Có mẹ nào dạy con qua những câu truỵên kể về các danh nhân không ? Ở nhà mình hay kể cho các bé nghe chuyện về các danh để từ đó cho bé rút ra những bài học và noi theo gương các danh nhân này hay chí ít cũng học được những đức tính tốt từ họ. Đồng thời tạo cho bé niềm đam mê ham đọc sách. TRUYỆN KỂ 1: Lời khuyên của mẹ Vào thời Lê, nước ta có một cậu bé tên Lê Tài- là một học sinh thông minh, có tài ứng đối rất nhanh, khiến ai cũng phải khen là '' Thần đồng''. Khoa thi năm Ất Sửu, tuy còn nhỏ tuỏi nhưng Lê tài đã sửa soạn lều chõng đi thi và cậu tin mình sẽ đỗ cao. Vào trường thi, vì chủ quan nên cậu đã bỏ qua mấy ý hay trong sách, khi nhớ lại thì đã quá muộn. Cậu xấu hổ và tự dỡ lều chõng ra về, không thi tiếp nữa. Canh ba đếm ấy, về đến nhà nhưng cậu không dám gõ cửa, cậu lẳng lặng nằm ở ngoài hiên. Mẹ cậu mở cửa, biết ngay là con đã làm sai bài văn. Thương con và cũng để con đỡ buồn, bà bảo: - Chỉ vì con học hành chưa đến nơi đến chốn đấy thôi. Từ nay con hãy cố gắng. Con còn ít tuổi, chẳng thi khoá này thì thi khoá khác con ạ! Nghe mẹ nói, Lê Tài dậy châm đèn và ngồi vào bàn học ngay. Thấy vậy mẹ cậu lại nói: - Vì hỏng thi mà con suốt ruột phẫn chí mà học, mẹ lo như thế không bền. Lê Tài hiểu lời khuyên của mẹ. Dù nổi tiếng là thông minh, là thần đồng nhưng tài không ỷ lại, mà ngày đêm chăm chỉ, miệt mài đèn sách. Khoa thi sau đó, Lê Tài thi và đỗ đầu bảng, tiếng thơm để lại muôn đời.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. Em chưa có baby, nhưng em thấy cách này hay vì bây giờ trẻ con không chịu học sử
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. Em có mua cho bé nhà em cả truỵen tranh kể về các danh nhân để bé đọc, tuy nhiên em vẫn kể cho bé nghe truỵện lịch sử Việt Nam và các danh nhân Việt để bé ngay từ nhỏ đã yêu sử Việt, yêu đất nước.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. Nhắc đến những trạng nổi tiếng Việt Nam, không thể không nhắc đến Trạng Quỳnh. Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh (1677–1748[1]), là một danh sĩ thời Lê–Trịnh (vua Lê Hiển Tông), từng đỗ Hương cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên. TRUYỆN KỂ 2: Những tích về trạng Quỳnh. 1. Làm thơ xin ăn Tại một làng thuộc tỉnh nọ có tên địa chủ giầu có nứt vách, lại nổi tiếng gian ác và hay hà hiếp dân lành. Hắn có cô con gái tuy đẹp nhưng cũng nổi tiếng không kém cha về cái thói chua ngoa đanh đá. Cô gái này thường thay cha ra đồ nam đốc thúc kẻ làm thuê. Một hôm, cô ta đang đứng trên bờ ruộng, tay chống nạnh, đầu có nón quai thao, quan sát các nông dân làm thuê gặt lúa thì có một chàng thiếu niên dáng vẻ nho sinh đi ngang qua. Nho sinh thấy cảnh đó liền dừng lại hỏi thăm một bác nông dân về cô gái kia. Bác nông dân bảo cô ta là con gái của chủ ruộng, ngày nào cũng ra đứng đây để mà đôn đốc việc đồng áng, nói là thế nhưng thật ra ai làm lụng chậm chạp một tí là cô ta ngoác miệng ra chửi chẳng tiếc lời. Có lắm người tuy đói nhưng ráng chịu chứ không làm thuê cho cô ta để khỏi bị nhục. Nghe kể xong, chàng thiếu niên liền tiến đến gần bờ ruộng nơi cô kia đang đứng. Thiếu niên bảo cô nàng mình là học trò lỡ độ đường, nhịn đói đã hai ba bữa nay, xin cô gia ân bố thí cho ít lúa thổi cơm. Thấy chàng trai khôi ngô khoẻ mạnh lại đi xin ăn, cô gái nguýt dài và bảo: - Này, cô bảo cho biết, của đâu mà lấy không của người ta hả, nếu đúng học trò thì ứng khẩu xuất thi cho cô nghe lọt lỗ tai đã, bằng không thì cứ thẳng đường mà xéo! Chàng thiếu niên kia nhận lời ngay và xin cô gái ra chủ đề cho mình làm thơ. Cô kia bảo: - Ðã ăn xin còn vẽ chuyện, cứ làm thơ xin ăn là hợp nhất chứ còn đề điếc gì nữa! Chàng trai suy nghĩ trong thoáng chốc rồi đọc to: Tuyên Quang, Hoằng Hoá cũng thờ vua. Nắng cực cho nên phải mất mùa Lại đứng đầu bờ xin xỏ chị. Chị lỡ lòng nào chị chẳng cho. Nghe xong bốn câu thơ ấy, cô gái đỏ gần cả mặt, ngượng quá không còn biết nói năng gì nữa cả, vội vội vàng vàng lấy lúa đưa cho chàng trai kia. Chàng kia chẳng thèm cám ơn, đi thẳng một mạch trong tiếng cười khúc khích của các người làm ruộng thuê. Về sau, người ta biết ra chàng trai ấy chính là Trạng Quỳnh. Còn phần cô gái thì sao? Cô ta mất hẳn cái thói đanh đá chanh chua, mà cũng từ hôm ấy, không thấy cô ra đồng đứng chống nạnh như trước nữa. 2.Câm điếc Nổi tiếng là người thông thái, hiểu rộng, biết nhiều, nhưng Quỳnh ngán chuyện cử nghiệp. Mỗi lần triều đình mở khoa thi, nhiều người giục chàng lều chõng ứng thí, chàng đều gạt phăng nói sang chuyện khác. Lần ấy, vì nể ý thầy học, lời khuyên của bạn bè dân làng, Quỳnh đành đi thi cho phải phép. Năm đó, nhà chúa mừng sinh được con trai, các quan trường bèn nảy ra ý nịnh hót chúa, bàn nhau ra đề thì nói về điềm lành của đất nước. Đoán được ý ấy, Quỳnh nghĩ ra cách làm một bài văn phải hàm được hai nghĩa: bề ngoài, đọc lên nghe như lời ca ngợi công đức của Chúa và sự an vui của mọi người, nhưng ẩn ý của nó lại là một sự phủ định. Trong bài văn ấy có hai câu khái quát hiện trạng đất nước như sau: - "Quan tắc cổ, dân tắc cổ, đái hàm quan Nghiêu Thuấn chi dân" (Nghĩa là: Quan cũng theo phép xưa, dân cũng theo phép xưa, đội ơn quan, dân được sống đời Nghiêu Thuấn) và đối lại: - "Thượng ung tai, hạ ung tai, ỷ đầu lai Đường Ngu chi đức" (nghĩa là: Trên cũng vui thay, dưới cũng vui thay, dựa vào đám đầu lại có đức độ thời Đường Ngu) Mới nghe đọc lần đầu, chúa Trịnh đã khen: - Hay quá! Xứng đáng cho giải nhất! Quan chủ khảo liền đứng lên tâu với Chúa: - Khải chúa! Trong hai câu ấy, thần thấy có cái ẩn ý không thuận. - Quan thật đa nghi quá. Ca tụng công đức của chúa như vậy mà còn gì không thuận? - Khải chúa, cứ theo cái nghĩa chữ Hán thì hai câu ấy đúng là hay thật, nhưng Quỳnh là loại thâm nho, từng đã dùng chữ nghĩa chơi khâm nhiều người, và chắc hắn không bao giờ bằng lòng thứ văn chương một nghĩa. Theo sự hiểu biết cạn hẹp của thần, thì hai câu ấy xướng theo nghĩa đồng âm trực tiếp nghe ra ngại lắm, không dám đọc lên để chúa thưởng lãm. - Ta cho phép, quan cứ nói. - Khải chúa, nếu vậy thì thần xin thưa. Hai câu ấy có dụng ý phỉ báng, táo tợn. Nếu đọc theo kiểu nôm thì rõ là câu chửi tục. - Chửi tục không sao, nhà ngươi cứ trình bày ta nghe thử! - Vậy thần xin mạo muội thưa: "Quan tắc cổ, dân tắc cổ" có nghĩa là "trên cũng câm, dưới cũng câm," thưa tắc cổ là câm không dám nói đấy ạ! Còn "đái hàm quan Ngiêu Thuấn chi dân" tức là "đái vào hàm bọn quan dám bảo rằng dân chúng đang sống dưới thời Nghiêu Thuấn". - Nếu quả vậy thì Quỳnh láo thật! - Khải chúa, chưa hết đâu. Câu sau này còn hàm ý báng bổ tệ hại hơn. "Thượng ung tai, hạ ung tai" có nghĩa là "đứa trên thối tai, đứa dưới cũng thối tai", là cả trên dưới, ai ai cũng là một lũ điếc đấy ạ. Vì điếc hết nên không biết rằng "ỷ đâu lai Đường ngu chi sĩ" nghĩa là "ỉa vào đầu lũ nha dám bảo rằng kẻ sĩ đang mở mặt giữa đời Đường Ngu". Quỳnh lần ấy bị đánh hỏng nhưng lại có cơ hội đả kích vào thói xu nịnh của đám quan trường và "chọc" nhà chúa một trận nên thân, còn mình thì vẫn giữ tròn khí tiết.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. Hồi bé em cũng hay được bà kể chuyện cho nghe tích mấy trạng việt nam lắm. Gìơ thì chắc chắc được nghe nữa rồi.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. Bác vivavivu ơi, hôm qua em copy truyện câm điếc của Bác xuống đọc cho con nghe, hai mẹ con e cười từ trên giường ngã xuống đất. Chả là em cũng đang kể các tích Trang Quỳnh cho con nghe, nhưng mà xót mất chuyện này của Bác. Hay quá. Cảm ơn bác rất nhiều. Có truyện gì hay hay của các danh nhân Bác cứ post lên nhé.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. truyệnc ũng là góp nhặt trên mạng mà có được thôi. Cảm ơn bạn đã ủng hộ.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. 3.Đầu To Bằng Cái Bồ Chuyện kể rằng lúc Quỳnh còn nhỏ, mới bảy tám tuổi, Quỳnh đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ nhưng cũng là một đứa trẻ chúa nghịch. Hồi ấy bọn trẻ thường chơi trò xước xách, lấy tàu chuối làm cờ, lá sen làm lọng. Trong trò chơi, Quỳnh bao giờ cũng lấn lướt. Một đêm mùa thu, trăng tháng tám sáng vằng vặc, đang chơi với đám trẻ ở sân nhà, Quỳnh bảo: - Chúng bay làm kiệu cho tao ngồi, rồi tao đưa đi xem một người mà cái đầu to bằng cái bồ! Lũ trẻ tưởng thật, liền tranh nhau làm kiệu rước Quỳnh đi vòng vòng quanh sân, mệt thở muốn đứt hơi. Xong, chúng nhất định bắt Quỳnh phải giữ lời hứa. Lúc ấy trăng đã mờ, Quỳnh bảo: - Tụi bây đứng đợi cả ở đây, tôi đi đốt lửa soi cho mà xem! Bọn trẻ nhỏ hơi sợ, không dám ở lại, chỉ những đứa lớn hơn, bạo dạn đứng chờ. Quỳnh lấy lửa thắp đèn xong đâu đấy, rồi thò đầu che ngọn đèn, bảo: - Kìa, trông trên vách kìa. Ông to đầu đã ra đấy! Anh nào cũng nhìn nhớn nhơ nhớn nhác, thấy bóng đầu Quỳnh ở vách to bằng cái bồ thật. Lũ trẻ biết Quỳnh xỏ, quay ra bắt Quỳnh làm kiệu đền, Quỳnh chạy vào buồng đóng cửa lại, kêu ầm lên. Ông bố tưởng là trẻ đánh, cầm roi chạy ra, lũ trẻ chạy tán loạn. 4.Cây Nhà Lá Vườn Quỳnh nhiều lần dùng trí thông minh, tài đối đáp để trêu chọc chúa Trịnh, nên trước chúa quý trọng bao nhiêu thì sau lại ghét bấy nhiêu. Chúa càng ghét, Quỳnh càng trêu tợn. Một lần, chúa sai lính tới kéo đổ nhà Quỳnh. Thấy lính đến Quỳnh bảo: - Chúa sai các anh đến kéo đổ nhà ta, các anh cứ làm, nhưng không được reo, cười, ai mà reo cười ta cắt lưỡi. Ở đời, hễ kéo nặng thì phải reo hò, không dô ta, hò khoan sao mà kéo nổi? Bọn lính đ ành chịu thua về trình báo lại. Lần khác chúa sai bọn lính đến ỉa vào vườn nhà Quỳnh, Quỳnh thản nhiên cầm dao ra bảo: - Chúa sai các anh đến ỉa thì cứ ỉa nhưng ta cấm đái. Thằng nào đái thì dao đây, ta cắt.... Ngay! Ỉa ai không đái bao giờ? Bọn lính lại phải về tâu lại. Chúa truyền cho chúng mang gáo dừa theo và đái vào đó. Quỳnh đ ành chịu thua nhưng vẫn nghĩ cách chơi lại chúa. Một tháng sau, Quỳnh ra chợ, thấy người ta bán cải tốt, liền mua thật nhiều về, mang lên biếu chúa. Chúa thấy cải ngon, sai đầu bếp nấu canh, và quên chuyện cũ liền hỏi Quỳnh cải đâu mà ngon vậy. Quỳnh thưa ngay: - Dạ, đó là cải nhà trồng. Trước nó không tốt lắm nhưng từ khi chúa sai lính "Bón phân" vườn nhà thần, nên nó tốt tươi như vật. Cây nhà lá vườn thôi, thần mới dám dâng cho chúa xơi! 5. Chửi......Vua Một hôm, Quỳnh cho người ra bảo các hàng thịt là ngày mai Trạng đặt tiệc đãi các quan, cần mỗi hàng bán cho mấy cân, nhưng phải thái sẵn cho đỡ mắc công người nhà. Các hàng thịt mừng rỡ, sáng sớm đã thái thịt để đấy chờ người nhà Trạng đến lấy. Ai ngờ đợi mãi đến trưa mà cũng chẳng thấy ai, họ bèn tới nhà Trạng thì nhà vắng tanh, chẳng có khách khứa gì cả. Hỏi trạng thì Trạng bảo không biết: "Chắc là có đứa nào muốn lõm bà con đấy. Cứ gọi thằng nào bảo thái mà chửi": Bọn hàng thịt tức mình về cứ gọi thằng bảo thái mà chửi: - Tiên sư thằng "Bảo thái"! Tiên sư thằng "Bảo thái". Bảo Thái là niên hiệu nhà vua. Thành thử vua bị dân hàng thịt chửi một bữa inh cả phố. Đương nhiên ai cũng biết cái chuyện xỏ xiên này chỉ có Trạng Quỳnh mới nghĩ ra được nhưng cũng đành làm thinh vì biết lấy bằng cớ gì mà bắt tội Quỳnh?
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. Hồi chiều kể cho mấy chị cùng phòng nghe truyện ''Câm điếc'', cả phòng thấy liên tưởng ra nhiều thứ quá. Phục ông cha ta ngày xưa.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. Hôm nay sẽ chuyển sang một Trạng mới, rất nổi tiếng của Việt Nam, được mệnh danh là Trạng Lường. 1. Chú bé láu lỉnh Trạng nguyên Lương Thế Vinh người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định) thuở còn nhỏ đã tỏ ra hài hước, hóm hỉnh và khôn ngoan. Có lần, người bố là Lương Thế Thiện đi vắng, chủ nợ đến đòi tiền, thấy cậu bé Vinh đang chơi trò nặn đất ở sân, liền hỏi: - Bố mẹ đi đâu? Vinh làm thinh không trả lời. Chủ nợ hỏi lại, cậu mới đáp: - Bố, mẹ tôi đã đi khắc có việc, ông hỏi làm gì? Chủ nợ cứ gặng hỏi đi đâu, bao giờ về... Cuối cùng, Vinh mới trả lời, giọng tỉnh khô: - Bố tôi đi giết một người sống. Mẹ tôi đi cứu một người chết. Chủ nợ ngơ ngác, không hiểu đầu đuôi thế nào, nên cứ hỏi mãi. Thấy Vinh im lặng, chủ nợ dỗ: - Nếu mày nói thật, ta sẽ trừ cho khoản nợ trước kia bố mẹ mày vay. Bấy giờ Vinh mới vui vẻ đáp: - Nếu vậy thì ông in ngón tay vào bánh đất này để làm bằng. Người chủ nợ vì tò mò muốn biết, nên cũng thử chiều ý cậu bé xem sao. Lúc ấy Vinh mới vừa mỉm cười, vừa nói: - Bố tôi đi nhổ mạ. Mẹ tôi đi cấy lúa! Lúc này chủ nợ mới vỡ lẽ, trong lòng thầm thán phục Lương Thế Vinh là đứa trẻ khôn ngoan. Ngày hôm sau chủ nợ lại đến đòi. Bố mẹ Vinh chưa biết nói sao, thì Vinh đã giơ đồ chơi bằng đất cho mọi người xem và nói: - Hôm qua ông đã hứa xoá nợ cho nhà tôi rồi kia mà? Dấu tay ông in còn đây này? Người chủ nợ giật mình, nói với ông Thiện: - Tôi mừng cho ông bà có cháu bé rất thông minh. Tôi xin biếu khoản nợ để gia đình lo cho cháu học sớm, sau này chắc thế nào cũng chiếm được khôi nguyên. Từ đó cậu bé Lương Thế Vinh đã nổi tiếng là “Thần đồng làng Hương”. 2. Trạng Lường Lương Thế vinh vẫn được người đời quen gọi là Trạng Lường. Lí do là vì ngay từ nhỏ, ông đã tỏ ra rất giỏi trong việc đo lường. Khi đỗ đạt ra làm việc quan, ông đã viết cuốn sách nhan đề “Đại thành toán pháp” (2) nhằm tổng kết kiến thức tính toán của thời đó và cả những phát minh của chính bản thân ông. Lương Thế Vinh đã viết đề tựa, nêu mục đích của cuốn sách như sau: “ Trước thời cho biết cách đo lường Tính toán bình phân ở cửu chương Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển Học lấy cho tinh giúp thánh vương!” Tương truyền rằng thuở còn nhỏ, một lần Lương Thế Vinh cùng chúng bạn ngồi hóng mát dưới một gốc cây cổ thụ. Cả bọn thách đố nhau làm thế nào để biết được cây cao - thấp. Một số cho rằng chỉ có cách là trèo lên ngọn cây, rồi dùng dây thòng xuống đất mà đo. Riêng Lương Thế Vinh cho rằng không cần trèo, đứng dưới đất vẫn có thể đo được. Cậu lấy chiếc gậy cầm ở tay đo xem dài ngắn bao nhiêu, đoạn dựng gậy lên mặt đất và đo chiều dài bóng gậy. Tiếp đến cậu đo bóng cây và sau một lát nhẩm tính, cậu đã tìm được chiều cao của cây. Bọn trẻ không tin bèn dùng thừng nối lại, buộc hòn đá phía dưới, rồi trèo lên tít ngọn cây dong thừng xuống đất để đo. Kết quả, đúng như Vinh đã tính. Ngày nay, cách tính chiều cao của cây mà Lương Thế Vinh đã áp dụng, chắc chắn các bạn học sinh chúng ta không lấy gì làm lạ. Nhưng cách đây gần 5 thế kỉ, khi ở châu Âu số người hiểu được định lí Pitago về cạnh tam giác vuông a2 + b2 = c2 chỉ mới đếm trên đầu ngón tay, thì việc Lương Thế Vinh tìm ra được tỉ lệ chiều cao của cây và chiều cao của chiếc gậy bằng tỉ lệ bóng của chúng trên mặt đất, là một sáng tạo, thể hiện nước ta ở thế kỉ XV đã có nhà toán học đầy tài năng. Khi đến tuổi trưởng thành, có lần Lương Thế Vinh đến một khúc sông, thấy mấy người đang bàn tính nhau tìm cách đo chiều rộng của con sông để bắc cầu. Hôm đó nước sông rất to và chảy xiết, nên không thể bơi qua. Lương Thế Vinh bèn góp ý: - Không cần sang sông làm gì. Các ông tìm cho tôi mấy cái cọc, tôi sẽ đo giúp. Lúc đầu mấy người tưởng ông nói đùa, không tin. Nhưng chỉ sau một lúc đóng cọc, ngắm nghía và tính toán, ông đã cho họ biết khúc sông rộng bao nhiêu thước. Thì ra từ thời đó, Lương Thế Vinh đã biết đến kiến thức về tam giác đồng dạng... Lại một lần khác, đoàn sứ bộ nhà Minh sang nước ta. Vua Lê Thánh Tông cử trạng nguyên Lương Thế Vinh đón tiếp. Trưởng đoàn sứ Minh vốn nghe tiếng trạng nguyên Việt chẳng những nổi tiếng văn chương, mà còn có trí thức uyên bác về khoa học, bèn hỏi: - Có phải ông là người làm sách “Đại thành toán pháp”? Lương Thế Vinh tỏ vẻ khiêm tốn, đáp: - Vâng, đúng vậy! Nhân lúc đó có con voi đang kéo gỗ dưới sông lên, sứ Tàu bèn thách: - Vậy quan trạng có thể cân xem con voi kia nặng bao nhiêu được không? - Được ạ! Dứt lời, Lương Thế Vinh lấy chiếc cân, xăm xăm đi ra phía sông để cân voi. Sứ Tàu phì cười, nói: - Xem chiếc cân quan trạng chỉ đủ cân được cái đuôi voi thôi!” - Thì chia nhỏ voi ra nhiều phần để cân. Lương Thế Vinh trả lời, tỉnh khô. Vị chánh sứ Tàu lại châm chọc: - Ông định mổ thịt voi chắc? Nhớ phần tôi miếng gan nhé! Lương Thế Vinh không trả lời. Ông sai lính dắt voi xuống chiếc thuyền bỏ không buộc lên bờ. Voi nặng, thuyền đắm sâu xuống nước. Ông lại sai đánh dấu mép nước bên mạn thuyền, rồi dắt voi lên. Đoạn ông ra lệnh cho quân lính khuân đá bỏ vào thuyền, cho đến khi thuyền đắm ngang mực nước đã đánh dấu thì thôi. Thế rồi trạng cho bắc cân cân hết số đá trong thuyền và bảo với sứ Minh: - Đây, con voi ông chỉ, nặng chừng này cân! Viên sứ Tàu tuy trong bụng đã phục lăn, nhưng bề ngoài vẫn làm vẻ chưa tin, muốn thử tài trạng thêm, bèn xé một tờ giấy bản trong cuốn sách dày và đưa cho trạng một chiếc thước, nhờ đo xem tờ giấy dày bao nhiêu. Tình huống đặt ra thật khó xử. Tờ giấy quá mỏng, mà các nấc chia trên thước vừa lớn, lại không rõ. Nhưng với trí tuệ linh hoạt, Lương Thế Vinh đã nghĩ ngay được cách đo. Ông mượn viên sứ Tàu quyển sách, lấy thước đo chiều dày cả quyển, rồi chia cho số tờ và tìm ra đáp số, trước con mắt thán phục của sứ bộ nhà Minh. ( nguồn: hieuhoc.com )
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. truyện này đánh thẳng vào cả 1 chế độ xã hội, không cười sao được chị. con em còn bé mà nghe xong cũng cười lăn cười lóc. chồng em còn bao dạo này mẹ các con chuyển sang tấu hài rồi.
Ðề: Dạy con qua chuyện kể danh nhân. uhm. mình cũng thường kể cho con nghe những câu chuyện về Trạng Quỳnh, vì mình yêu thik nên cũng muốn cho con biết từ khi còn nhỏ.