Chuyển Pháp Luân lần đầu tiên bằng bài kinh “Chuyển Pháp Luân – Tứ Diệu Ðế” (ngày nay Hội Phật Giáo Thế Giới dùng biểu tượng hai con Nai trắng đỡ bánh xe Pháp Luân, mà chúng ta thường thấy biểu tượng này trong các kinh sách của Phật Giáo). Ngài đã gởi thông điệp đến cảnh báo cho loài người, nếu muốn tu hành có kết quả để thoát kiếp nhân sanh đau khổ như Ngài thì nên tránh xa hai cực đoan: “Một là tránh xa sự đam mê thụ hưởng ngũ dục, lạc thú thấp hèn làm mất chủng tử Thánh thiện, mất phẩm chất cao thượng –Hai là không nên tự ép xác hành hạ mình, sống đời khổ hạnh ức chế thân tâm mê lầm phiền não”. Và Ngài đã vạch ra con đường “Trung Ðạo” chỉ rõ bốn chân lý “Khổ, Tập, Diệt, Ðạo” của kiếp người cho 5 anh em ông Kiều Trần Như nhờ nghe bài pháp này liền được Pháp Nhãn thanh tịnh xin Qui Y theo Phật và sau đó chứng đạt Thánh quả.

    Vì duyên phước hội tụ đầy đủ, ngôi Tam Bảo ra đời từ đây – Ngài là Phật Bảo, bài kinh Chuyển Pháp Luân-Tứ Diệu Ðế là Pháp Bảo và 5 anh em Kiều Trần Như là Tăng Bảo đầu tiên. Thế là phước duyên của loài người đã đến, ngôi Tam Bảo được thiết lập ở trần gian, mặt trời Chánh Pháp đã chiếu soi. Dòng dõi Sư Tử (dòng họ Thích) bắt đầu truyền bá chánh pháp, đi đến đâu là quét sạch 62 luận thuyết siêu hình của Bà La Môn đến đó… Các vị giáo chủ Bà La Môn lúc bây giờ như Ngài Mục Kiền Liên, Ngài Ca Diếp, Ngài Xá Lợi Phất… mỗi Ngài đều dẫn cả trăm đồ đệ của mình đến xin Qui-Y Ðức Phật và được Phật tiếp độ cho xuất gia nhập vào Tăng Ðoàn để tu tập, nhiều vị đã chứng đạt Thánh Quả, chỉ trong một thời gian mà Tăng Ðoàn của Phật đã lên đến 1250 vị. So với dân số ít ỏi ở Ấn Ðộ thời đó và sự ngự trị của 62 hệ phái siêu hình nơi kinh điển truyền thống của tư tưởng Vệ Ðà đã tiêm nhiễm lâu đời, độc tôn chiếm giữ cả bốn giai cấp trong xã hội Ấn Ðộ lúc bấy giờ…

    Nhưng, một khi có Bậc tu chứng, có Phật Bảo xuất hiện thì những sương mù tà giáo của thế giới siêu hình đều được soi sáng dưới mặt trời Chánh Pháp và đã bị quét sạch… đủ biết oai đức và sự cảm hoá của Phật pháp khi có Bậc Thánh Tăng La Hán tu chứng xuất hiện là thế nào rồi… Như vậy, Phật Bảo là nơi nương về của hàng chúng sanh cao quí. Mặc dầu Phật đã tịch diệt Niết Bàn cách đây 2.550 năm. Nhưng, những chứng tích lịch sử về đời sống đạo hạnh của Phật vẫn hiện hữu trên đất nước Ấn Ðộ và Giáo pháp mang tính nhân bản cao của Phật giáo luôn ngự trị nơi lòng người khắp hành tinh, cùng sự thành kính tri ân của nhân loại ở thời đại văn minh ngày nay đang hướng về Phật – Một Bậc Thánh Nhân Giáo Chủ Vĩ đại… đã để lại một nền đạo đức nhân bản - nhân quả tuyệt vời mà chưa có một vị Giáo Chủ nào trên trái đất này làm được như Ngài. (Vì còn nhập thất không có tư liệu để tra cứu, xin quí vị đọc thêm những sách nói về lịch sử Ðức Phật & Phật Pháp – H.T. Thích Minh Châu phiên dịch từ tạng kinh Pali thì đáng được tin cậy hơn kinh sách tưởng giải của đại Thừa…).

    2) PHÁP BẢO: Pháp Bảo là những lời dạy của Ðức Phật, sau khi tu tập chứng đạt, Phật liền đem kinh nghiệm thành quả tu hành của Ngài chỉ dạy lại cho chúng ta rất rõ ràng. Ngài dạy: “Ta chỉ là người chỉ đường, các con hãy tự lực thắp đuốc lên mà đi…” hoặc dạy: “Nếu Ta nói một điều gì mà mọi người hiểu được, biết được bằng ý thức thì Ta không có nói dối. Còn Ta nói ra một điều gì mà mọi người phải hiểu bằng tưởng ngoài sức hiểu biết bằng ý thức của con người thì Ta đã có nói dối trong Ta…”.

    Nhưng, hiện giờ Tam tạng kinh điển của Ðại thừa (tức là kinh sách phát triển của khoảng 20 hệ phái sau thời Ðức Phật đến nay) trong các thư viện lớn của Phật giáo trên thế giới đã thống kê có trên mười hai ngàn (12.000) quyển mỏng dày, gồm trên một triệu (1.000.000) trang giấy đủ cỡ. Chứa đựng nội dung tám mươi bốn ngàn (84.000) pháp môn tu tập, phần lớn là nương cầu vào tha lực siêu hình trừu tượng mơ hồ ngoài sức hiểu biết bằng ý thức của con người, lại đều mang nhãn mác chánh pháp của Ðức Phật Thích Ca thuyết!... Vì vậy, chúng ta phải sáng suốt phân minh những giáo pháp nào không có phương pháp hành trì cụ thể ngoài ý thức hiểu biết của con người, tha cầu bạc nhược, không có công năng của Pháp Bảo là tự lực ngăn ác diệt trừ ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp, chuyển mê khai ngộ,không tiến dẫn con người từ chỗ sống thiếu đạo đức, sống mê mờ phiền khổ đến chỗ đạo đức thanh lương, làm chủ lão bịnh tai ương sinh tử – Thì đó không phải là “Chánh Phật Pháp” – Mặc dầu quí Hoà Thượng hay các nhà học giả đã dịch trong kinh Nguyên Thủy hay kinh sách phát triển Ðại thừa Tối thượng thừa… gì gì đi nữa, thì chúng ta cũng không y chỉ theo những loại kinh Pháp đó để tu hành vì đó là tà Pháp do các Tổ sau này không tu chứng như Phật, lòng còn danh lợi ngồi tưởng tượng vẽ vời, tự ý đưa vào tam tạng kinh điển rồi mạo danh Phật thuyết!

    Tạng Kinh Nikaya của Phật Giáo Nguyên Thủy không nhiều như kinh sách của Ðại thừa. Nhưng, những lời nào đúng là của Ðức Phật dạy còn lại nơi Tạng Kinh Nikaya chưa bị người đời sau thêm bớt sửa đổi xuyên tạc thì đó là PHÁP BẢO VÔ GIÁ mà không có một tôn giáo nào trên hành tinh này có được những Bảo Pháp như bốn chân lý Tứ Diệu Ðế & 37 phẩm trợ đạo của Phật Giáo…

    Vì đó, là những pháp môn tự lực tu hành có công năng ngăn ác và diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp, chuyển mê khai ngộ, chuyển khổ thành vui, tiến dẫn con người từ phàm phu tu chứng Thánh quả làm chủ sanh, già, bịnh, chết. Chấm dứt kiếp luân hồi đau khổ. Vì vậy, chúng ta phải y chỉ nương tựa vào 37 đạo phẩm này để tu tập đến chỗ viên mãn mà cốt lõi của nó là “Giới – Ðịnh – Tuệ” trong Tám Ðường Chánh Ðạo. (xin quí vị nghiên cứu kỹ những bộ sách của Ðức Trưởng Lão Thích Thông Lạc một người đã tu chứng biên soạn do NXB Tôn Giáo liên kết với TV Chơn Như ấn hành: Bộ Những Lời Gốc Phật Dạy 4 tập, Ðường Về Xứ Phật 10 tập, Văn Hoá Phật Giáo Truyền Thống đã in 2 tập, và 1 tập Những Chặng Ðường Tu Học Của Người Cư Sĩ. Ðây là những Pháp Bảo quí giá mà những người Tu Học Phật cần phải nghiên cứu kỹ rồi mới Qui-Y Tu Tập sẽ có kết quả).

    3) TĂNG BẢO: Tăng Bảo là những vị Tăng Sĩ đệ tử Ðức Phật, cạo bỏ râu tóc, đắp áo Cà Sa, ta bà khất thực, ăn chay ngày một bữa, sống y như Phật, thiểu dục tri túc, giới đức tinh nghiêm, làm gương hạnh sáng cho mọi người soi. Tăng Bảo là Bậc Thánh Tăng phạm hạnh, người đã chứng đạt chân lý mới đủ Dũng-Trí-Bi, có đủ Tứ vô lượng tâm… luôn làm gương hạnh thiện pháp cho Phật Tử làm nơi nương tựa Qui-Y để Tu tập.

    Trong thời Pháp nhược ma cường này mà tìm được Bậc Thánh Tăng tu chứng làm gương hạnh như ngọn hải đăng đứng tự tại giữa cuồng phong biển dục để chỉ đường dẫn lối cho tàu thuyền tránh khỏi những chặng đường quỉ quái đá ngầm; những rạng ma chướng san hô độc ác, gây hiểm trở nơi đại dương nghìn trùng bá đạo, bá pháp như hiện nay… Thì không phải dễ ! Cho nên, muốn tu theo đạo Phật không phải đụng đâu Qui-Y đó, mà phải tìm hiểu rất kỹ rồi mới tin, lòng tin phải có căn cứ. Ðức Phật dạy: “Chớ có tin, chớ có tin… Chớ y cứ vào tin đồn, vào truyền thống kinh điển… Muốn tìm hiểu Phật Giáo thì phải chọn một vị Thầy tâm hết tham, sân, si… Ðể được thân cận, được thấy các Bậc Thánh, được thuần thục pháp các bậc Thánh, được tu tập pháp các Bậc Thánh…”. Nếu chưa chọn được vị Thánh Tăng như vậy thì không nên vội vàng Qui-Y Tam-Bảo, mà phải hiến cuộc đời của mình cho tà sư ngoại đạo để tạo duyên nghiệp trùng trùng nơi tà kiến không lối thoát, thật là oan uổng ! Quí vị hãy nhìn vào chùa chiền thờ phụng cúng tế và các hàng Tăng Ni Phật Giáo hiện nay thì đủ biết và nên hết sức thận trọng khi tìm một vị Thầy tu chứng để Qui-Y. Nếu chưa tìm ra thì hãy khoan đã!

    “Vì, duyên khởi duyên, trùng trùng duyên khởi…

    Hễ nương Thầy tà sẽ dẫn tới đường tà !

    Chánh Ðiện càng to thì Chánh Ðạo càng xa !!

    Kiếp sau cũng sẽ đến nhà Ðàn Na để cúng !!!...”

    Vậy, Qui-Y Tăng Bảo rất hệ trọng. Vì, Thánh Tăng cũng như Phật hiện tiền tại thế, Pháp Bảo chân lý của Phật cũng từ đây được triển khai. Nếu chân lý Chánh pháp của Phật không có những Bậc Thánh Tăng kế thừa tu chứng triển khai giảng dạy thì chúng ta khó có thể giác ngộ được chân lý, nếu chân lý chưa giác ngộ thì biết đâu để hộ trì và nếu chân lý không được hộ trì, thì làm sao có thể chứng đạt được chân lý ấy. Phải không quí vị ? Cho nên, Tăng Bảo là một báu vật quí giá nơi đời. Vì có Tăng Bảo mới soi sáng cho chúng ta thấy được Pháp Bảo và Phật Bảo.

    Chúng ta nhìn qua lịch sử kinh sách văn học Phật Giáo trên 2500 năm qua, thì biết được có Bậc Thánh Tăng nào tu chứng hay không. Bậc Thánh Tăng tu chứng xuất hiện, như Sư Tử Vương giữa ngàn loài thú… và ngàn loài thú đều lo sợ tiếng rống của Sư Tử Vương… (bằng chứng là tập sách “Tạo Duyên Hoá Ðộ Chúng Sanh” và “bộ sách Ðường Về Xứ Phật” được nhà X.B Tôn Giáo cho in phát hành).

    Thời kỳ Ðức Phật ra đời, ở Ấn Ðộ lúc bây giờ đã có 62 luận thuyết siêu hình tưởng, của kinh điển Vệ Ðà đã thống trị bằng tín ngưỡng cả bốn giai cấp, của xã hội Ấn Ðộ thời ấy ! Khi đức Phật rời bỏ Hoàng Cung, xuất gia làm Ðạo Sĩ… Ngài cũng bị cọng nghiệp chung lặn hụp vào các pháp tà tưởng siêu hình của Bà La Môn ấy, để tu tập khổ hạnh suốt sáu năm không thành! Cuối cùng, Ngài tự rời bỏ các vị giáo chủ này và đã tìm ra con đường giải thoát cho chính mình, rồi chỉ lại đường lối “Tu Tập – Trung Ðạo” mà Phật đã tìm ra, để con người tự lực tu tập đúng với đạo đức nhân bản của con người ở hành tinh này. Nhưng đến ngày nay, Chánh Pháp của Phật đã bị lai tạp tà giáo xen vào! Nếu không có Bậc Thánh Tăng tu chứng, chỉnh đốn lại và khai thị cho chúng ta, thì chúng ta khó mà biết được pháp nào là Chánh Pháp của Phật, Pháp nào là tà pháp mạo danh, đưa vào kinh sách của nhà Phật!...

    Như vậy, ba ngôi Tam Bảo ví như ba cái vòng tròn, có chung một tâm điểm, tuy một mà có đủ ba, mà Tăng Bảo là vô cùng hệ trọng. Vì có Tăng Bảo thì Pháp Bảo mới được thực hành soi sáng, và có sự truyền bá của Tăng Bảo thì Pháp Bảo mới đem lại lợi ích cho muôn người; Tăng Bảo cũng là người đại diện cho Phật Bảo, làm gương hạnh cho chúng ta noi theo. Vì vậy, chúng ta phải tìm hiểu kỹ càng, chọn Bậc Thánh Tăng giới hạnh đàng hoàng có tu chứng cụ thể rõ ràng, rồi mới xin Qui-Y nương tựa thân cận nơi các Ngài để tu học, sẽ được khai thị soi sáng lợi ích lớn lao trên đường tu tập. Vì:

    “Không có Thầy, đố mầy tu nên chi –

    Bá đạo bá tri, vị chi tu bá láp!”

    Ai là Trí giả? Phải rõ kẻo lầm…

    Mình còn láng quáng, cõng câm dắt mù!...

    Cả ba đều té lăn cù xuống mương!!...”

    Tam Bảo cũng là ba đức tánh giác ngộ, chơn chánh, thanh tịnh, đang ẩn tàng nơi mỗi chúng ta – Ba đức: Sáng suốt (Giác ngộ), trong sạch (Thanh tịnh) và chơn thật bất hư (Chơn chánh) mà Phật và chư vị Thánh Tăng là những người đã phát huy viên mãn.

    Chúng ta nương về Tam Bảo tu học, tức là để phát huy ba đức tánh đó đến chỗ rốt ráo là thành Thánh, thành Phật như các Ngài chớ chẳng có chi lạ cả.

    Chúng ta đã có đầy đủ phước duyên Quy-y Tam bảo thì phải luôn luôn cố gắng phát huy ba đức tánh ấy đầy đủ mới tròn nghĩa Qui-Y. Ngược lại nếu chúng ta mang danh là phật tử theo đạo giải thoát của Phật mà chẳng thực hành theo giáo pháp Phật để lại, đặng sớm thành tựu ba đức tánh cao quí ấy thì hóa ra chúng ta chỉ có “Qui” mà không có “Y”. Như thế chưa phải là người đã Qui Y Tam Bảo.

    MUỐN TRỞ VỀ VỚI BA ÐỨC TÁNH ẤY PHẢI LÀM SAO?

    – Trước hết phải tịnh tu tam nghiệp “Thân – Khẩu – Ý” bằng cách:

    1) - Thân: Không sát sanh, trộm cắp, dâm dục là đã trở về với đức tánh “Thanh-tịnh”.

    2) - Khẩu: Không vọng ngôn, ác khẩu, ỷngữ, lưỡng thiệt tức là trở về với đức tánh “Chơn-chánh”.

    3) - Ý: Không tham lam, sân hận và si mê tức là đã trở về với đức tánh “Giác-ngộ”.

    Nói tóm, là phải tu tập mười thiện pháp để cho thân khẩu ý thường được tương ưng với Phật-Pháp-Tăng tức là đã quy-y tam bảo đúng pháp.

    “Giữ gìn tam nghiệp, Khế hiệp Chơn tâm

    Thân không sát đạo tà dâm

    Khẩu không thêu dệt thọc đâm hai chiều

    Cũng không dối gạt đặt điều

    Chuyện không nói có, nói điều điêu ngoa

    Miệng không mắng chưởi rầy la

    Nói lời dịu ngọt ôn hòa hiền lương

    Ý mã luôn đặt dây cương

    Chẳng cho tham dục giận hờn phát sinh

    Vẹt tan bóng tối vô minh

    Nhờ đèn Tam Bảo quang minh soi lòng

    Luôn luôn nhìn lại bên trong

    Cầm cương ngựa ý đề phòng tâm viên

    Diệt trừ vọng tưởng đảo điên

    Ngăn ác diệt ác – Thiện chuyên hành trì.

    Ai người chân thật Quy Y

    “Tam nghiệp” “thập thiện” tu trì chớ quên.

    Niết Bàn thanh thản bước lên

    Từ đây thoát kiếp lênh đênh luân hồi”.

    ***
     
    binbonbon1214 thích bài này.

Chia sẻ trang này