Ðề: Hạnh phúc để thành công [video=youtube;UB8Dr4ZhJ30]http://www.youtube.com/watch?v=UB8Dr4ZhJ30&feature=related[/video]
Ðề: Hạnh phúc để thành công Lợi ích của Thiền đối với quản trị kinh doanh Tôi đã từng có những buổi nói chuyện sâu sắc với hơn mười hai nhân viên thương mại, là những người thầu khoán có qui mô nhỏ sau các khoá thiền. Các buổi nói chuyện này đã khẳng định rằng sau mọi khóa thiền họ đều có thể làm việc nhanh hơn 20% trước đây và chất lượng của công việc đã chứng minh giá trị của người làm việc trong một trạng thái tâm nhẹ nhàng. Quản Trị Thương Mại Với sự phức tạp của thương mại ngày càng gia tăng, đặc biệt là thương mại công nghệ – việc vận dụng phương pháp thiền định đã trở nên rất phổ biến trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, các phương pháp thiền định này được áp dụng chủ yếu như là cách xoa dịu bớt những căng thẳng cho các uỷ viên của ban quản trị đang bị sức ép của mục tiêu hoạch định này. Việc quản trị ở một mức độ trung bình phụ thuộc vào cách: tổ chức, nghiệm thu, sản phẩm, thu mua, quảng cáo, nguồn ngân quỹ, điều hành, v.v… . Mỗi một vận hành này đòi hỏi tư duy, kế hoạch, sự phối hợp, thực hiện, công tác kế toán, và đề án lợi nhuận đều phải rõ ràng. Hiện nay, có nhiều trường đại học dạy về khoa quản trị này. Có một vài phương pháp quản trị đặc biệt áp dụng cho những tổ chức lớn với doanh thu khoảng một trăm triệu đô la Mỹ hoặc trên nữa. Các công trình nghiên cứu và các phương pháp khuếch trương hiện nay là để nâng cao kỹ thuật của các nghiệp vụ thương mại này. Nhu Cầu Thiền Định Thiền định được vận dụng vào công tác quản trị thương mại như thế nào? Để tìm câu trả lời này chúng ta phải nhìn kỹ các nước công nghiệp như Mỹ và Đức. Bản chất của các xã hội này được hình thành từ một nền công nghiệp hoá tiến bộ đã được định hình do mức tiêu thụ rượu mạnh, ma tuý và thuốc lá; các cơn dịch ly dị và nhiều gia đình đổ vỡ; kinh tế suy thoái và nghề nghiệp không ổn định; cảm giác cạnh tranh và suy thoái dữ dội, dẫn đến các triệu chứng bệnh tim, tự tử, v.v,… . Xã Hội Đổ Vỡ Nhiều giám đốc thương mại đã đến từ xã hội đổ vỡ này. Các trường thương mại dạy cho họ làm việc để kiếm nhiều lợi nhuận và lương cao hơn; và những căng thẳng phát sinh buộc họ sử dụng nhiều rượu và ma tuý và do đó các vấn đề sức khoẻ khác như chứng tăng huyết áp lại xuất hiện. Mức độ bình đẳng trong các xã hội này bị suy sụp. Các người chủ thương mại, trợ lý, các giám đốc gia tăng tánh kiêu hãnh, định kiến, ganh tỵ, ngạo mạn, và đồng thời họ cũng kinh qua các trạng thái: chán nản, lo lắng, căng thẳng và những ảnh hưởng tai hại khác. Chuyển Hoá Tích Cực Phương pháp thiền minh sát (Vipassana) cải thiện đời sống của nhân viên và ban quản trị thương mại bằng cách chuyển hóa thái độ của họ. Định kiến được thay thế bằng lòng từ, sự ganh tỵ được đổi thành lòng hoan hỷ khi thấy thành công của người khác, tánh tham lam và mê muội được thay thế bằng sự rộng rãi và khiêm tốn, v, v,… . Sự chuyển đổi thái độ này làm cho các căng thẳng được giảm thiểu, và tâm được thanh thản, thăng bằng. Chính động lực sáng tạo có thể làm cho công việc có năng suất, ảnh hưởng đến đội ngũ cấp dưới. Việc thay đổi tích cực này đưa đến thái độ và hành động của ban quản trị chuyển biến, đó là cách cư xử lễ độ và hài hoà, ngôn ngữ nhẹ nhàng, và tâm hồn đầy thương yêu, hữu nghị. Sự thay đổi tích cực trong tâm thức này cũng chính là mục tiêu của thực tập thiền định thật sự, và nó tạo nên một nền tảng mới và tiên tiến cho công việc thương mại và quản trị công nghiệp. Tình Hình Hiện Nay Quản lý thương mại hiện nay được điều chỉnh bằng lợi nhuận hay là khả năng "hái tiền". Các giám đốc được đánh giá bằng khả năng tạo ra tiền với phương thức gia tăng doanh thu sản phẩm, phát triển các kỹ thuật mới với mức lương cao hơn, hoặc giảm giá nhờ vào những phát minh mới. Để đền bù lại, các giám đốc này muốn lương cao và nhiều đòi hỏi hơn. Mặc dù không có gì sai khi tạo nên lợi nhuận và gia tăng lợi tức, nhưng mục đích thật sự của công việc kinh doanh là để tạo nên sự giàu có được kết hợp bởi tiền bạc, sức khoẻ, và hạnh phúc. Thiền minh sát đóng góp rất lớn trong việc cải thiện sức khoẻ nội tâm và hạnh phúc của cá nhân – đó là những yếu tố thật sự cần thiết của giàu có. Phát Triển Tiềm Năng Con Người Nhiều công ty hiện nay có những văn phòng phát triển tiềm năng con người, phổ biến như – phát triển tiềm năng con người (Human Resource Development). Bộ phận phát triển tiềm năng con người là một khái niệm mới được đón nhận, bởi vì con người làm việc trong nghành thương mại hoặc công nghiệp không nên có "tinh thần vô trách nhiệm". Họ cần được mở rộng tầm nhìn. Một trong những thông số trong tiến trình này là phát triển các mối quan hệ hỗ tương. Chính sự phát triển này đã cải thiện các mối quan hệ giữa con người với con người một cách tự nhiên. Thiền định sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu này, và vượt qua mối thù hiềm đối với các bạn đồng nghiệp, thuộc cấp, cấp trên, nhân viên chánh phủ và những người khác. Sự thù hiềm này biểu hiện như sân giận, kiêu ngạo, ganh tỵ, trả thù, ích kỷ, tham lam, định kiến và ác ý. Các buổi thuyết trình, hội thảo, sách vở, thảo luận, v.v… cũng giúp cho chúng ta hiểu tầm quan trọng về những chủ đề này. Tuy nhiên, hơn 95% các điểm tiêu cực trong tâm con người vẫn không thay đổi mặc dù chúng ta hiểu biết về giá trị của vượt qua thù hằn, tiêu cực và ích kỷ. Lời phát biểu này xuất phát từ kinh nghiệm riêng của tôi cũng như qua hơn trăm (100) cuộc phỏng vấn với các trợ lý thương mại suốt mười năm qua. Mạng Sống Chân Chánh (Chánh Mạng) Thực hành chánh mạng là một khía cạnh quan trọng của thiền minh sát. Nó có thể là nền tảng cho công việc quản lý thương mại. Dựa vào nền tảng này các kỹ thuật sử dụng tài liệu thống kê theo kiểu quản lý truyền thống như là các dự án theo chu kỳ tiền mặt, trả lại tiền vốn, tổng sản lượng quốc gia, doanh thu lợi nhuận, v, v, … . được xác lập. Các tham số này trở nên hữu ích nếu chúng dựa trên khái niệm mạng sống chân chánh. Tóm lại, việc ứng dụng khái niệm này nên có tinh thần tích cực, nghĩa là lợi tức có được xuất phát từ các hợp đồng thương mại hoặc cá nhân không những có đạo đức mà ý thức của những người tạo nên lợi tức này cũng được trong sạch. Điều này có nghĩa là vượt ra các mặt tiêu cực vừa nêu ra ở trên. Một trạng thái tâm thoát khỏi các tiêu cực, tự nhiên trở nên trong sạch, và biểu hiện các đặc tính thương yêu, kính trọng, hợp tác, hoà nhã và bình đẳng thật sự. Chúùng ta nên có ý thức trong việc tạo nên tài sản này. Tạo ra tài sản không chỉ là tạo ra tiền mà còn tạo cho tinh thần thư thái và hạnh phúc xuất phát từ trạng thái tâm thanh thản. Tiềm thức Không cần đi sâu vào thiền minh sát, ta sẽ chạm phải một phương diện quan trọng của sự chuyển hóa tâm thức: đó là sự chuyển hóa tiềm thức. Chúng ta biết rất ít về trạng thái tâm thức bị tràn đầy những tâm niệm tiêu cực này, các tâm niệm tiêu cực này hoàn toàn đi ngược với một tâm thức lành mạnh. Trong khi chúng ta có thể nhận ra và kinh nghiệm những điểm tiêu cực này, chúng ta vẫn không thể tẩy sạch các tâm niệm đầy ô trược nếu không có một phương pháp thích đáng. Phần lớn các phương pháp thiền định [thông thường] không thể tiến sâu vào tiềm thức, chúng làm cho tâm nhiễu loạn và do đó tâm thức dễ bị nhiễm ô. Hơn thế nữa, tâm thức nhiễm ô này, là làm đời sống của chúng ta phức tạp hơn. Thiền minh sát dựa trên mỗi bước "thực tại như nó đang là". Thiền minh sát cho phép thiền giả kinh nghiệm những giây phút "tâm trống không". Điều này khởi động cho tiến trình "giải độc" tâm khỏi các nhiễm ô. Căn bệnh công nghiệp Một tâm thức không định tĩnh và đầy nhiễm ô sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Khi tâm thức của những người lãnh đạo công nghiệp không trong sạch, các chi nhánh công ty sẽ lạm phát và thật là đáng sợ. Hiện tượng này được minh hoạ bằng một ví dụ trước đây của việc quản lý thất bại tại Bombay Textile Mills. Cách đây hai mươi năm, Bombay Textile Mills là một đơn vị đứng vững và phát đạt, tuy nhiên, chỉ vì lòng ham muốn kiếm tiền nhanh đã gây ra một thảm kịch kinh tế. Tiền mặt lợi nhuận để sử dụng trong việc hiện đại hoá máy móc và thiết bị, hoặc vốn luân chuyển bị chuyển ra vì lợi nhuận cá nhân của các giám đốc. Cách sinh kế của họ không phải là "chánh mạng". Sự ô nhiễm của lòng tham đã giết đi lợi tức tốt nhất của các giám đốc và làm đau khổ tràn lan khắp các hệ thống kinh tế và lực lượng lao động ở Bombay. Thiền minh sát là cuộc giải phẫu tâm thức. Khi thực hành đúng đắn, tốc độ của tâm thanh tịnh có thể tiến triển hết sức bất ngờ. Phương pháp này giải thoát tâm khỏi tham lam. Một tâm thức khoẻ mạnh luôn tỉnh táo và có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu trong việc làm, nó tự nhiên thoát khỏi nghiện ngập và đam mê dục lạc. Thực hành thiền minh sát làm giảm bớt lòng khát ái. Một công việc thương mại dưới sự điều khiển của một tâm trí như vậy sẽ tạo nên sự phát triển của nghành công nghiệp dệt hơn là tạo nên các đơn vị sản xuất bệnh hoạn. Phân tích về tình trạng bệnh hoạn của nền công nghiệp đang gia tăng và sự thất bại của công việc quản lý thương mại là một tấm gương điển hình. Trong nhiều trường hợp, người ta quá lo âu về việc xuất khẩu và mở rộng thị trường đưa đến vốn luân chuyển bị sử dụng trệch hướng vào việc đầu tư bất động sản. Kết quả là số lượng thiếu hụt vốn luân chuyển trầm trọng và sự vay mượn quá mức, rõ ràng là một đại lộ nguy hiểm cho công việc thương mại. Với một tâm thức trưởng thành nhờ thiền định, các loại hành động hướng đến ái dục này được kiểm duyệt bằng đức tính trầm tĩnh và điềm đạm mà nó có thể làm giảm thiểu khả năng tạo các sai lầm như vậy. Tâm Thanh Tịnh: Nền Tảng của Quản Trị Tự thân phương pháp thiền minh sát không tạo ra một kỹ thuật quản trị mới. Nó chỉ đóng góp vào việc cải thiện quản trị bằng cách điểu chỉnh tận gốc vấn đề, đó là tâm thức không trong sạch. Do đó, một công việc thương mại nên được thức ăn tinh khiết của tư tưởng và hành động đúng đắn nuôi dưỡng liên tục. Chính khát ái và tham lam tột độ đã đầu độc tâm trí của các giám đốc. Nhiễm ô này được điều chỉnh bằng thiền định. Thái Độ đối với Cạnh Tranh Thiền minh sát cũng giúp chúng ta thay đổi thái độ đối với đối phương. Khi công việc thương mại áp đảo đối phương chắc chắn sẽ có một chuỗi phản ứng, một vòng luẩn quẩn lại bắt đầu. Nhiều cuộc làm ăn đã bị sụp đổ bởi thái độ này. Thiền minh sát thanh lọc tâm thức và làm cho trí tuệ sung mãn, điều đó có thể giúp hành giả nhận thức rằng có một khoảng không gian để mọi người chung sống với nhau. Sự thanh tịnh xuất phát từ kết quả thực hành thiền minh sát như "chính nó là"ø trong mảnh đất phì nhiêu, nơi đó hạt giống quản trị thương mại đầy sức sống nầy trưởng thành. Mảnh đất tâm đầy nhựa sống nầy đã hướng dẫn công việc quản trị, mà mục đích căn bản của quản trị là tạo nền hoà bình và hạnh phúc cho xã hội. Mục đích thứ hai của nó là tạo ra đồng tiền như là một phương tiện để mua hàng hoá và những việc cần dùng và đạt đến sự giải phóng kinh tế và mức sống cao hơn. Nghiên Cứu Trường Hợp Cụ Thể của Công Ty Ananda Engineers Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Ananda Engineers (tại Bombay) của tôi có nguồn doanh thu trên một triệu đô la Mỹ. Tất cả các giám đốc, các thành viên thâm niên cũng như đại đa số nhân viên và công nhân đều đã trải qua tu tập thiền minh sát. Con đường thiền minh sát đã đến với chúng tôi như vầy, trước hết giám đốc điều hành đã đến tham dự khoá thiền, sau đó đội ngũ thâm niên cũng theo gương ông. Các nhân viên cũng nhận ra nhiều thay đổi của cấp trên và rồi họ muốn thử nghiệm. Chúng tôi thấy rằng hiệu suất công việc của tập thể được gia tăng, cũng như lợi ích đi kèm với sự cải thiện tinh thần lành mạnh và các mối quan hệ hỗ tương. Có lẽ có những công ty lớn với khoảng lợi nhuận kếch sù nhưng tôi lại thấy rằng hạnh phúc của ban điều hành và công nhân không chỉ do tiền bạc đem đến mà còn xuất phát từ việc đối xử và thương yêu, hoà ái của ban quản đốc. Bất cứ phương pháp nào cũng không thể mang lại cách đối xử thân ái này, ngoại trừ thiền minh sát. (Lời phát biểu trên xuất phát từ kinh nghiệm riêng của tôi. Bài báo cáo chương trình chi tiết này trình bày khi được yêu cầu.) Một vài điểm nổi bật của việc nghiên cứu như sau: 60% công nhân đã tham dự các khoá thiền. Khoảng nửa số này đã dự tu hơn một khoá. Kết quả là nhiều thay đổi trong cơ quan, cuộc thay đổi này đã làm chuyển biến từ luật lệ của cấp lãnh đạo cho đến những quy ước của cấp dưới, từ cá nhân đến tinh thần đồng đội, và từ sự không quyết tâm, không tự giác đến tự giác trong công việc. Sản lượng đã tăng lên 20%. Kết Luận Tôi đã từng có những buổi nói chuyện sâu sắc với hơn mười hai nhân viên thương mại, là những người thầu khoán có qui mô nhỏ sau các khoá thiền. Các buổi nói chuyện này đã khẳng định rằng sau mọi khóa thiền họ đều có thể làm việc nhanh hơn 20% trước đây và chất lượng của công việc đã chứng minh giá trị của người làm việc trong một trạng thái tâm nhẹ nhàng. Họ trình bày rằng những tâm tham, sân, kiêu ngạo, và định kiến đã giảm xuống và rất ít khi xích mích khi làm việc với đồng nghiệp. Thiền Minh Sát đã làm cho các mối quan hệ giữa người với người trở nên thân ái và lành mạnh, sự phồn thịnh trong công việc kinh doanh của họ tiến triển vững vàng như là kết quả của các biến chuyển tích cực này. Tác giả: Jayantilal Shal Dịch giả: Thích Nữ Liên Hòa
Ðề: Hạnh phúc để thành công Thiền, chất liệu nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa Hiện trên trế giới, nhất là ở Tây phương, đã có nhiều nơi áp dụng phép thực tập chánh niệm để đối trị các chứng đau nhức, trầm cảm và giải tỏa tình trạng căng thẳng trong thân tâm. Tại Trung Tâm Y học trường Đại Học Massachusetts chẳng hạn, có giáo sư Jon Kabat-Zinn, một giáo sư y khoa giỏi về thiền chánh niệm, đang điều khiển một chương trình trị liệu gọi là The Program of the Stress Reduction Clinic, chữa trị cho các chứng đau nhức, stress và tật bệnh khá hữu hiệu. Thiền, nói cho đủ là thiền na (tiếng phạn là dhyana), là phần thực tập nòng cốt của đạo Bụt. Thiền có mục đích giúp người hành giả đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại, cái thấy này có khả năng giải phóng cho mình ra khỏi sợ hãi, lo âu, phiền muộn, chế tác chất liệu trí tuệ và từ bi, nâng cao phẩm chất của sự sống, đem lại cho mình và cho kẻ khác nhiều thảnh thơi và an lạc. Bản chất của thiền là niệm, định và tuệ, ba nguồn năng lượng được chế tác trong khi thực tập. Ta thực tập thiền không phải chỉ trong tư thế ngồi (thiền ngồi, tiếng Hán Việt: tọa thiền) mà còn trong các tư thế khác như tư thế đi (thiền đi, tiếng Hán Việt: hành thiền) tư thế đứng, tư thế nằm, trong những lúc làm việc như giặt áo, bổ củi, gánh nước, tưới rau hoặc lái xe. Bất cứ trong tư thế nào, bất cứ đang làm gì và ở đâu mà trong thân tâm mình có được ba loại năng lượng ấy là mình đang thực tập thiền. Sự thực tập này, nếu được chỉ dẫn đúng mức, có thể đem lại sự thoải mái và an lạc ngay trong lúc thực tập. Thực tập thiền có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu cho cả thân và tâm, đem lại nguồn vui sống cho người thực tập và cho những người xung quanh. Không phải chỉ đi vào chùa hoặc thiền viện mới thực tập được thiền. Sống trong xã hội, đi làm, chăm sóc gia đình, ta cũng có thể tập thiền được. Niệm : Niệm là nguồn năng lượng giúp ta ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, trong thân, tâm ta và trong hoàn cảnh. Tiếng phạn là smrti . Nói cho đầy đủ là chánh niệm ( samyaksmrti ). Những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại trong lĩnh vực thân, tâm và hoàn cảnh thì nhiều lắm, ta không thể nhận diện được tất cả một lượt. Nhưng ta có thể nhận diện những gì nổi bật nhất, hoặc nhận diện những gì mà ta cần nhận diện nhất. Nếu ta để ý tới hơi thở vào và hơi thở ra và nhận diện được đấy là hơi thở vào hoặc hơi thở ra, đó gọi là phép niệm hơi thở . Nếu ta để ý tới bước chân và nhận diện được từng bước chân ta đặt lên sàn nhà hoặc mặt đất, đó gọi là phép niệm bước chân . Ta có thể gọi đó là chánh niệm về hơi thở hoặc chánh niệm về bước chân. Niệm bao giờ cũng là niệm một cái gì, nghĩa là niệm luôn luôn có đối tượng của niệm. Nếu ta đang giận mà ta có ý thức được là ta đang giận, đó gọi là niệm cơn giận . Trong lúc ta thực tập như thế, có hai loại năng lượng đang biểu hiện trong ta: năng lượng đầu là cái giận, năng lượng thứ hai là chánh niệm do ta chế tác bằng bước chân hoặc bằng hơi thở chánh niệm. Năng lượng thứ hai nhận diện và ôm ấp năng lượng thứ nhất. Nếu sự thực tập kéo dài năm bảy phút thì năng lượng chánh niệm sẽ đi vào trong năng lượng giận hờn, và sẽ có sự thuyên giảm và chuyển hóa. Năng lượng niệm mang theo nó năng lượng định, (chú tâm) và năng lượng này có thể làm phát sinh năng lượng tuệ (tuệ giác) có thể chuyển hóa được cơn giận thành năng lượng của hiểu biết, chấp nhận, xót thương và hòa giải. Trong đời sống hàng ngày tâm ta thường có khuynh hướng nhớ tưởng về quá khứ hoặc lo lắng cho tương lai. Thân ta có mặt nhưng tâm ta không có mặt. Chánh niệm là năng lượng giúp ta đưa tâm về lại với thân để ta có mặt đích thực trong giờ phút hiện tại. Có mặt như thế để có thể tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống trong ta và chung quanh ta. Theo tinh thần thiền, sự sống chỉ có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Bụt dạy: "Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, sự sống chỉ có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại" (Kinh Bhaddekaratta, Trung Bộ 131). Tiếp xúc được với những gì nhiệm mầu có mặt trong giây phút hiện tại là để được nuôi dưỡng và trị liệu. Nếu năng lượng chánh niệm đã trở nên vững vàng, ta có thể sử dụng nó để nhận diện và ôm ấp những nỗi khổ niềm đau của ta (như giận thù, tuyệt vọng, tham đắm, bạo động, ghen tuông, v.v..) để có thể chuyển hóa chúng từ từ. An trú được trong hiện tại có thể đưa đến sự trị liệu mầu nhiệm: một phen an trú được trong hiện tại là ta có thể vượt thoát ra ngoài những nanh vuốt của sự tiếc thương và vương vấn về quá khứ hoặc những lo lắng và sợ hãi về tương lai, những năng lượng tiêu cực thường đưa tới các chứng bệnh tâm thần. Có bốn lĩnh vực làm đối tượng cho sự tu tập chánh niệm: thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý (danh từ chuyên môn là thân, thọ, tâm, pháp, tứ niệm xứ ) (Kinh Niệm Xứ, Trung A Hàm 98). Năng lượng chánh niệm khi nhận diện thân thể (body) giúp ta trở về thân thể với niềm ưu ái: trong khi theo dõi phép quán niệm hơi thở ta chiếu cố tới thân thể ta, giúp cho thân thể được buông thư (danh từ chuyên môn: an tịnh thân hành), phép thực tập này rất hữu hiệu để đối phó với sự căng thẳng của thần kinh và của cơ thể (stress). Ta có thể thực tập phép an tịnh thân hành trong tư thế nằm cũng như tư thế ngồi. Sự thực tập này giúp cho cơ thể tự trị liệu lấy một cách tự nhiên (Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Trung8 Bộ, 11). Trong trường hợp ta đang chữa trị bằng thuốc men thì phép an tịnh thân hành này có thể giúp cho ta bình phục mau chóng hơn, ít nhất là ba lần. Thực tập phép niệm thân ta cũng sẽ biết ăn uống và tiêu thụ trong chánh niệm để đừng đưa vào cơ thể những thức ăn thức uống có độc tố gây nên tật bệnh. Thực tập niệm thân còn giúp ta đi, đứng, hành xử và làm việc một cách thảnh thơi và nâng cao phẩm chất của sự sống hàng ngày. Sự thực tập chánh niệm hướng về cảm thọ (feelings) giúp ta nhận diện những cảm thọ đang có mặt: cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ khó chịu (khổ thọ) và cảm thọ trung tính (xả thọ). Nếu đó là một cảm thọ dễ chịu, ta biết được là cảm thọ đó phát xuất từ đâu và sẽ có tác dụng lâu dài như thế nào vào thân tâm, tác dụng nuôi dưỡng hoặc tàn phá. Nếu đó là một cảm thọ khó chịu, ta cũng biết được là nó đã phát xuất từ đâu, và năng lượng chánh niệm sẽ làm dịu lại cảm thọ đó và cuối cùng với năng lượng định và tuệ ta có thể chuyển hóa nó. Nếu cảm thọ ấy là trung tính thì với chánh niệm nó sẽ trở thành một cảm thọ dễ chịu. Ví dụ: Khi nhức răng, ta có khổ thọ. Ta nghĩ nếu hết nhức răng ta sẽ có lạc thọ. Nhưng thường thường trong giờ phút không nhức răng mà ta chỉ có xả thọ. Ý thức về điều này, sẽ giúp ta chuyển xả thọ thành lạc thọ (sensation du bien-être, the feeling of well-being). Thực tập chánh niệm hướng về tâm ý giúp ta nhận diện được tất cả các hiện tượng tâm ý thường phát hiện trong tâm thức như vui, buồn, thương, ghét... Theo tâm lý học đạo Bụt, ta có 51 loại hiện tượng tâm ý (gọi là tâm hành, cittasamskara), gồm có những tâm ý tích cực như thương mến, bao dung, những tâm ý tiêu cực như giận hờn, tuyệt vọng, và những tâm ý bất định như tư duy, hối tiếc. Nhận diện là để tìm tới cội nguồn của những tâm hành ấy để biết rõ bản chất chúng và để chuyển hóa chúng. Ví dụ: chứng trầm cảm (depression). Nhận diện trầm cảm với năng lượng chánh niệm ta có cơ hội nhìn thấu bản chất và cội nguồn của nó để biết được những nguyên do xa gần đã làm cho nó có mặt. Với năng lượng của niệm, định và tuệ ta có thể khám phá ra được bản chất của khối trầm cảm. Dùng chánh niệm để chăm sóc trầm cảm, để đưa tâm ý tiếp xúc với những hiện tượng tươi mát có hiệu năng nuôi dưỡng và trị liệu, ta có thể làm thư nhẹ chứng trầm cảm. Dùng chánh niệm để đừng sử dụng, tiếp xúc và tiêu thụ những hình ảnh, âm thanh và ý tưởng có công dụng đưa tới những sự căng thẳng, lo lắng và buồn phiền, không cho chứng trầm cảm được tiếp tục nuôi dưỡng bởi những độc tố đó, ta có thể chuyển hóa được trầm cảm. Hiện trên trế giới, nhất là ở Tây phương, đã có nhiều nơi áp dụng phép thực tập chánh niệm để đối trị các chứng đau nhức, trầm cảm và giải tỏa tình trạng căng thẳng trong thân tâm. Tại Trung Tâm Y học trường Đại Học Massachusetts chẳng hạn, có giáo sư Jon Kabat-Zinn, một giáo sư y khoa giỏi về thiền chánh niệm, đang điều khiển một chương trình trị liệu gọi là The Program of the Stress Reduction Clinic, chữa trị cho các chứng đau nhức, stress và tật bệnh khá hữu hiệu. Chương trình này sử dụng phép thiền chánh niệm. Tại các phân khoa Y Học các trường đại học lớn như Harvard, UCLA, v.v.. cũng có những cơ sở nghiên cứu và áp dụng thiền tập vào sự chữa trị tâm bệnh và thân bệnh. Tại trường Đại Học Y Khoa Harvard có Viện Tâm/Thân Y Khoa (Mind/Body Medical Institute) do giáo sư Herbert Benson sáng lập và điều hành, cũng đang nghiên cứu, truyền dạy và áp dụng thiền trong việc chữa trị. Viện này đã liên tục hoạt động từ 35 năm nay. Giáo sư Benson báo cáo: Trong viện chúng tôi có nhiều nhà khoa học, y học, tâm lý học, giáo dục học và y tá đã từng được đào tạo tới mức khá cao: các vị ấy sau khi hướng dẫn những cuộc nghiên cứu tìm tòi và thực nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã công nhận rằng thiền tập có thể đem lại được rất nhiều mặt trị liệu. Chúng tôi đã phát triển được những chương trình y tế có thể đem tới những phương thức chữa trị có hiệu năng làm thuyên giảm những triệu chứng bệnh hoạn do sự căng thẳng tâm trí tạo ra. Trên 30 năm qua, các phòng thí nghiệm của trường Đại Học Y Khoa Harvard đã nghiên cứu một cách có hệ thống những lợi ích của sự hỗ tương ảnh hưởng giữa thân và tâm. Những cuộc nghiên cứu ấy đã chứng nghiệm rằng mỗi khi ta lặp lại liên tiếp nhiều lần một câu kinh, một câu thiền ngữ hay một âm thanh (linh chú, dharani) để cho trạng thái tán loạn của tâm ý không thể xâm nhập thì trong những lúc ấy sẽ có những biến chuyển sinh lý thuận lợi xẩy ra: những biến chuyển này đi ngược nhiều với những biến chuyển đã từng mang lại sự căng thẳng tâm trí. Những cuộc nghiên cứu ấy đã chứng minh rằng các biến chuyển do thiền tập đem lại rất có lợi lạc bởi vì chúng có hiệu năng giúp cho sự chữa trị những triệu chứng như huyết áp cao, nhịp đập trái tim không đều, các chứng đau nhức kinh niên, chứng mất ngủ, chứng đánh mất khả năng sinh dục, những triệu chứng của bịnh ung thư và còn nhiều triệu chứng khác nữa. Thực tập chánh niệm hướng về đối tượng tâm ý (đối tượng tâm ý: objects of mind) nghĩa là tất cả những đối tượng của tri giác ta: núi, sông, cây, cỏ, người, vật, xã hội, v.v..) ta có cơ hội nhìn sâu để thấy được tự tính vô thường và liên hệ sinh khởi và tồn tại của mọi hiện tượng. Khi năng lượng của niệm, định và tuệ đã hùng hậu, ta đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại và ta đạt tới tự do lớn, không còn vướng mắc vào sự sợ hãi, thèm khát, hận thù và tuyệt vọng. Bụt và các vị hiền thánh đã đạt tới cái thấy ấy cho nên họ có tự do lớn, gọi là giải thoát. Thực tập thiền, chúng ta cũng đạt được tới tự do, và dù tự do của ta tuy chưa lớn, nhưng chúng ta cũng đã tháo gỡ được rất nhiều tri giác sai lầm và thành kiến, do đó ta không còn đau khổ nhiều như trước mà lại có thể có nhiều an lạc trong sự sống hiện tại. Niệm (smrti), Định (samadhi) và Tuệ (prajna) là những năng lượng chế tác ra do sự thực tập thiền. Thiền học đã có mặt tại Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ ba với thiền sư Tăng Hội (Thân phụ thầy là người nước Khương Cư (Sogdiane, Bắc Ấn Độ) qua Giao Châu buôn bán, và thân mẫu thầy là người Việt). Thiền sư Tăng Hội được đào tạo tại Giao Châu và đến năm 255 đã sang Bành Thành (Nam Kinh bây giờ), kinh đô nước Đông Ngô, để truyền bá thiền học. Ông đến nước Ngô trước ngày thầy Bồ Đề Đạt Ma tới nước Lương gần 300 năm. Nước ta từ xưa đến nay đã từng có nhiều vị thiền sư nổi tiếng (xem sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội.) Ngoài những thiền sư xuất gia ta cũng lại đã có những thiền sư cư sĩ cự phách như Trần Cảnh (Trần Thái Tông, tác giả sách Khóa Hư Lục) và Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung, anh cả của tướng Trần Hưng Đạo) v.v.. Thiền đã là một viên đá nền tảng cho nền văn minh Việt Nam. Văn chương, triết lý và nếp sống đạo đức tâm linh người Việt chứa đựng rất nhiều yếu tố thiền. Thực tập thiền giúp ta xóa bỏ thái độ cố chấp, giáo điều, trở nên bao dung, độ lượng, biết hiểu, biết thương sâu sắc hơn và chuyển hóa được nhiều đau khổ trong tâm như thèm khát, vướng mắc, kỳ thị, hận thù, nhỏ nhen, ích kỷ, sợ hãi, tuyệt vọng... Người Tây phương từ cuối thế kỷ 20 đã bắt đầu chú ý tới thiền và rất đông người, nhất là giới trẻ và giới trí thức, đã tìm tới để học hỏi và thực tập thiền. Những tiện nghi vật chất không đủ để làm ra hạnh phúc. Những sầu khổ ưu tư và thắc mắc của ta chỉ có thể được giải đáp bằng một đời sống tâm linh. Đạo Bụt và sự thực tập thiền hiện đang đáp ứng cho đông đảo quần chúng về những nhu yếu đó. Đạo Bụt có khả năng đi đôi với tinh thần khoa học, hợp tác với khoa học trong lĩnh vực khám phá những sự thực tâm linh, sinh học và vật lý học. Đạo Bụt rất chuộng thực nghiệm và Bụt Thích Ca thường khuyên dạy đệ tử không nên mất thì giờ luận thuyết về những chuyện siêu hình. Các sách nên đọc: Sen Búp Từng Cánh Hé (thiền tập có hướng dẫn) Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức, Con Đường Chuyển Hóa, Từng Bước Chân An Lạc, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Thiền Hành Yếu Chỉ, Trái Tim Của Bụt, Đường Xưa Mây Trắng (nhà xuất bản Lá Bối, địa chỉ: 1037 E. Taylor, San Jose, CA 95112, Hoa Kỳ.) Kết Sử: Kết sử (phạn: samyojana) là những gút thắt hoặc những khối đam mê, đè nén, sợ hãi, lo lắng, v.v.. đã kết tụ lại trong chiều sâu tâm thức (đạo Bụt gọi là tàng thức), có khả năng trói buộc và sai sử ta làm, nói và nghĩ những điều ta thật sự không muốn làm, nói và nghĩ. Kết sử được gieo trồng và nuôi lớn bằng nếp sống không chánh niệm hàng ngày. Chánh niệm có khả năng nhận diện chúng mỗi khi chúng phát hiện trên bề mặt của tâm thức (đạo Bụt gọi là ý thức). Những kết sử này đã được hình thành trong quá khứ, có khi dưới dạng thói quen (tập khí) được cha mẹ trao truyền lại trong gia sản di truyền. Ta không cần đi về quá khứ để tìm kiếm, không cần phải đào bới trong ký ức (như trong phân tâm liệu pháp) để tìm ra nguyên do của những rối nhiễu về tâm trí. Năng lượng chánh niệm có khả năng nhận diện những kết sử khi chúng phát hiện và nhìn sâu vào chúng, ta đã có thể thấy được cội nguồn của những rối nhiễu kia. Thiền pháp chánh niệm chú trọng tới giây phút hiện tại, thấy rằng nhìn sâu vào hiện tại ta có thể thấy được cả quá khứ và tương lai. Mười loại kết sử chính là: đam mê (tham), thù hận (sân), tri giác lầm lạc (si), tự cho mình là hơn người, kém người hay bằng người (mạn), nghi ngờ (nghi), cho rằng hình hài này là ta (thân kiến), nhận thức nhị nguyên (biên kiến), có những cái thấy sai lầm (tà kiến), cố chấp, không có khả năng buông bỏ nhận thức hiện tại để có thể vượt tới một nhận thức cao hơn (kiến thủ), và mắc kẹt vào các tư tưởng mê tín, dị đoan và hình thái nghi lễ (giới cấm thủ kiến). Sức khỏe và hạnh phúc của ta tùy thuộc rất nhiều tới sự chuyển hóa những kết sử nói trên. Mạn: Thiền tập giúp ta thấy được tính tương quan tương duyên của vạn vật: không có hiện tượng nào (người hay vật) có thể tự mình sinh khởi và tồn tại độc lập. Cái này phải nương vào cái kia mà sinh khởi và tồn tại. Đó là cái thấy duyên sinh, có khi gọi là tương tức hoặc vô ngã . Vô ngã nghĩa là không có một thực tại biệt lập và vĩnh hằng nào nằm trong lòng sự vật. Tất cả đều chuyển biến (vô thường) hàng giờ hàng phút. Cha và con chẳng hạn không phải là hai thực tại biệt lập: cha có trong con và con có trong cha, con là sự tiếp nối của cha về tương lai, cha là sự tiếp nối của con về nguồn cội. Hạnh phúc của con có liên hệ tới hạnh phúc của cha; nếu cha không có hạnh phúc thì hạnh phúc của con cũng không thể nào toàn vẹn. Vì cái này liên hệ tới cái kia, cái này nằm trong cái kia, không có cái kia thì cái này không có (thử hữu cố bỉ hữu, thử vô cố bỉ vô, kinh Tạp A Hàm) cho nên bản chất của vạn hữu là vô ngã. Người có tuệ giác không thấy có những cái ta riêng biệt và độc lập. Trong giới tâm lý trị liệu, có mặc cảm mình thua kém người (low self-esteem) là một chứng bệnh. Trong thiền học, có mặc cảm hơn người hay có mặc cảm bằng người cũng vẫn còn là bệnh. Bởi vì cả ba thứ mặc cảm đều được xây dựng trên ý niệm về một cái ta riêng biệt. Cả ba thứ mặc cảm đều được gọi là mạn (ưu mạn, liệt mạn, đẳng mạn). (Kinh Tam Di Đề, Tạp A Hàm, 1078). Những khổ đau do giận hờn, ganh tỵ, thù hận, tủi hổ, v.v.. gây ra chỉ có thể được hoàn toàn chuyển hóa khi ta đạt tới cái thấy vô ngã. Đây là nền tảng sự thực tập trị liệu của thiền. Tàng thức: Thiền sư Thường Chiếu (đời Lý) dạy rằng nếu biết được đường lối vận hành của tâm thì sự thực tập thiền sẽ trở nên dễ dàng. Tâm lý học đạo Bụt rất phong phú. Duy Thức Tông của đạo Bụt nói tới tám thức: năm thức cảm giác, ý thức, mạt na thức và tàng thức. Mạt na là năng lượng bám víu vào ý tưởng có một cái ta riêng biệt độc lập và thường tại, đối lập với những cái không ta. Tàng thức (alaya) là phần sâu thẳm nhất của tâm thức, chứa đựng tất cả những hạt giống (chủng tử, Phạn: bija) của tất cả các tâm hành như buồn, vui, giận ghét, v.v.. Những hạt giống này khi được tưới tẩm hoặc tiếp xúc thì phát hiện lên ý thức thành những vùng năng lượng. Tàng thức giống như một mảnh vườn chứa đủ các loại hạt giống, còn ý thức thì giống nhưngười làm vườn. Trong công phu thiền tập, ý thức làm việc nhưng tàng thức cũng làm việc âm thầm ngày đêm. Vô thức của tâm lý học Tây phương chỉ là một phần của tàng thức. Nhận diện và chuyển hóa những kết sử nằm sâu trong tàng thức đưa tới sự giải thoát và trị liệu. Đó gọi là chuyển y (asrayaparavritti) nghĩa là sự chuyển hóa được thực hiện ngay ở cơ sở hạ tầng của tâm thức. Sự lưu thông của tâm hành: Khi những ước muốn, sợ hãi hoặc uất ức bị dồn nén, sự lưu thông của các tâm hành có thể bị tắc nghẽn và nhiều biến chứng có thể xảy ra trong lĩnh vực thân và tâm. Tuy bị dồn nén, chúng vẫn có tác dụng sai sử và ràng buộc ta, vì vậy chúng là những khối kết sử quan trọng. Ta có thói quen lẩn tránh chúng, làm như chúng không có mặt, và vì vậy để cho chúng không có cơ hội trồi lên hoặc phát hiện trên ý thức. Ta đi tìm sự quên lãng trong tiêu thụ. Ta không muốn trở về với ta, vì ta có cảm tưởng khi trở về với ta, ta sẽ phải đối diện với những nỗi khổ đau và những niềm thất vọng ấy. Ta muốn cho ý thức (phòng khách) được chiếm cứ để các nỗi khổ niềm đau (nằm dưới nhà kho) trong ta không có chỗ phát hiện. Vì vậy ta xem truyền hình, nghe truyền thanh, xem sách, đọc báo, nói chuyện, đánh cờ, bài bạc, uống rượu, v.v.. để tìm lãng quên. Có thể ta không ý thức rằng ta tiêu thụ, và giải trí như thế chỉ là để cho ý thức bên trên luôn luôn bận rộn và để cho các kết sử bên dưới không có dịp trào lên. Đó là sự dồn nén; sự dồn nén này tạo ra tình trạng thiếu lưu thông của các tâm hành. Cũng như khi máu huyết không được lưu thông thì nhiều triệu chứng bệnh hoạn xuất hiện nơi cơ thể, khi các tâm hành bị dồn nén không lưu thông thì các triệu chứng tâm bệnh (và cả thân bệnh nữa) cũng bắt đầu xuất hiện. Vì vậy ta phải can đảm chấm dứt sự dồn nén, để các tâm hànhước muốn, sợ hãi hoặc uất ức được dịp phát hiện, nhận diện và chuyển hóa. Nếu không thực tập thiền, nếu không có năng lượng của chánh niệm thì ta không đủ sức làm việc này. Cho nên chế tác chánh niệm bằng thiền tập hàng ngày giúp ta nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau của ta. Nếu không có năng lượng chánh niệm thì ta không có khả năng đối diện và xử lý chúng, và ta sẽ bị chúng làm cho tràn ngập. Mỗi lần nhận diện và ôm ấp (chứ không phải đè nén hoặc đàn áp) thì những năng lượng tiêu cực kia sẽ yếu bớt đi một chút, và dăm bảy phút sau đó (có khi lâu hơn) chúng sẽ trở về tàng thức dưới dạng những hạt giống. Lần sau phát hiện, chúng cũng sẽ được nhận diện ôm ấp như thế và cũng sẽ trở về tàng thức. Như vậy, ta không còn sợ hãi chúng, đàn áp chúng, dồn ép chúng như thế và tình trạng lưu thông của tâm ý sẽ được thiết lập trở lại, và những biến chứng tâm lý về cơ thể kia sẽ không còn. Mũi tên thứ hai: Chánh niệm trước hết là khả năng nhận diện đơn thuần (mere recognition) về sự có mặt của một đối tượng, không phê phán, không xét xử, không tham đắm vào đối tượng ấy, cũng không chán ghét xua đuổi đối tượng ấy, và nhất là không xem thường hoặc không quan trọng hóa nó. Ví dụ: ta có một vùng đau nhức trong cơ thể. Ta chỉ nhận diện sự đau nhức ấy. Với năng lượng của định và tuệ ta có thể thấy và hiểu được tầm quan trọng và nguyên do đích thực của vùng đau nhức ấy, và sự chữa trị sẽ được căn cứ trên tuệ giác mà niệm và định đem lại. Nếu ta lo lắng nhiều quá, nếu ta tưởng tượng nhiều quá, thì những lo lắng và những tưởng tượng ấy sẽ làm ta căng thẳng, và sự đau nhức sẽ tăng lên. Nó không phải là ung thư mà ta tưởng tượng nó là ung thư và ta có thể lo lắng và sầu não đến mất ngủ. Khổ đau vì thế tăng lên gấp bội và sẽ đưa tới một tình trạng nghiêm trọng hơn. Trong kinh Tạp A Hàm Bụt đưa ra ví dụ về mũi tên: nếu một mũi tên thứ hai bay tới và cắm đúng ngay vào vết thương gây ra do mũi tên đầu thì sự đau nhức sẽ không nhân thành hai mà sẽ nhân thành mười. Vì thế ta đừng để cho một mũi tên thứ hai hay một mũi tên thứ ba (tưởng tượng và lo lắng) bay đến. Tai họa của dục: Theo thiền quán, hạnh phúc chân thực là sự có mặt trong giây phút hiện tại, khả năng tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống có mặt trong giây phút ấy và khả năng hiểu biết, thương yêu chăm sóc và làm hạnh phúc cho những người chung quanh. Đeo đuổi theo những đối tượng của dục như tiền tài, danh vọng, quyền hành và sắc dục, người ta đã không tạo dựng được hạnh phúc chân thật mà còn tạo ra nhiều khổ đau cho bản thân và cho kẻ khác. Con người đầy dẫy ham muốn và ngày đêm chạy theo dục là con người không có tự do; không có tự do thì không có thảnh thơi, không có hạnh phúc. Ít ham muốn (thiểu dục), bằng lòng với một nếp sống giản dị và lành mạnh (tri túc) để có thì giờ sống sâu sắc từng phút giây của sự sống hàng ngày và chăm sóc thương yêu cho những người thân, đó là bí quyết của hạnh phúc chân thật. Trong xã hội bây giờ, quá nhiều người đang đi tìm hạnh phúc trong đường hướng của dục, vì vậy chất lượng của khổ đau và tuyệt vọng đã tăng trưởng rất nhiều. Kinh Ở Rừng (Samyutta Nikaya 194) nói tới dục như một chiếc bẫy. Bị sập vào bẫy dục, người ta sầu khổ mất hết tự do, và không thể nào có được hạnh phúc chân thật. Sợ hãi và lo lắng cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự tạo tác khổ đau. Nếu ta có đủ tuệ giác để chấp nhận một nếp sống thiểu dục và tri túc thì ta sẽ không cần phải lo lắng và sợ hãi nữa. Chỉ vì nghĩ rằng ngày mai ta có thể mất công ăn việc làm và sẽ không thể có được lương bổng hàng tháng như bây giờ nên ta thường trực sống trong sự lo lắng phập phồng. Do đó con đường tiêu thụ ít và có hạnh phúc nhiều, được xem như là con đường thoát duy nhất của nền văn minh hiện tại . Thích Nhất Hạnh (Nguồn: TVHS)
Ðề: Hạnh phúc để thành công Yoga cho tâm hồn Yoga cười giúp phụ nữ luôn duy trì lòng nhiệt tình, hào hứng đối với công việc, cuộc sống (YogaCuoi.vn) - Cơ thể cần vitamin E để có được sự trẻ trung, sức sống. Phụ nữ lại càng cần hơn khi bắt đầu thấy dấu hiệu lão hóa từ làn da, mái tóc. Tinh thần cũng cần loại vitamin E này. Đó là âm đầu tiên của “Enthsiasm”, nghĩa là lòng nhiệt tình, hăng say với cuộc sống. Làm sao tạo được điều này từ Yoga cười (Y.C)? Bác sĩ y khoa Dr.Madam Kataria (Ấn Độ), 15 năm trước đây là người sáng lập trường phái Y.C và nay đã lan tỏa đến trên 70 nước, lần đầu tiên đến Việt Nam đưa ra những bí quyết khám phá sức mạnh của Y.C. Khám phá sức mạnh tiềm ẩn Tiếng cười tự nhiên trong cuộc sống tùy thuộc vào nhiều lý do và điều kiện. Thường chúng ta để mặc tiếng cười cho may, rủi; khi có, khi không… Y.C là một ý tưởng độc đáo, rằng mọi người có thể cười mà không cần lý do, không cần dựa trên những câu chuyện hài hước, chuyện tiếu lâm hay hài kịch. Khoa học đã chứng minh để có được lợi ích thực sự, chúng ta cần phải duy trì tiếng cười liên tục từ 10 đến 15 phút. Trong Y.C, có những bài tập cười, có thể kéo dài tiếng cười theo ý muốn. Bác sĩ Dr.Madam Kataria (giữa) chụp hình với các học viên của lớp Yoga cười Chúng ta không thể thực hiện bài tập cười to và dài trong vòng 15 đến 20 phút, bởi những người xung quanh sẽ cảm thấy mình không bình thường mà không biết rằng bản thân mình đang tập những bài tập Y.C. Vì thế cần phải tập cười trong một nhóm đông, giao tiếp bằng ánh mắt và vui đùa như trẻ thơ. Nó sẽ sớm trở thành tiếng cười thật sự và lan nhanh qua người khác. Để phụ nữ có thể cười dễ dàng Phụ nữ dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều giống nhau bởi họ phải thực hiện thiên chức làm mẹ, làm vợ, họ cũng chính là người gặp nhiều stress nhất trong cuộc sống. Thông thường họ gặp phải 3 loại căng thẳng dễ dẫn đến stress như căng thẳng thể chất do làm việc vượt quá khả năng hay làm việc liên tục không được nghỉ ngơi đúng mức; căng thẳng tâm lý do công việc quá tải, do bị thúc ép thời gian hoàn thành; căng thẳng cảm xúc hay tình cảm, thường có nguyên nhân sâu xa do những mối quan hệ không tốt trong gia đình… Những gì xảy ra trong tâm trí đều ảnh hưởng đến cơ thể và ngược lại. Cha tôi thường dạy: “Mỗi khi con gặp chuyện không vui hay khi buồn, con hãy tìm một việc làm nào đó để quên đi nỗi buồn” và Y.C sẽ giúp chúng ta những kỹ thuật cần thiết để có thể cười được, là phương pháp làm giảm stress hiệu quả nhất, ít mất thời gian nhất nhưng lại mau chóng tạo được thói quen tốt về thể dục tinh thần giúp đem lại sự quân bình đồng thời cho cả thể chất, tâm hồn và cảm xúc… Nụ cười từ tâm trí, từ cơ thể của mình sẽ giúp quên đi những phiền muộn, đem lại những thư giãn cần thiết để phục hồi sức khỏe. Câu lạc bộ Y.C tạo một sân chơi cho những ai muốn tập Y.C, một môi trường an toàn để mọi người có thể cười to mà không làm phiền đến người khác. Cười giúp phụ nữ trẻ lâu Đến Việt Nam, tôi khám phá được nhiều điều lý thú về một đất nước thanh bình, hiền hòa… Nhưng khi đi trên đường, tôi thấy nhiều người đi xe máy rất căng thẳng. Nếu như họ đã học Y.C, có lẽ những lúc chạy xe ấy, nụ cười sẽ nở trên môi họ và những căng thẳng sẽ không còn. Ở Việt Nam, tôi cũng được nghe một câu thành ngữ rất hay: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” - Dr Madam Kataria nói. Một buổi học của lớp Yoga Cười tại Cung Văn hóa Lao động TPHCM Thật vậy, Y.C là sự kết hợp hài hòa giữa những bài tập cười và bài tập thở của yoga. Khi cười sảng khoái, bạn sẽ hít vào luồng không khí nhiều và tốt nhất cho cơ thể, khi thở sẽ thải ra nhiều khí không có lợi cho sức khỏe. Khi cười phải cười thật to, thật sâu và phát ra từ cơ hoành. Nó phải là tiếng cười từ bụng và cười thật lớn, sẽ giúp bạn sảng khoái, thật sự như đang đứng trước biển hít thở không khí trong lành, giúp đem lại nhiều ôxy cho cơ thể và cho cả não bộ khiến ta cảm thấy năng động, phục hồi sức khỏe. Cười cho ta một tâm trạng tốt, yêu đời và yêu người hơn. Tâm trạng vui vẻ, tạo không khí tốt đối với người xung quanh nơi làm việc cũng như giúp tạo ra những giải pháp tốt giải quyết những tình huống trong công việc, cuộc sống và gia đình. Y.C giúp mọi người và nhất là phụ nữ giải tỏa stress, tốt cho sức khỏe, sống tích cực hơn; trông họ sẽ trẻ hơn tuổi thật, bởi lúc nào cũng tràn đầy năng lượng. Không có gì vui hơn khi có sức khỏe, yêu đời và yêu cuộc sống… (Theo Người Lao Động)
Ðề: Hạnh phúc để thành công Ngô Bảo Châu:'Sự vô thường giúp tôi cân bằng' GS Ngô Bảo Châu mở lại trang ghi chép cá nhân, cùng với bài phỏng vấn của một thượng tọa với ông về đạo Phật. Bài viết mở đầu của blog được Ngô Bảo Châu giới thiệu: "Đây là một bài phỏng vấn do thượng tọa Thích Nhật Từ đề nghị cho báo Đạo Phật ngày nay. Không biết vì lý do gì mà cuối cùng hình như không được in". Dưới đây là nội dung bài phỏng vấn. Mở lại blog, Ngô Bảo Châu nói chuyện đạo Phật Đạo Phật Ngày Nay (ĐPNN): Sau khi được bổ nhiệm là giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán từ ngày 9-3-2011, được biết đây là mùa hè đầu tiên, GS làm việc tại Việt Nam. Với cương vị này, trách nhiệm và chiến lược của GS trong việc phát triển toán học tại nước nhà ra sao? Những khó khăn nếu có? Ngô Bảo Châu (NBC): Chào thầy Thích Nhật Từ. Vâng thưa thầy, hè năm nay Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) đã có những hoạt động khoa học đầu tiên. Bên cạnh việc cùng nhau tìm hiểu một số vấn đề toán học ít được nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi cố gắng tạo ra một nếp làm việc cho những hoạt động khoa học khác của VIASM sau này. Tất nhiên là vạn sự khởi đầu nan, nhưng tôi rất hy vọng VIASM sẽ là một nguồn sức sống mới cho toán học Việt Nam. ĐPNN: GS có phải là Phật tử? Việc tìm hiểu về đạo Phật của GS thế nào? NBC: Gia đình tôi theo Phật nhưng tôi không phải là phật tử theo nghĩa toàn vẹn nhất, mặc dù có lẽ văn hóa Phật giáo có thấm sâu vào con người tôi như nhiều người Việt nam khác. ĐPNN: Đạo Phật đã ảnh hưởng thế nào đối với cuộc sống của GS? NBC: Có lẽ đó là sự nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống của con người cũng như của mọi sinh linh từ đó dẫn đến sự trân trọng cuộc sống của người khác và của chính mình. Có lẽ đó còn là một thái độ tương đối bình thản trước mọi biến cố của cuộc sống. Thường thì người ta đạt được sự bình thản này sau khi một phần lớn của đời mình đã trôi qua, văn hóa Phật giáo có thể giúp ta bình thản ngay cả khi một phần lớn của cuộc đời có lẽ còn ở phía trước. Có lẽ sự nhận thức về tính vô thường của thế giới và của cả con người đã giúp tôi rất nhiều để có một sự cân bằng trong cuộc sống. Một bên ta không thể buông xuôi trách nhiệm với xã hội, với những người thân thiết, với bản thân mình, một bên ta vẫn hiểu rằng cái quan trọng ngày hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn quan trọng nữa. ĐPNN: Giáo sư đã từng đọc kinh Phật? Nếu có thì đó là kinh gì? Ảnh hưởng của bài kinh đó đối với cuộc sống của giáo sư thế nào? NBC: Tôi được đọc kinh phật mỗi lần đến thăm bà ngoại tôi. Ngoại tôi tụng kinh hàng ngày. Khi còn là sinh viên tôi có đọc một số sách về lịch sử Phật giáo. Trải nghiệm quan trọng nhất của tôi với Phật giáo là lần đi thăm di tích Ajanta bên Ấn độ. Đó là những hang đá nơi những người tu hành đã sống từ thế kỷ thứ sáu. Những bức bích họa rất lớn trên vách hang miêu tả cuộc đời của Thích Ca Mầu Ni đã làm tôi xúc động đến ứa nước mắt. ĐPNN: Là một nhà khoa học toán, giáo sư đánh giá thế nào về các điều minh triết Phật dạy về con người và vũ trụ? NBC: Triết lý Phật giáo cho con người một nhân sinh quan rộng rãi, giải phóng nhiều định kiến. Đấy là một tố chất cơ bản của nhà khoa học. Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng. ĐPNN: Khi tự đặt cho mình biệt hiệu “Hòa thượng Thích Học Toán” hẳn giáo sư đã thể hiện phần nào thiện cảm với Phật giáo, cụ thể hơn là tu sĩ Phật giáo? Ý tưởng của việc chơi chữ này là gì? NBC: Công việc nghiên cứu khoa học có nhiều điểm chung với cuộc sống của những nhà tu hành. Nghiên cứu khoa học cơ bản cũng có tính thoát ly khỏi cuộc sống trần tục. Tôi chọn biệt danh “Hòa thượng Thích Học Toán” để cho trò chuyện toán học trên blog được thân thiện hơn, để câu chuyện toán học thoát ra khỏi hình thức phổ biến khoa học. Sau khi một số Phật tử có nhắn với tôi không nên đùa với chức danh Hòa thượng, tôi cũng không dùng nó nữa. Tôi cũng không có ý tạo thêm những sự bực bội không cần thiết. ĐPNN: Gần đây, Giáo sư đặt trang blog cá nhân (thichhoctoan.wordpress.com) ở chế độ riêng tư, một hình thức của đóng cửa đối với độc giả quý mến giáo sư? Đâu là lý do cho việc này? NBC: Sau sự kiện giải thưởng Fields, blog của tôi có khá nhiều người đọc. Tôi nhận ra rằng cách viết hài hước mà tôi chọn cho blog cũ nay không còn phù hợp nữa. Tôi vẫn giữ ý định mở lại một trang blog mới và viết lại nhiều bài theo một phong cách nghiêm túc và có hệ thống hơn. ĐPNN: Là người sống và làm việc tại Pháp, trung tâm của văn minh châu Âu và hiện nay giảng dạy tại đại học Chicago, Hoa Kỳ, giáo sư có suy nghĩ gì về mô hình giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa? NBC: Có một khoảng cách khá lớn về chất lượng giữa giáo dục đại học ở Việt Nam và ở các nước phát triển. Vì dư luận xã hội đã quá tiêu cực với chất lượng giáo dục cho nên tôi thấy không cần phân tích thêm. Cái cần và khó hơn nhiều là tìm ra giải pháp. Có lẽ giải pháp tốt nhất là để cho mỗi ngôi trường, mỗi người thầy tìm ra giải pháp riêng cho mình. Nói cách khác là trường đại học và các giáo sư đại học cần được chủ động hơn trong chương trình và qui chế tuyển sinh. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần làm thêm nhiều điều tra để so sách chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường để dựa vào đó mà có chính sách đầu tư hỗ trợ. Những thông tin này cũng cần được công bố rộng rãi để học sinh sinh viên cũng như phụ huynh có thông tin chính xác hơn cho việc chọn trường học. Việc nới quản lý từ trung ương để tăng tính chủ động cho những người trực tiếp làm công việc đào tạo và nghien cứu có thể dẫn đến bất cập ở chỗ này chỗ khác, nhưng tôi tin vào khả năng tự điều chỉnh của cuộc sống. Sự tự điều chỉnh sẽ nhanh hơn nếu thông tin được rộng đường. ĐPNN: Toán học có thể giúp gì cho việc quy hoạch đô thị Việt Nam? Kinh nghiệm của Pháp và Mỹ trong lãnh vực này thế nào? NBC: Ở nước ta, việc quy hoạch giao thông trong các đô thị vẫn dựa nhiều vào cảm tính, nên hay thay đổi. Những hệ thống có độ phức tạp cao như giao thông đô thị thực ra rất cần được thử nghiệm và thiết kế dựa trên những mô hình toán học. ĐPNN: Là người lập gia đình và có con ở tuổi đôi mươi, đâu là bí quyết duy trì “hạnh phúc gia đình” của giáo sư sau gần 20 năm chung sống? NBC: Thưa thầy, cuộc sống gia đình nào cũng có lúc sóng gió. Để sống với nhau, mỗi người cần hiểu những người mình yêu để mà sống vui với chính con người họ. Mỗi gia đình còn có một động lực rất lớn để tồn tại đó là con cái và việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái. ĐPNN: Tháng bảy trong Phật giáo là mùa báo hiếu công ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ như hai vị Phật trong nhà, Gs có thể chia sẻ vài kỷ niệm đẹp mà hai đấng sinh thành đã giành cho Gs thời trẻ? NBC: Cha mẹ tôi luôn dành hết cho tôi mọi sự yêu thương, ưu tiên việc nuôi dưỡng giáo tục tôi hơn tất cả. Vợ chồng tôi cũng cố gắng làm như vậy với các con, nhưng chắc chắn là không thể được như ông bà. Khi còn nhỏ, mẹ tôi dậy tôi rằng xấu nhất là nói dối. Bây giờ tôi vẫn tin và cũng dậy các con tôi như thế. ĐPNN: Với vai trò làm cha của ba đứa con hiếu thảo và thành công, xin GS chia sẻ kinh nghiệm làm cha của mình? NBC: Tôi không nghĩ các con tôi đặc biệt thành công hoặc là mình là một người bố kiểu mẫu để có thể tự tin chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Công việc bận rộn không cho tôi có nhiều thời gian để gần gũi với con cái như tôi mong muốn mà thời gian là cái mà trẻ nhỏ cần nhất ở cha mẹ. Có lẽ người lớn nên bớt thời gian xem TV, lướt web, tụ tập bạn bè để có thêm thời gian chơi với con, học với con, cùng đọc sách với con. Những cái đó có ích cho trẻ hơn là việc bỏ tiền ra cho con đi học thêm hay những khóa rèn luyện “kỹ năng sống”. ĐPNN: Theo GS, hạnh phúc là gì? Và đâu là cách thức giáo sư giữ gìn và phát triển hạnh phúc có được? NBC: Đối với tôi, cái hạnh phúc lớn nhất là cảm giác mình đang sống. Cảm giác đó bao gồm cả vị ngọt và vị đắng. Nó xuất phát quan hệ với những người thân thiết, bạn bè, công việc và xã hội, từ miếng cơm ta ăn, từ miếng nước ta uống, từ không khí ta đang thở. Để có hạnh phúc, có lẽ không có cách nào khác là yêu cuộc sống như chính nó. Để bất hạnh, có lẽ không có cách nào tốt hơn là đi đuổi theo những ảo ảnh. ĐPNN: Theo GS, “để sống một cuộc sống có ý nghĩa,” người ta phải làm gì? NBC: Tôi e mình không đủ thông tuệ để trả lời câu hỏi này của thầy một cách đầy đủ. Phần nhỏ của câu trả lời mà tôi biết là để sống một cuộc sống có ý nghĩa, ta nên tránh làm những việc vô nghĩa. (ngobaochau.wordpress.com) http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/39528/ngo-bao-chau--su-vo-thuong-giup-toi-can-bang-.html
Ðề: Hạnh phúc để thành công Diễn giả và dịch giả Trần Đăng Khoa này diễn thuyết rất hay và rất xúc cảm. Mình đã đọc hết tất cả những cuốn sách của anh ấy!
Ðề: Hạnh phúc để thành công Người hạnh phúc dễ thành công Tâm trạng luôn vui vẻ hạnh phúc sẽ giúp bạn dễ thành công hơn trong cuộc sống Tâm trạng hạnh phúc chính là chìa khóa dẫn đến thành công, chứ không đơn giản chỉ là lao động miệt mài, đó là kết quả của một cuộc điều tra vừa công bố hôm qua. Các nhà tâm lý học cho biết, người vui vẻ thích làm những điều mới và muốn thử thách bản thân, đó chính là yếu tố củng cố thêm thành công của họ trong công việc, cũng như là trong quan hệ với mọi người xung quanh. Đó cũng là lý do giải thích vì sao những người vui vẻ thường có sức khỏe tốt. Mối liên hệ giữa hạnh phúc và thành công được khám phá bởi một nhóm nghiên cứu thuộc trường đại học California Riverside, do giáo sư tâm lý học Sonja Lyubomirsky đứng đầu. "Hầu như mọi người đều cho rằng những thành công trong cuộc sống là lý do đem lại hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên, sự thật có thể ngược lại. Tâm trạng hạnh phúc có thể đem lại thành công trong cuộc sống".Giáo sư Ed Diener thuộc trường đại học Illinois cho biết. Trong những nghiên cứu khác cho thấy, vẻ ngoài tươi tắn rạng ngời có thể dự báo một tương lai tốt đẹp. "Có một bằng chứng rõ ràng là tâm trạng hạnh phúc khiến người ta trở nên cởi mở, rộng lượng, làm việc có năng suất, kiếm được nhiều tiền hơn và đặc biệt là hệ miễn dịch cũng tốt hơn nên giúp họ ít bị bệnh tật", Lyubomirsky cho biết. Các nhà khoa học nhận xét: trong khi thành công có thể đem lại tâm trạng hạnh phúc cho con người thì con người cũng cần bắt đầu công việc với một tâm trạng hạnh phúc. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, "thành công" không chỉ có nghĩa là kiếm được nhiều tiền. "Chúng tôi định nghĩa "thành công" ở đây bao gồm những giá trị văn hóa xã hội, bạn bè, mối quan hệ gia đình, thu nhập và tuổi thọ của một con người", Diener cho biết. S.A (Theo Guardian) (Theo_TuoiTre)
Ðề: Hạnh phúc để thành công Bí quyết thành công và hạnh phúc Đâu là bí quyết hạnh phúc? Hãy suy ngẫm và bạn sẽ có được hạnh phúc sau khi đọc câu trả lời về bí quyết hạnh phúc. Câu trả lời về bí quyết thành công sẽ phức tạp hơn (vì bạn sẽ phải tốn thời gian và công sức hơn) và nó sẽ được giải đáp ở phần sau của bài viết. Đâu là bí quyết hạnh phúc? Nào bây giờ bạn hãy nói cho tôi biết bạn đang đi tìm hạnh phúc ở đâu. Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở việc bạn có thật nhiều tiền để hưởng thụ cuộc sống? Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở quyền cao, chức trọng để được thật nhiều người kính trọng và nể sợ? Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở danh vọng, ở sự nổi tiếng để được thật nhiều người nhắc đến tên bạn và ngưỡng mộ bạn? Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở việc có được thật nhiều sự yêu thương của một người khác phái? Tôi sẽ nói với bạn điều này: Tại sao bạn lại phải vất vả như vậy? Bạn cứ loay hoay đi tìm chìa khóa hạnh phúc ở đâu đâu trong khi chiếc chìa khóa hạnh phúc đang nằm trong chính túi của bạn. Bạn đang nắm giữ nó, chỉ có điều bạn có muốn sử dụng nó hay không mà thôi. Bạn không tin ư, vậy thì tôi sẽ nói đây là chìa khóa hạnh phúc mà chính bạn đang giữ, nó nằm ở trong chính suy nghĩ của bạn: Hạnh phúc là biết đủ, biết hài lòng với những gì mình có Tôi đoán bạn sẽ hồ nghi về câu trả lời này và sẽ băn khoăn tự hỏi: "Tại sao lại thế? Đơn giản vậy thôi sao? Tại sao hạnh phúc không phải là việc có được những gì tôi muốn có, có được thật nhiều?" Nào bây giờ bạn hãy thử nghĩ xem nếu bạn muốn có một chiếc ô tô để đi và lý do bạn muốn một chiếc ô tô là vì bạn cảm thấy nó sang trọng. Nhưng giả sử sau khi có chiếc ô tô sang trọng liệu bạn có hạnh phúc không? Biết đâu lúc đó bạn lại nói: "Tôi không cảm thấy hạnh phúc. Tôi thấy một người trông sang trọng hơn tôi khi họ đi máy bay . Tôi sẽ chỉ cảm thấy thực sự hạnh phúc khi tôi có một chiếc máy bay để đi." Nào bây giờ giả sử bạn vừa mua được một chiếc xe đạp điện và bạn cảm thấy hài lòng về nó. Bạn hài lòng vì nó giúp bạn tập thể dục trong khi đạp xe đi làm ở gần nhà, nó giúp bạn hít thở không khí trong lành và nhìn ngắm cảnh vật xung quanh khi đi dưới hàng cây. Bạn thấy nó gọn nhẹ và tiện lợi vì không phải tốn tiền mua xăng, mua bảo hiểm, và vất vả tìm chỗ đỗ như mua ô tô. Vậy thì bạn có hạnh phúc không khi bạn chỉ có một chiếc xe đạp điện thay vì một chiếc ô tô? Rõ ràng hạnh phúc của bạn, một người có một chiếc xe đạp điện, không kém gì hạnh phúc của một người có chiếc ô tô. Bạn có đồng ý vậy không? Vậy thì có thể sửa lại câu về chìa khóa của hạnh phúc ở trên (Hạnh phúc là biết đủ, biết hài lòng với những gì mình có) thành câu dưới đây sẽ đúng hơn: Hạnh phúc là biết mình thực sự cần cái gì và có được cái mình cần Bạn hãy ngừng lại một chút và suy ngẫm thật kỹ câu này. Biết đâu bạn sẽ nghiệm ra được nhiều điều. Những cái bạn thực sự cần và bạn đang có có thể là những điều rất giản dị xung quanh bạn: một sớm mai thức dậy bạn thấy khỏe mạnh không đau yếu và ngắm một bông hoa nở bên cửa sổ, bạn ăn một bữa ăn ngon và đầm ấm với những người thân, bạn uống một tách trà nóng với một người bạn tri kỷ để cùng nhau hàn huyên, tâm sự… Source: http://vi.shvoong.com/humanities/philosophy/2034550-bí-quyết-thành-công-và/#ixzz1Z2Q3aH00
Ðề: Hạnh phúc để thành công Một thân thể không đau, một Tâm hồn không bệnh. Gốc Hạnh phúc của con người chỉ có bấy nhiêu. EPICTURE
Ðề: Hạnh phúc để thành công Quan niệm về tiền của . “Kho vựa đầy rồi mới biết lễ tiết, y thực (cơm áo) đủ rồi mới biết vinh nhục. Giàu có thì Lễ mới sinh, nghèo khó thì Lễ phải bỏ. Cho nên người Quân tử mà giàu thì thích thi hành Đức mình. Kẻ Tiểu nhân mà giàu thì làm theo Ý mình….Vực có sâu thì cá mới sinh sản, núi có cao thì loài thú mới tới, người ta giàu có thì mới thêm nhân nghĩa… Tới bậc Vương có nghìn cỗ xe, bậc Hầu có vạn nhà, bậc Quân có trăm nhà, còn lo không đủ, huống hồ bọn thất phu, dân thường ư ? “ TƯ MÃ THIÊN (145 – 87 trươc T.C) “Tất cả những cái gì thực có giá trị ở trong đời không thể mua bằng tiền được. Người ta không thể mua sự Hòa bình, lòng thiện chí; nếu mua được thì những vấn đề chúng ta phải giải quyết hóa ra giản dị quá. Tiền bạc chỉ có một công dụng là tạo nên một không khí, một khu đất để cho các giá trị đó có thể sinh sôi nảy nở thôi !” JOHN D.ROCKEFELLER Giám đôc công ty dầu lửa Standard Oil USA “Kẻ Trượng phu mà chỉ tính chuyện làm giàu thì tầm thường quá !” M.V (Đời Hán vũ đế)
Ðề: Hạnh phúc để thành công Bí quyết thành công và hạnh phúc Đâu là bí quyết để thành công? Đâu là bí quyết để hạnh phúc? Trong cuộc đời mình chắc ai cũng đã từng đặt ra những câu hỏi này và có lẽ nhân loại đã đặt ra câu hỏi này từ hàng nghìn năm trước và sẽ tiếp tục đi tìm câu trả lời trong hàng nghìn năm sau. Trong bài viết này tôi sẽ đưa ra câu trả lời cho 2 câu hỏi trên. Tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ 2 trước: Đâu là bí quyết hạnh phúc? Hãy suy ngẫm và bạn sẽ có được hạnh phúc sau khi đọc câu trả lời về bí quyết hạnh phúc. Câu trả lời về bí quyết thành công sẽ phức tạp hơn (vì bạn sẽ phải tốn thời gian và công sức hơn) và nó sẽ được giải đáp ở phần sau của bài viết. Đâu là bí quyết hạnh phúc? Nào bây giờ bạn hãy nói cho tôi biết bạn đang đi tìm hạnh phúc ở đâu. Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở việc bạn có thật nhiều tiền để hưởng thụ cuộc sống? Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở quyền cao, chức trọng để được thật nhiều người kính trọng và nể sợ? Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở danh vọng, ở sự nổi tiếng để được thật nhiều người nhắc đến tên bạn và ngưỡng mộ bạn? Có phải bạn đang đi tìm hạnh phúc ở việc có được thật nhiều sự yêu thương của một người khác phác? Tôi sẽ nói với bạn điều này: Tại sao bạn lại phải vất vả như vậy? Bạn cứ loay hoay đi tìm chìa khóa hạnh phúc ở đâu đâu trong khi chiếc chìa khóa hạnh phúc đang nằm trong chính túi của bạn. Bạn đang nắm giữ nó, chỉ có điều bạn có muốn sử dụng nó hay không mà thôi. Bạn không tin ư, vậy thì tôi sẽ nói đây là chìa khóa hạnh phúc mà chính bạn đang giữ, nó nằm ở trong chính suy nghĩ của bạn: Hạnh phúc là biết đủ, biết hài lòng với những gì mình có Tôi đoán bạn sẽ hồ nghi về câu trả lời này và sẽ băn khoăn tự hỏi: "Tại sao lại thế? Đơn giản vậy thôi sao? Tại sao hạnh phúc không phải là việc có được những gì tôi muốn có, có được thật nhiều?" Nào bây giờ bạn hãy thử nghĩ xem nếu bạn muốn có một chiếc ô tô để đi và lý do bạn muốn một chiếc ô tô là vì bạn cảm thấy nó sang trọng. Nhưng giả sử sau khi có chiếc ô tô sang trọng liệu bạn có hạnh phúc không? Biết đâu lúc đó bạn lại nói: "Tôi không cảm thấy hạnh phúc. Tôi thấy một người trông sang trọng hơn tôi khi họ đi máy bay. Tôi sẽ chỉ cảm thấy thực sự hạnh phúc khi tôi có một chiếc máy bay để đi." Nào bây giờ giả sử bạn vừa mua được một chiếc xe đạp điện và bạn cảm thấy hài lòng về nó. Bạn hài lòng vì nó giúp bạn tập thể dục trong khi đạp xe đi làm ở gần nhà, nó giúp bạn hít thở không khí trong lành và nhìn ngắm cảnh vật xung quanh khi đi dưới hàng cây. Bạn thấy nó gọn nhẹ và tiện lợi vì không phải tốn tiền mua xăng, mua bảo hiểm, và vất vả tìm chỗ đỗ như mua ô tô. Vậy thì bạn có hạnh phúc không khi bạn chỉ có một chiếc xe đạp điện thay vì một chiếc ô tô? Rõ ràng hạnh phúc của bạn, một người có một chiếc xe đạp điện, không kém gì hạnh phúc của một người có chiếc ô tô. Bạn có đồng ý vậy không? Vậy thì có thể sửa lại câu về chìa khóa của hạnh phúc ở trên (Hạnh phúc là biết đủ, biết hài lòng với những gì mình có) thành câu dưới đây sẽ đúng hơn: Hạnh phúc là biết mình thực sự cần cái gì và có được cái mình cần Bạn hãy ngừng lại một chút và suy ngẫm thật kỹ câu này. Biết đâu bạn sẽ nghiệm ra được nhiều điều. Những cái bạn thực sự cần và bạn đang có có thể là những điều rất giản dị xung quanh bạn: một sớm mai thức dậy bạn thấy khỏe mạnh không đau yếu và ngắm một bông hoa nở bên cửa sổ, bạn ăn một bữa ăn ngon và đầm ấm với những người thân, bạn uống một tách trà nóng với một người bạn tri kỷ để cùng nhau hàn huyên, tâm sự… Bây giờ tôi sẽ đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi thứ hai: Đâu là bí quyết thành công? Đâu là bí quyết thành công? Chìa khóa thành công sẽ phức tạp hơn chìa khóa hạnh phúc. Nhưng trước tiên ta sẽ phải định nghĩa thế nào là thành công. Thành công có thể được hiểu là đạt được mục đích trong những dự định của mình. Vậy làm thể nào để thành công? Hay nói cách khác làm thế nào để đạt được mục đích trong những dự định của mình? Ví dụ như bạn nói: "Tôi muốn có 10 tỷ trong vòng 5 năm tới, vậy làm thế nào để tôi có 10 tỷ trong vòng 5 năm tới?" Tôi không biết bạn cần 10 tỷ để làm gì, vì như tôi đã phân tích ở trên, để có hạnh phúc nhiều khi ta không cần đến 10 tỷ. Mọi thứ trong cuộc đời này đều có cái giá của nó. Bạn sẽ phải bỏ ra thời gian và công sức tương ứng để có được 10 tỷ. Nếu bạn thực sự chấp nhận cái giá phải bỏ ra để có được 10 tỷ, nếu bạn thực sự muốn biết làm thế nào để có được số tiền đó thì dưới đây tôi sẽ nói qua về 5 yếu tố bạn cần có để đạt được mục đích của mình. Đây chính là một bộ gồm 5 chìa khóa để thành công: 1. Suy nghĩ tốt 2. Tính cách tốt 3. Kỹ năng tốt 4. Cư xử tốt 5. Kiến thức tốt Sau đây tôi sẽ phân tích kỹ hơn về 5 chìa khóa này: 1. Suy nghĩ tốt Trước tiên bạn phải có một suy nghĩ sáng suốt, tức là biết kinh doanh cái gì, cái gì khách hàng thực sự cần. Rồi chẳng may trong quá trình kinh doanh nếu gặp khó khăn, trở ngại thì bạn phải có những suy nghĩ tích cực để có thể vượt qua những thử thách tạm thời và vững bước tiến lên. 2. Tính cách tốt Để có được 10 tỷ trong vòng 5 năm tới bạn phải biết hy sinh, bạn phải có sự tập trung, tức là dồn nghị lực vào những mục tiêu quan trọng. Bạn phải có tính kiên nhẫn để có thể vượt qua được những khó khăn trở ngại. Bạn phải có một sự đam mê, tức là yêu thích và hăng say trong công việc bạn đang làm. Đó là những đức tính bạn cần có để thành công. 3. Kỹ năng tốt Rõ ràng để có thể thành công trong kinh doanh bạn phải có kỹ năng quản lý thời gian tức là biết quản lý thời gian của chính mình và của những người làm thuê cho mình. Bạn phải biết nhìn người, biết dùng người. Bạn phải biết tìm kiếm và đánh giá thông tin về sản phẩm, về thị trường và về đối thủ cạnh trạnh... Đó là những kỹ năng mà bạn cần phải học để thành công. 4. Cử xử tốt Nếu bạn cư xử không ra gì để rồi những người làm thuê bỏ việc và các đối tác không tin tưởng bạn thì sớm hay muộn doanh nghiệp của bạn cũng bị phá sản. Nói vậy để thấy để thành công cư xử là quan trọng như thế nào. 5. Kiến thức tốt Để thành công, ngoài những yếu tố ở trên bạn còn cần phải có kiến thức tốt, phải am hiểu về ngành nghề mà bạn đang kinh doanh. Ngoài ra bạn cũng cần phải có một vốn sống nhất định. Đó là những kiến thức để bạn có thể thành công. Vậy đâu là chìa khóa chủ trong bộ 5 năm chìa khóa để thành công? Suy nghĩ tốt chính là chìa khóa quan trọng nhất để thành công vì nó là khởi nguồn để có được 4 yếu tố kia. Có suy nghĩ tốt bạn sẽ rèn được những tính cách tốt, học được những kỹ năng tốt, biết cư xử tốt và có được những kiến thức tốt. Suy nghĩ giống như thuyền trưởng của một con tàu: nó điều khiển mọi lời nói, việc làm, điều khiển mọi hoạt động, hành vi và cách cư xử của bạn. Suy nghĩ tốt sẽ giúp bạn biết cái gì nên làm và cái gì không nên làm, cái gì nên học và cái gì không nên học, cái gì nên nói và cái gì không nên nói, cái gì nên biết và cái gì không nên biết... Qua những phân tích ở trên bạn và tôi có thể đưa ra kết luận về chìa khóa của thành công và hạnh phúc: Thành công và hạnh phúc nằm trong chính suy nghĩ của bản thân Bạn có thể thấy toàn bộ các bài viết trên trang web BaiHocThanhCong.com là nhằm giúp bạn thay đổi những suy nghĩ của chính bản thân để từ đó bạn có trong tay chiếc chìa khóa mở toang những cánh cửa của thành công và hạnh phúc. Vậy là bạn đang nắm trong tay bí quyết thành công và hạnh phúc rồi đó. Nào bây giờ bạn hãy nói: "Tôi sẽ thay đổi suy nghĩ của chính mình để có được thành công và hạnh phúc." Tôi muốn bạn làm ngay điều này. Đừng nói là: "Tôi không thể thay đổi được suy nghĩ của chính mình." Không, mọi thứ đều có thể làm được. Không lẽ bạn có thể ngồi nghĩ mãi về những chuyện u buồn, chán nản được sao. Hãy nghĩ về những chuyện tích cực và lạc quan, hãy xây dựng cho mình những dự định tích cực và lạc quan ngay từ bây giờ. Và quan trọng nhất là hãy tin bạn sẽ làm được. Hãy tin là bạn có thể thay đổi và định hướng được suy nghĩ của bản thân, chỉ có điều bạn có muốn và quyết tâm làm điều đó hay không mà thôi. Chúc bạn thành công và hạnh phúc trong cuộc sống. ST
Ðề: Hạnh phúc để thành công Hãy trọn vẹn với cuộc sống Cuộc đời cũng giống như trò chơi tung hứng. Bạn có trong tay 5 quả bóng có tên là: Công Việc, Gia Đình, Sức Khỏe, Bạn Bè và Tinh Thần. Bạn phải cố gắng không làm rơi bất cứ quả bóng nào. Công Việc và Tinh Thần là những quả bóng cao su, nếu rơi xuống chúng có thể nảy trở lên vào tay bạn, nhưng 3 quả bóng còn lại là những quả bóng thủy tinh, chúng có thể sẽ bị trầy xước, sứt mẻ, hoặc thậm chí vỡ tan khi rơi xuống đất. Nếu không tự chủ, bạn khó có thể lường trước được quả bóng nào sẽ rơi xuống đất. Vì vậy hãy học cách giữ cân bằng cho cuộc sống của chính mình. Công Việc và Tinh Thần là những quả bóng cao su, nếu rơi xuống chúng có thể nảy trở lên vào tay bạn, nhưng 3 quả bóng còn lại là những quả bóng thủy tinh, chúng có thể sẽ bị trầy xước, sứt mẻ, hoặc thậm chí vỡ tan khi rơi xuống đất. Nếu không tự chủ, bạn khó có thể lường trước được quả bóng nào sẽ rơi xuống đất. Vì vậy hãy học cách giữ cân bằng cho cuộc sống của chính mình. Đừng hạ thấp giá trị bản thân khi so sánh mình với người khác. Mỗi chúng ta đều là những con người đặc biệt và có giá trị riêng. Nhu cầu tình cảm lớn nhất của con người là biết mình được đánh giá và nhìn nhận đúng. Đừng để những ước mơ, mục đích của bạn lệ thuộc vào người khác, mà phải bắt nguồn từ chính khao khát, đam mê của bạn. Chỉ có bạn mới biết điều gì là tốt nhất cho bản thân mình. Bạn hãy nâng niu, gìn giữ những gì thân thuộc, gần gũi nhất trong trái tim bạn. Đó chính là những giá trị tinh thần để cuộc sống của bạn thêm phần ý nghĩa. Đừng để cuộc đời bạn trôi qua một cách vô nghĩa khi mãi chìm đắm trong kỷ niệm hay nỗi đau trong quá khứ hoặc lo lắng quá về tương lai. Hãy sống trọn vẹn cho giây phút hiện tại bằng tất cả cảm nhận và nhiệt huyết của trái tim mình. Đừng bao giờ bỏ cuộc khi bạn vẫn còn có thể làm được điều gì đó. Mọi thứ chỉ thật sự chấm dứt khi bạn thôi không muốn cố gắng nữa. Đừng ngại nhìn nhận rằng bạn là người chưa hoàn hảo. Sự trưởng thành của con người diễn ra trong mọi giai đoạn cuộc sống. Chính sự nhìn nhận những khiếm khuyết đó sẽ là sợi chỉ nối kết mọi người lại với nhau. Hãy học hỏi vì kiến thức và trải nghiệm là vốn quý nhất mà bạn luôn có thể mang theo bên mình. Đừng sợ phải đối mặt với khó khăn, thử thách vì đó chính là cơ hội vững vàng để bạn trưởng thành hơn. Đừng để tình yêu thiếu vắng trong cuộc đời bạn bằng cách nói rằng thật khó tìm thấy nó. Cách nhanh nhất để nhận được tình yêu là cho đi. Cách mau chóng nhất để đánh mất tình yêu là cố giữ nó thực chặt. Và cách tốt nhất để giữ trọn vẹn tình yêu là chắp cho nó một đôi cánh. Hãy sử dụng thời gian và ngôn ngữ một cách cẩn thận. Không một lời nói hay khoảnh khắc nào đã qua có thể lấy lại được. Đừng băng qua cuộc sống quá nhanh để rồi đến một lúc nào đó bạn sẽ phải tự hỏi mình đang ở đâu. Hãy vạch ra hành trình để luôn ý thức được rằng mình đang đi đâu trong hành trình ấy. Cuộc đời ko phải là một cuộc đua. Nó là một hành trình để chúng ta từng bước chiêm nghiệm ý nghĩa cuộc sống. Điều quan trọng không phảỉ là phần thưởng khi bạn đến đích, mà chính là những gì bạn đã cảm nhận được trên từng chặng đường đi. ST
Ðề: Hạnh phúc để thành công Đường lối đẹp -Nếu bạn luôn cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất, điều tồi tệ nhất sẽ không xảy ra- (B.C. Forbes) Hầu hết chúng ta sẽ chẳng bao giờ giành được một trong những giải thưởng cao quý - như giải Nobel hoặc giải Oscar - những giải đó dành cho một số ít người ưu tú. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều có đủ điều kiện và tư cách để có những niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống. Bất cứ ai cũng có thể trân trọng một lời khen, một cái ôm, một vầng trăng tròn hay một bóng mát ngay trước hiên nhà. Những niềm vui nhỏ đó có thể bao gồm cả khúc củi cháy nổ răng rắc trong bếp, một ly trà đá, một chén xúp nóng hoặc một buổi hoàng hôn đẹp trời... Tất cả những thứ này và hàng ngàn thứ khác cho mỗi người chúng ta nhiều ân huệ và truyền cho mỗi người chúng ta một nguồn vui bất diệt. Nếu những giải thưởng lớn nhất trong đời đến với bạn, hãy biết ơn. Nếu chúng đi qua mặt bạn, đừng băn khoăn. Hãy thưởng thức những niềm vui nho nhỏ mà đời sống hiến dâng. Những anh hùng của ngày hôm qua là những người ngày hôm nay bị quên lãng. Những giải thưởng lớn của cuộc sống là những biến cố hiếm có, sẽ mau chóng bị lãng quên. Nhưng những kho tàng quý báu nho nhỏ trong đời cứ tiếp tục còn mãi. Ngày hôm nay có thể không tràn đầy những niềm vui lớn, nhưng nó có thể tràn đầy những niềm vui nho nhỏ, không tên. Bạn chỉ cần mở mắt và nhìn xung quanh. -Hoàng Thư phỏng dịch-