Theo số liệu của ngành dinh dưỡng, tỷ lệ người thừa cân ở Việt Nam là 18,6% dân số trong độ tuổi từ 25- 64. Nguyên nhân béo phì ở Việt Nam được đánh giá là do hút thuốc lá, ít vận động, phần trăm mỡ cơ thể cao, tiêu thụ nhiều thịt, đồ ăn nhiều dầu mỡ, lạm dụng rượu bia. Ngoài xu hướng sử dụng bơ sữa, các loại thịt rượu, bia, các loại thức uống có ga và sử dụng đồ ăn đông lạnh dài ngày. Nhiều người nghĩ rằng béo chỉ gây mất thẩm mỹ về ngoại hình, nhưng trên thực tế còn nghiêm trọng hơn nhiều bởi nó gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe thậm chí là tính mạng của người bệnh. Vậy béo phì có nguy cơ mắc những bệnh lý nào? Bệnh tim mạch Những người béo phì ở cấp độ nặng thường có lớp mỡ bao quanh cơ tim, làm tim co bóp khó khăn hơn, chịu áp lực co bóp nhiều hơn. Ngoài ra lượng mỡ bao quanh tim cũng có thể chèn ép làm hẹp động mạch vành gây cản trở máu lưu thông đến tim. Tim thiếu máu trong một thời gian dài gây nên nhồi máu cơ tim hoặc suy tim gây nguy hiểm đến tính mạng. Hầu hết những người béo phì có mức độ HDL- cholesterol tốt thấp và LDL-cholesterol xấu cao đồng nghĩa với mỡ máu tăng có khả năng hình thành các mảng xơ vữa động mạch làm hẹp hoặc tắc nghẽn hoàn toàn máu lưu thông đến não, tim và các cơ quan khác gây nhồi máu cơ tim, thậm chí là đột quỵ gây nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, béo phì gây cao huyết áp, theo các nghiên cứu, người ta thấy rằng nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp tăng lên 12 lần ở người thừa cân béo phì. Khi trọng lượng cơ thể tăng bắt buộc mạch máu phải dùng nhiều áp lực co bóp đàn hồi đưa máu đi đến các cơ quan trong cơ thể nên làm tăng huyết áp. Bệnh tiểu đường Béo phì thừa cân là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tiểu đường tuýp 2 do hàm lượng insulin ở người béo phì thường thấp hơn người bình thường. Điều này khiến cho những người thừa cân béo phì có nguy cơ dư thừa lượng đường huyết cao dẫn đến bệnh tiểu đường. Khi bệnh tiểu đường không được kiểm soát sẽ dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như huyết áp cao, đột quỵ não, đau tim, mù lòa. Bệnh lí về xương khớp Những người thừa cân béo phì có nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến xương khớp cao gấp 4-5 lần so với những người bình thường. Điều này xảy do yếu tố cơ học khi trọng lượng của cơ thể nặng đã tạo áp lực lớn lên sụn khớp làm nứt, rách hoặc nghiền nát sụn gây nên các bệnh về xương khớp như thoái tổn thương sụn khớp, hóa khớp, loãng xương, dây chằng, cơ cạnh khớp. Trong đó cột sống và khớp gối là những vị trí bị tổn thương đầu tiên. Ngoài ra, người thừa cân béo phì có nguy cơ mắc bệnh gout cao gấp 4 lần so với người bình thường. Nguyên nhân là do khả năng đào thải axit uric ở người béo phì giảm và khả năng tổng hợp axit uric lại tăng lên nên dẫ đến bệnh gout. Chứng ngưng thở khi ngủ Béo phì thừa cân là yếu tố có thể gây ngưng thở khi đang ngủ. Một người béo phì hoặc thừa cân có nhiều chất béo được lưu trữ quanh cổ hơn những người bình thường, nên đường thở ở nhóm đối tượng này có thể nhỏ hơn. Một đường thở nhỏ hơn có thể làm cho cho người béo phì có các triệu chứng như khó thở, ngáy to hoặc nghiêm trọng hơn là ngừng hoàn toàn trong thời gian ngắn. Ngoài ra, chất béo được tích trữ ở cổ và khắp cơ thể có nguy cơ tạo ra các chất gây viêm. Trong đó, viêm ở cổ là một yếu tố gây ngưng thở khi ngủ. Bệnh lí về tiêu hóa Thừa cân béo phì có thể làm lượng mỡ dư thừa bám vào quai ruột gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa gây táo bón và dễ mắc bệnh trĩ. Ngoài ra ở những người thừa cân béo phì, chất béo và cholesterol cứng lại trong túi mật gây ra một số triệu chứng đau dễ dẫn đến sỏi mật. Hơn nữa, béo phì cũng làm lượng mỡ dư thừa tích tụ trong gan có thể gây gan nhiễm mỡ, nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến xơ gan hoặc tăng nguy cơ mắc các bệnh về gan. Vô sinh Ở nữ giới, béo phì gây suy giả chức năng buồng trứng dẫn đến vô sinh. Thông thường, những người phụ nữ từ 45 tuổi trở nên thường gặp tình trạng suy giảm chức năng buồng trứng. Tuy nhiên, hiện tượng này xảy ra sớm hơn, chỉ ở tầm 30-40 tuổi đối với những người béo phì. Nhóm đối tượng này có các biểu hiện rối loạn kinh nguyệt, trứng không rụng, không còn khả năng ham muốn hoặc khó thụ thai dẫn tới vô sinh ở nữ giới. Ở nam giới, người béo phì có mức testosterone (là yếu tố quyết định tới khả năng tình dục của nam giới) thấp hơn 50% so với người bình thường khiến họ mất ham muốn dẫn tới hiện tượng rối loạn cương dương, bất lực và vô sinh. Bệnh ung thư Béo phì có nguy cơ mắc bệnh ung thư như: ung thư trực tràng và tuyến tiền liệt ở nam giới, ung thư ruột kết ở nam và nữ ung thư túi mật, ung thư tử cung ở phụ nữ. Béo phì cũng có thể liên quan đến ung thư vú, đặc biệt là đối với phụ nữ mãn kinh. Mô mỡ rất quan trọng trong việc tiếp xúc lâu dài với nồng độ estrogen cao hoặc sản xuất estrogen làm tăng nguy cơ ung thư vú. Vì vậy, chúng ta cần giữ thói quen ăn uống lành mạnh, ngủ nghỉ hợp lý để đảm bảo có sức khỏe tốt. Hạn chế ăn uống quá mức hoặc ăn nhều loại thực phẩm không tốt có nguy cơ gây béo phì. Ngoài ra, chúng ta cần thường xuyên tập thể dục, chơi thể thao để tăng cường sức khỏe.
béo phì tăng nguy cơ gây ung thư zoladex điều trị bệnh ung thư Zoladex có chứa một loại thuốc gọi là goserelin. Thuốc này thuộc nhóm thuốc được gọi là 'chất tương tự LHRH dùng điều trị ung thư tuyến tiền liệt nam và một số bệnh ở nữ giới theo như bên dưới Thành phần định tính và định lượng Goserelin acetat (tương đương 3,6 mg goserelin). Chỉ định điều trị của thuốc zoladex 3.6mg (i) Điều trị ung thư tuyến tiền liệt ở các cơ sở sau • Trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt di căn, Zoladex đã chứng minh lợi ích sống sót tương đương với thiến phẫu thuật • Trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt tiến triển tại chỗ, thay thế cho việc thiến phẫu thuật, Zoladex đã chứng minh lợi ích sống sót tương đương với thuốc kháng androgen • Là phương pháp điều trị bổ trợ cho xạ trị ở những bệnh nhân có nguy cơ cao ung thư tuyến tiền liệt tại chỗ hoặc tiến triển tại chỗ, trong đó Zoladex đã chứng minh khả năng sống không bệnh và thời gian sống toàn bộ được cải thiện • Là phương pháp điều trị tân bổ trợ trước khi xạ trị ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tại chỗ hoặc tiến triển tại chỗ có nguy cơ cao trong đó Zoladex đã chứng minh khả năng sống không bệnh được cải thiện • Là phương pháp điều trị bổ trợ cho việc cắt bỏ tận gốc tuyến tiền liệt ở những bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tiến triển tại chỗ có nguy cơ tiến triển bệnh cao, trong đó Zoladex đã chứng minh khả năng sống không bệnh được cải thiện (ii) Ung thư vú tiến triển ở phụ nữ tiền mãn kinh và tiền mãn kinh phù hợp với thao tác nội tiết tố. (iii) Zoladex 3,6 mg được chỉ định thay thế cho hóa trị liệu trong tiêu chuẩn chăm sóc phụ nữ tiền / tiền mãn kinh bị ung thư vú sớm dương tính với thụ thể estrogen (ER). (iv) Lạc nội mạc tử cung: Trong điều trị lạc nội mạc tử cung, Zoladex làm giảm bớt các triệu chứng, bao gồm cả đau, và giảm kích thước và số lượng các tổn thương nội mạc tử cung. (v) Làm mỏng nội mạc tử cung: Zoladex được chỉ định để làm mỏng nội mạc tử cung trước khi cắt bỏ hoặc cắt bỏ nội mạc tử cung. (vi) U xơ tử cung: Kết hợp với liệu pháp sắt trong việc cải thiện huyết học ở bệnh nhân thiếu máu có u xơ tử cung trước khi phẫu thuật. (vii) Hỗ trợ sinh sản: Sự điều hòa tuyến yên để chuẩn bị cho quá trình rụng trứng.