Khác: 7 chứng bệnh trong quá trình mang thai

Thảo luận trong 'Mang thai' bởi suckhoe, 19/9/2009.

  1. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Hầu hết các trường hợp mang thai đều có kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, sẽ không thừa khi hiểu thêm về các nguy cơ có thể gặp trong quá trình thai nghén. Dưới đây là 7 chứng bệnh thường gặp nhất, xếp theo mức độ từ thường xuyên đến ít gặp nhất.




    Sẩy thai

    Sẩy thai là tình trạng hỏng thai trong 20 tuần đầu mang thai. Khoảng 15-20% thai phụ rơi vào tình huống này và hơn 80% trường hợp sẩy thai trước khi thai được 12 tuần tuổi.

    Hầu hết các trường hợp sẩy thai trong giai đoạn đầu thai kỳ được cho là có sự dị thường về nhiễm sắc thể ở trong phôi.

    Dấu hiệu sẩy thai thường là có vết máu. Vậy nên hãy gọi cho y tế ngay nếu phát hiện thấy dấu vết của máu ở đáy quần lót. Khi đó, bạn sẽ được siêu âm và xét nghiệm máu để xem chính xác điều gì đang diễn ra.

    Chuyển dạ và sinh non

    Khi bắt đầu xuất hiện các cơn gò và khiến cổ tử cung bắt đầu mở (giãn nở) hoặc thành cổ tử cung mỏng đi trước khi thai được 37 tuần tuổi thì bị coi là sinh non. Khoảng 12% trẻ Mỹ bị sinh non. Sinh non có thể gây ra các vấn đề sức khỏe, thậm chí là đe dọa cả sự sống của trẻ nếu bé chào đời quá sớm so với dự kiến.

    Thiểu ối

    Nước ối có tác dụng bảo vệ và hỗ trợ thai nhi phát triển. Khi có quá ít nước ối thì sẽ gọi là thiểu ối. Theo thống kê tại Mỹ, có khoảng 8% thai phụ bị chứng này ở giai đoạn cuối thai kỳ.

    Nếu điều này xảy ra, bạn sẽ được theo dõi đặc biệt để đảm bảo an toàn cho thai nhi. Nếu gần đến ngày sinh, bác sĩ sẽ chỉ định mổ để cứu bé.

    Tiền sản giật

    Tiền sản giật là một rối loạn phức hợp, ảnh hưởng 3-8% thai phụ. Bệnh thường được chẩn đoán sau khi thai được 20 tuần tuổi với 2 biểu hiện chính: huyết áp tăng và protein trong nước tiểu tăng. Hầu hết các thai phụ bị chứng tiền sản giật sinh con bình thường nhưng trẻ cần được chăm sóc đặt biệt hơn.

    Tuy nhiên, nếu để bệnh nặng thì có thể ảnh hưởng tới nhiều bộ phận trong cơ thể, thậm chí là đe dọa đến tính mạng của cả mẹ và bé. Đa phần những trường hợp này sẽ sinh sớm hơn dự kiến.

    Tiểu đường thai kỳ

    Khoảng 5% thai phụ mắc chứng này. Tuy nhiên, không nghiêm trọng như bệnh đái tháo đường thông thường, nó chỉ xuất hiện trong giai đoạn từ tuần thứ 24-28 với biểu hiện đường huyết tăng.

    Nếu bị tiểu đường thai kỳ, thai phụ cần được theo dõi chặt chẽ. Mức đường huyết sẽ nhanh chóng ổn định với chế độ ăn và luyện tập phù hợp. Trẻ sinh ra cũng hoàn toàn khỏe mạnh.

    Ngược lại, nó sẽ gây ra các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với thai nhi. Các bà mẹ bị tiểu đường thai kỳ thường dễ mắc tiểu đường tuyp 2 sau này (25-50%) nhưng nguy cơ sẽ giảm thiểu nếu duy trì được cân nặng chuẩn và có lối sống lành mạnh.

    Chửa ngoài dạ con

    Trứng đã được thụ tinh “đậu” ở vị trí nằm ngoài tử cung sẽ bị gọi là chửa ngoài dạ con. Trứng có thể “ở lại” ngaay trên vòi trứng, buồng trứng, cổ tử cung, bụng hay vết sẹo mổ cũ. Không có cách nào để cấy phôi đi lạc này trở lại tử cung vì thế chỉ có cách duy nhất là chấm dứt thai kỳ.

    Điều quan trọng là chẩn đoán sớm bởi nếu phôi phát triển nó có thể gây vỡ vòi trứng. Cứ 50 thai phụ có 1 người bị chứng này.

    Rau tiền đạo

    Rau tiền đạo là tình trạng rau bám thấp trong tử cung, thường ở gần vùng eo tử cung, che lấp một phần hay toàn bộ cổ tử cung, gây cản trở đường ra của thai khi chuyển dạ. Cứ 200 thai phụ có 1 người bị rau tiền đạo.

    Nó có thể gây chảy máu, dẫn tới chuyển dạ sớm hay biến chứng khác. Vị trí của rau tiền đạo sẽ được kiểm tra trong quá trình siêu âm và nếu đúng bị rau tiền đạo thì sẽ được chỉ định sinh mổ.


    BACSI.com (Theo Dantri)
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi suckhoe
    Đang tải...


  2. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Tiết dịch âm đạo bất thường ở thai phụ

    Nếu dịch tiết ra có màu trắng, trong (không giống với màu nước tiểu), dịch mỗi ngày một nhiều thì có khả năng thai phụ bị rò nước ối.





    Nếu có dấu hiệu trên, thai phụ nên đi khám thai sớm.

    Ngoài ra, thai phụ cũng nên đi khám, nếu chưa đến tuần thứ 37 mà gia tăng dịch tiết hoặc thay đổi hình thức tiết dịch. Dịch tiết trở nên nhiều chất nhầy, có lẫn máu hoặc có màu hồng, màu đỏ nâu… có thể là dấu hiệu của chuyển dạ sớm.

    Thai phụ nên chú ý nếu nghi ngờ bị viêm nhiễm vùng kín. Nếu dịch tiết không có mùi, có màu hơi trắng nhưng kèm theo những triệu chứng khác là ngứa ngáy, nóng bừng hoặc âm hộ đỏ tấy, viêm thì có khả năng thai phụ đang bị nấm.


    Nếu dịch tiết có mùi chua, nổi bọt, có màu vàng, xanh hoặc xám, thai phụ có thể bị mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc bị viêm nhiễm (ngay cả khi vùng kín không bị ngứa ngáy, ửng đỏ hay nóng bừng).

    Lưu ý: Không nên tự ý dùng bất kỳ một loại thuốc nào mà không có chỉ định từ bác sĩ. Nên đi khám sớm nếu thai phụ xuất hiện những dấu hiệu kể trên hoặc có những bất thường nào khác ở vùng kín.

    Cũng nên tránh dùng băng vệ sinh, chỉ nên sử dụng quần lót có chất liệu thấm hút tốt và nên thay quần lót thường xuyên. Tránh quần lót chật, bằng chất liệu nylon, tắm bằng sữa tắm thơm và nhiều bọt, dung dịch vệ sinh phụ nữ, xà phòng có mùi thơm và dùng giấy toilet lót vào đáy quần lót… Không được thụt rửa mạnh vì cách này sẽ làm mất môi trường cân bằng âm đạo, tạo điều kiện cho viêm nhiễm lan rộng hơn.


    BACSI.com (Theo Mevabe/ Babycenter)
     
  3. babyvn00

    babyvn00 Thành viên tập sự

    Tham gia:
    22/9/2009
    Bài viết:
    14
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    3
    bài viết rất hữu ích, cảm ơn đã đăng bài này.
     
  4. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Nổi mẩn khắp cơ thể khi mang thai

    Bình thường da họ rất mịn màng. Thế nhưng khi mang thai, da họ nổi nốt đỏ, mẩn ngứa ở nhiều nơi.



    (Ảnh minh họa)

    Các nốt, mẩn đỏ có thể nổi khắp vùng mặt, lưng, tay hoặc chân... làm thai phụ ngứa ngáy, khó chịu. Một số người cho rằng những biểu hiện bất thường trên da là do thai kỳ, sau khi sinh sẽ hết. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng.

    Theo các bác sỹ chuyên khoa da liễu, nổi mẩn ngứa ở thai phụ được chia thành hai nhóm:

    Nhóm bệnh về da thông thường

    Thai phụ có thể nổi mề đay, mẩn ngứa do các tác nhân gây dị ứng như thời tiết thay đổi, thức ăn, nhiễm khuẩn, căng thẳng...

    Các nốt mẩn ngứa xuất hiện trên da do phản ứng miễn dịch của cơ thể. Khi thai phụ tiếp xúc với những tác nhân gây dị ứng, lập tức cơ thể sẽ xảy ra phản ứng miễn dịch qua tế bào trung gian. Các chuỗi phản ứng này sẽ giải phóng histamine trong da khiến người bệnh cảm thấy ngứa ngáy. Nổi mẩn ngứa trong trường hợp này thường không ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và thai nhi.

    Nhóm bệnh da liễu do thai kỳ

    Bệnh do căng vùng da bụng: Vào ba tháng cuối thai kỳ, khi bụng căng lớn, mề đay, mẩn ngứa xuất hiện tại các vết rạn trên da bụng. Ban đầu, chỉ là các ban mề đay nhỏ, màu đỏ. Các ban này liên kết tạo thành đám mề đay lớn, đôi khi có mụn nước. Sau vài tuần, các đám ban có thể lan đến đùi, mông, ngực, cánh tay, lưng... và gây ngứa. Bệnh thường tự khỏi sau khi sinh.

    Điều trị: Bôi thuốc mỡ hoặc kem steroide để hạn chế ngứa và ngăn thương tổn lan rộng.

    Bệnh mẩn ngứa nang lông: Khởi phát vào ba tháng giữa thai kỳ, biểu hiện là các nốt màu đỏ nhỏ, không có mủ, thường nổi ở vai, nửa lưng trên, cánh tay, ngực, bụng,... Bệnh thường tự khỏi sau khi sinh khoảng 2-3 tuần.

    Điều trị: Dùng thuốc bôi hoặc thuốc uống để trị ngứa hiệu quả.

    Bệnh Pemphigoide (PG): Có thể xuất hiện trong ba tháng giữa và ba tháng cuối của thai kỳ. Bệnh thường bắt đầu với triệu chứng ngứa dữ dội, sau đó hình thành những mảng đỏ và cứng ở vùng da quanh rốn. Sau 2-4 tuần, mảng đỏ lan rộng, xung quanh có các mụn nước và mủ. Các thương tổn sẽ lan rộng ra lưng, mông, cánh tay, bàn tay và bàn chân.

    Bệnh có thể khiến trẻ sau khi sinh dễ mắc chứng phát ban. Tuy nhiên, các ban ở trẻ sơ sinh thường xuất hiện trong thời gian ngắn và có thể tự khỏi.

    Điều trị: Trường hợp nhẹ, bệnh có thể điều trị bằng cách bôi kem hoặc thuốc trị ngứa. Trường hợp nặng, thai phụ phải uống thuốc steroide mới kiểm soát được bệnh.

    Bác sĩ Hoàng Văn Minh, công tác tại Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Dược TP. HCM, cho biết: "Tình trạng nổi mẩn, ngứa ở phụ nữ mang thai có nhiều nguyên nhân, rất khó xác định đúng bệnh nếu chỉ thông qua triệu chứng bên ngoài mà không đến khám tại chuyên khoa da liễu. Có những bệnh không ảnh hưởng đến mẹ và thai nhi nhưng có trường hợp gây nguy hiểm".

    Việc sử dụng kem steroide và kháng histamin phải có ý kiến của bác sĩ. Một số loại kháng histamin chỉ sử dụng được trong một thời gian nhất định của thai kỳ, nếu dùng không đúng có thể ảnh hưởng đến thai nhi.

    BACSI.com
     
  5. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Mang thai và những cơn đau đầu quái ác

    Trong thời gian mang thai, bạn bị đau đầu thường xuyên. Đâu là lý do khiến bạn bị đau đầu? Làm thế nào để đối phó với những cơn đau đầu kiểu này? Nó có ảnh hưởng tới sức khoẻ của em bé?

    Có rất nhiều phụ nữ mang thai luôn bị những cơn đau đầu làm ảnh hưởng tới sức khoẻ, gây nên những trạng thái mệt mỏi của người mẹ, khiến người mẹ trở nên cáu gắt khó chịu. Nhức đầu là hiện tượng phổ biến ở những người phụ nữ mang thai.

    Nguyên nhân được xác định là do hoóc môn sản sinh trong quá trình mang thai gây ra. Các chị em cũng có thể bị đau đầu là do sự căng thẳng trong công việc, những mỏi mệt của cơ bắp, phần vai, lưng, bị biến đổi khi mang bầu...

    Nhắc đầu trong giai đoạn cuối thai kỳ có thể là hiện tượng của tiền sản giật. Bạn hãy chắc chắn rằng huyết áp của mình trong thời gian mang thai thường xuyên được kiểm tra, đo đạc kỹ lưỡng , nhất là khi bị đau đầu, huyết áp cần phải được coi trọng.

    Đau đầu có nên dùng thuốc giảm đau?

    Đối với những phụ nữ không mang thai, đây là một câu hỏi rất dễ trả lời. Khi đau đầu, bạn có thể uống thuốc, nhưng cũng đừng lạm dụng thuốc quá nhiều. Còn đối với phụ nữ mang thai thì sao?

    Paracetamol thường được coi là an toàn cho sử dụng. Tránh dùng aspirin và ibuprofen. Trong một số trường hợp bác sỹ vẫn cho bạn dùng aspirin. Như với tất cả các loại thuốc khác, quá trình mang thai cần được một sự sử dụng thuốc đúng cách, và cho phép, tránh sử dụng thuốc bừa bãi trong quá trình mang thai.

    BACSI.com
     
  6. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    9 điều có hại cho các bà mẹ đang mang thai

    Các bà mẹ đang mai thai nên tránh những điều sau:

    Không nên uống quá nhiều nước chè

    Người mang thai không nên uống quá nhiều nước chè hoặc chè đặc, bởi trong chè có chất tê-in (cafein) gây hưng phấn, khiến thai nhi đạp nhiều, thậm chí ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi.

    Không nên uống quá nhiều các loại nước có ga

    Trong một số loại nước uống có chứa 2,4- 2,6% chất cafein như coca và thức uống chứa kiềm sinh vật, sản phụ khi uống có các triệu chứng như: buồn nôn, nôn mửa, đau đầu, tim đập nhanh ảnh hướng đến sự phát triển của đại não, tim, nội tạng và các cơ quan trọng khác của thai nhi dẫn đến bệnh tật bẩm sinh.

    Dùng quá nhiều dấm

    Sử dụng quá nhiều dấm và thức ăn quá chua là một trong những nguyên nhân dẫn đến thai di dạng. Đặc biệt là nửa tháng đầu mang thai, quá lượng thức ăn chua khiến độ ba-zơ trong cơ thể giảm xuống làm sản phụ cảm thấy mệt mỏi. Nếu chất chua có trong một thời gian dài không những khiến người mẹ mắc bệnh, còn ảnh hưởng nghiêm trọng dến sự phát triển bình thường của thai nhi, dẫn đến thai dị dạng.

    Không nên uống rượu

    Trong rượu có chứa chất axetylen (cồn) loại độc tố có ảnh hưởng nhất định đối với đại não, tim, nội tạng người. Chất này thông qua cuống rốn xâm nhập vào cơ thể thai nhi, khiến thai nhi sau khi sinh có các hiện tượng như: trí não chậm phát triển, cơ thể thấp bé, nghiêm trọng có thể gây ra chướng ngại về trí lực.

    Không nên ăn quá nhiều quả táo mèo (sơn tra)

    Y học hiện đại đã chứng minh, táo mèo có tác dụng thu nhỏ cổ tử cung, nếu người mẹ đang mang thai ăn quá nhiều sơn tra và thức ăn chế biến từ loại quả này sẽ kích thích tử cung thu nhỏ thậm chí gây sẩy thai.

    Không nên ăn nhiều đồ nóng

    Khi mang thai ăn thức ăn mang tính nóng như: thì là, hoa tiêu, vỏ quế, ớt, ngũ vị hương hoặc thức ăn chế biến qua rán, xào dễ tiêu hao lượng nước trong ruột khiến tuyến bài tiết tràng vị giảm thiểu gây táo bón.

    Khi bị táo bón, sản phụ cố đi vệ sinh khiến sự dùng lực ở bụng dưới càng lớn, khiến thai nhi trong tử cung co thắt dẫn đến những hậu quả không tốt như: động thai, vỡ nước ối, sẩy thai, đẻ sớm…

    Không nên ăn quá nhiều quẩy

    Trong quẩy có chứa một lượng phèn chua nhất định, trong phèn chua có chứa chất hữu cơ nhôm. Nhôm thông qua cuống rốn xâm nhập vào não thai nhi, gây trở ngại cho quá trình phát triển của đại não, gia tăng nguy cơ chứng đần độn của thai nhi.

    Không nên lạm dụng thuốc

    Tuần thứ ba đến tháng thứ ba là thời kỳ hình thành và phát triển của phôi thai, đây cũng là thời kỳ các bà mẹ nên đặc biệt chú ý khi dùng thuốc. Điều tra mới nhất cho thấy, một số loại thuốc có khả năng gây thai bị dị hình, thường gặp có streptomycin, aspirin, thuốc an thần, tetracyline, chloromycetin, Sulfonamides. Nên sử dụng dưới sự chỉ dẫn của bác sĩ.

    Không nên tiếp xúc nhiều với thuốc tẩy

    Trong thuốc tẩy có chứa các chất có thành phần hóa học như: chất hoạt động bề mặt Cationic(chất hoạt động bề mặt nhóm phân cực không bị Ion hóa trong bề mặt nước) hoặc cồn có thể phá hủy tinh dịch.

    Đặc biệt là sớm có thai sau khi mới kết hôn, khi tiếp xúc nhiều với bột giặt, dầu gội, nước rửa bát những thành phần hóa học có trong thuốc tẩy xâm nhập qua da và tích lũy trong cơ thể, từ đó khiến lớp ngoài của tế bào tinh dịch biến đổi gây xẩy thai.

    BACSI.com
     
  7. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Siêu âm trong thai kỳ – Lợi hay hại?

    Nhiều bà bầu rất muốn đi siêu âm thai để nhìn thấy mặt con yêu nhưng lại phân vân sợ rằng việc siêu âm có thể ảnh hưởng đến em bé trong bụng? Sự thật như thế nào?

    Có rất nhiều ý kiến khác nhau của những người đã và đang bắt đầu làm mẹ vào cuộc với 2 trường phái rõ rệt:

    Trường phái ủng hộ siêu âm thai nhi

    Chị Nguyễn Minh Hằng, HN nói: Mình có đứa em gái cũng đang mang bầu. Mới tháng thứ 6 mà nó đã siêu âm tận 7-8 lần rồi. Mình nghĩ như thế cũng cần thiết vì đi siêu âm thường xuyên sẽ biết được em bé phát triển như nào, có biểu hiện gì bất thường không. Mà bác sỹ chuyên khoa cũng bảo siêu âm là tốt, không gây hại cho thai nhi. Vì thế các mẹ cứ an tâm đi siêu âm định kỳ nhé.

    Mẹ gà Bông: Không biết các mẹ khác như thế nào nhưng theo kinh nghiệm của mình thì siêu âm không có hại gì cả. Mình sinh con đầu lòng mà siêu âm đến trên chục lần. Không phải sốt ruột xem con trai hay con gái đâu mà mấy tháng đầu do cứ thấy âm ỉ đau bụng nên mình lo lắm, có tuần đi siêu âm hai lần. Bác sỹ vẫn bảo mình siêu âm không có hại gì cả, nếu thấy trong người có gì bất an mà ảnh hưởng tới thai nhi thì cứ đi siêu âm.

    Mẹ Kelly: Mình chưa thấy có tài liệu nào có nói về tác hại của siêu âm đối với thai nhi. Hồi mình mang bầu mình phải siêu âm đến 7 - 8 lần ấy. Siêu âm để ổn định tâm lý cho người mẹ mà.

    Trường phái “dè chừng” với siêu âm thai nhi

    Mẹ Bi: Quan điểm của mình là, nếu thai nhi khỏe mạnh không có vấn đề gì thì cũng không cần thiết phải đi siêu âm thường xuyên. Mình cũng thấy các bác sỹ nói là siêu âm vô hại nhưng nên hạn chế.

    Mẹ Cẩm Tú: Từ ngày đọc một tài liệu nói rằng cần hạn chế siêu âm nên mình cũng thấy sợ. Họ nói, nguyên tắc của siêu âm là thiết bị đặt trên da phát ra những làn sóng âm xuyên qua mô, đi sâu vào trong để đọc tín hiệu. Sau một lần nhận, dấu hiệu được phân tích bởi một hệ thống tin học, chuyển tải ra ảnh xuất hiện trên màn hình. Vì thế dù thế nào cũng sẽ gây hại cho sức khỏe thai nhi. Vì thế, mình nghĩ nên siêu âm khi thật cần thiết thôi.

    Mẹ Thảo Nguyên: Mình cũng nghĩ chỉ nên siêu âm khi có những nghi ngờ cần phải chẩn đoán. Vì bào thai không có gì đáng ngại nhưng có những vùng rất nhạy cảm với sóng siêu âm, bác sĩ gọi đấy là những vùng mềm như mắt, tuyến sinh dục của thai nhi...

    Vậy, siêu âm có nguy hiểm cho “em bé”?

    Nhiều nghiên cứu cũng công bố rằng, công nghệ siêu âm là hoàn toàn an toàn với các em bé và bà mẹ mà không có bất kỳ tác dụng phụ nào. Vì thế các bà bầu có thể yên tâm về độ an toàn của siêu âm thai nếu được thực hiện tốt. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào khẳng định được những ảnh hưởng lâu dài cũng như tác hại của việc sử dụng siêu âm thai.

    Song các bà bầu cũng nên nhớ rằng chụp X-quang – một công nghệ siêu âm vĩ đại nhất cũng đã được sử dụng rộng rãi khoảng 50 năm về trước cho đến khi công chúng phát hiện ra được nhiều tác động có xâm hại rõ ràng của nó với sức khỏe con người. Tương tự như thế, các chất kích thích tăng trưởng cho động vật và thuốc giảm đau cũng một thời kỳ dài được coi là an toàn nhưng sau này nhiều nghiên cứu đã tìm thấy và khẳng định chúng là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư, vô sinh và dị thường ở thai nhi.

    Vì thế khi khoa học chưa có một kết quả nghiên cứu cụ thể công bố về tác hại của siêu âm thai với sức khỏe của mẹ và con thì tốt hơn hết các bà bầu vẫn nên chỉ siêu âm khoảng 3 lần/ một thai kỳ là đủ. Ví như siêu âm tháng thứ 3 của thai kỳ để phát hiện dị tật. Tháng thứ 7 để thử tiểu đường, kiểm tra em bé có phát triển bình thường không. Tháng thứ 9, kiểm tra chuẩn bị sinh….Tuyệt đối đừng bị ảnh hưởng hoặc lạm dụng quá mức công nghệ siêu âm khi mang bầu. Bởi vì hành động này không chỉ tăng tiếp xúc với công nghệ không cần thiết, nó còn làm tăng thêm chi phí chăm sóc thai nhi và có thể dẫn đến sự can thiệp bổ sung không cần thiết và tốn kém.

    BACSI.com
     
  8. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Các phương thức làm đẹp có thể gây dị tật thai nhi

    Để đỡ xấu khi mang thai, nhiều bà bầu uống các loại hoocmon làm đẹp mà không biết rằng kể cả loại vitamin A làm sáng mắt uống trong giai đoạn này cũng có thể gây dị tật thai nhi.

    Rất nhiều phụ nữ mang thai không biết rằng việc lạm dụng mỹ phẩm là nguyên nhân làm tăng nguy cơ dị tật thai nhi.

    Theo tiến sĩ Trần Danh Cường, Phó giám đốc Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, Phó trưởng khoa Sản bệnh, Bệnh viện Phụ sản TW, nguy cơ dị tật xảy ra cao nhất khi thai nhi được 4 đến 11 tuần tuổi. Do vậy, việc sử dụng mỹ phẩm trong giai đoạn này phải hết sức cẩn thận.

    Thai nhi bị dị tật đầu chiếm tỷ lệ cao nhất

    Ngồi chờ tại phòng khám BV Phụ sản TW, ai cũng tò mò liếc nhìn chị V.Q.T, 25 tuổi, trú đường Hai Bà Trưng, Hà Nội bởi trông chị như đang chuẩn bị lên sàn diễn, chứ không phải đi khám thai. Mặc dù mang thai được hai tháng nhưng T. vẫn trang điểm khá đậm, uốn mi cong vút, móng tay, móng chân sơn vẽ nhiều màu. Nghe BS tư vấn về việc không nên lạm dụng mỹ phẩm khi mang thai, chi T.“chống chế”: “Mình dùng mỹ phẩm bôi ngoài da chứ có uống đâu mà lo. Có bầu, trông đã xấu, da mặt lại nổi đầy tàn nhang không trang điểm đậm không che hết được”.

    Tùy vào từng loại hóa mỹ phẩm độc hại khi đưa vào cơ thể sẽ gây ra những dị tật khác nhau. Ở Việt Nam, thai nhi bị dị tật đầu có tỷ lệ cao nhất, chiếm tỷ lệ 1/4 so với các dị tật khác. Theo tiến sĩ Trần Danh Cường, đây là một trong số những dị tật nặng nhất, đa số phải buộc ngừng thai nghén bởi những đứa trẻ có khiếm khuyết về não khi sinh ra sẽ là người tàn phế, trí tuệ phát triển không bình thường.

    Vitamin A cũng có thể gây dị tật thai nhi

    Trong thời kỳ mang thai, do những thay đổi về nội tiết tố nên nhiều người bị nổi nám, da sần sùi, lỗ chân lông giãn to. Đây chính là nguyên nhân khiến chị em phụ nữ cố trang điểm thật đậm nhằm che bớt những khuyết điểm trên mặt. Tiến sĩ Nguyễn Viết Lượng, Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, phụ trách Khu điều trị da liễu thẩm mỹ, Viện Bỏng quốc gia, cho rằng đây chỉ là giải pháp tạm thời không triệt bệnh tận gốc. Bên cạnh đó, khi mang thai, da của phụ nữ nhạy cảm hơn, dễ mẫn cảm với các thành phần hóa chất có trong mỹ phẩm. Để điều trị nám tận gốc, có thể dùng kỹ thuật laser hoặc các dược phẩm gây ức chế men nhưng các phương pháp này chống chỉ định với phụ nữ mang thai vì có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi.

    Theo ông Cường, các loại hóa mỹ phẩm dùng trong công nghệ làm tóc (duỗi, hấp, nhuộm, keo xịt…) thường chứa chất amoniac. Đây là loại hóa chất cực độc, nếu để thấm vào máu hoặc hít phải với lượng lớn sẽ dẫn đến nguy cơ đẻ non, sản giật, thậm chí làm chết phôi thai ngay lập tức.

    Phụ nữ mang thai cũng không nên sơn móng chân, móng tay vì các sản phẩm làm móng thường chứa các chất độc hại như benzen, formaldehyde và một số kim loại nặng như chì… Nguy hiểm hơn, aceton, nước rửa móng được xếp vào là một trong những chất độc hàng đầu, quá trình bốc hơi nhanh, dễ ngấm qua đường hô hấp vào máu.

    “Phụ nữ khi mang thai tuyệt đối không được uống các loại hoocmon làm đẹp hay bất kỳ một loại dược phẩm nào mà không có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa sản. Ngay cả các loại vitamin A làm sáng mắt khi uống trong giai đoạn mang thai cũng có thể gây dị tật thai nhi”, TS Trần Danh Cường cảnh báo.

    BACSI.com
     
  9. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Giúp bà bầu vượt qua cơn ốm nghén

    Ốm nghén (khó chịu, buồn nôn) là một trong những tình trạng thường xuyên xảy ra ở các bà bầu trong giai đoạn đầu của thai kỳ (lúc thai nhi khoảng 4 tuần tuổi). Nguyên nhân của việc này là do sự thay đổi lượng hoóc môn ở các thai phụ.

    Nếu bạn bị nôn nhiều, có thể gây ra tình trạng mất nước, rối loạn điện giải… gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và con.

    Dưới đây là những việc các bà bầu nên làm để hạn chế cơn ốm nghén.

    - Ăn ít và thường xuyên: Khi đói cảm giác buồn nôn sẽ thường xảy ra ở bà bầu hơn, nhưng khi ăn vào nó sẽ xóa đi sự khó chịu này. Nhưng bạn không nên ăn quá no, mà chỉ ăn vừa đủ, nhưng thường xuyên, mỗi bữa ăn cách nhau ít nhất hai tiếng.

    - Tập thể dục thường xuyên: Việc đi bộ hỗ trợ rất nhiều cho tiêu hóa và giúp bà bầu tránh buồn nôn.

    - Ăn nhạt, ít chất béo: Bạn nên ăn những món ăn như cơm, khoai tây, bánh quy không bơ, bánh mì nướng, ngũ cốc. Nhưng hãy hạn chế ăn rau xào, trứng luộc và súp.

    - Ăn gừng: Uống nước gừng hay trà gừng (có thể cắt gừng thành từng lát mỏng, cho vào nước đun sôi và thêm vài giọt mật ong) hoặc có thể ăn mứt gừng.

    - Sử dụng bạc hà: Các bà bầu có thể ngửi mùi hương bạc hà hoặc uống trà có vị bạc hà, cũng có thể giúp kiềm chế cơn buồn nôn.
    - Vitamin B: Việc sử dụng vitamin B hằng ngày rất có ích cho các bà bầu.

    - Uống nhiều nước: Khi có cảm giác buồn nôn, các thai phụ nên uống nước trái cây hoặc nước sô đa.

    Tránh các việc làm sau:

    - Khi nấu ăn, bạn nên mở cửa sổ hoặc quạt hút để loại bỏ những mùi khó chịu phát ra từ đồ ăn.
    - Không nên ăn những thực phẩm có chứa nhiều chất béo bởi nó khó tiêu hóa.
    - Tránh sử dụng thực phẩm cay, rượu và thuốc lá.
    - Căng thẳng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ốm nghén ở các thai phụ. Vì vậy, bạn nên nghỉ ngơi, thư giãn.

    Các ông bố tương lai nên làm gì?

    Các ông bố nên hiểu, thông cảm và giúp đỡ vợ mình trong giai đoạn ốm nghén này, chẳng hạn như nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa… Động viên cô ấy nên nghỉ ngơi.

    BACSI.com
     
  10. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Những điều cần biết về “vượt cạn”

    Bạn đang rất hạnh phúc và nóng lòng chờ đợi đến ngày bé yêu chào đời nhưng cũng không khỏi lo lắng cho kỳ “vượt cạn” trước mắt. Hãy cùng giải đáp những thắc mắc thường gặp để chuẩn bị tốt nhất cho ngày trọng đại đó nhé!

    1. Có nên đến bệnh viện ngay khi xuất hiện những cơn co thắt đầu tiên?

    Những cơn co thắt tử cung là dấu hiệu rất dễ nhận biết trước kỳ “vượt cạn” vì bạn sẽ có cảm giác đau dần lên và các cơn co thắt cũng lặp lại nhanh hơn. Tuy nhiên, bạn không nên vội vàng đến bệnh viện mà hãy chú ý đến nhịp độ các cơn co thắt.

    Đối với những người lần đầu tiên làm mẹ, khi các cơn co thắt kéo dài ít nhất 1 phút và cứ 10 phút lại lặp lại một lần thì đó là thời điểm nên nhập viện. Còn trước đó chỉ là những cơn co thắt bình thường, không nên vì thế mà lo lắng vô ích.

    2. Nếu đến bệnh viện muộn, sẽ phải sinh con khi đang trên ô tô?

    Trường hợp này rất hiếm, nhất là với những người lần đầu tiên “vượt cạn”. Quá trình chuyển dạ thường diễn ra trong nhiều giờ, chính vì vậy mà bạn có thoải mái thời gian để đến bệnh viện.

    3. Cần phải đến bệnh viện ngay khi thấy nước ối dù có cơn co thắt hay không?

    Đúng vậy. Việc vỡ ối ngay khi mới bắt đầu chuyển dạ hoặc sớm hơn là do túi nước ối bị nứt hoặc vỡ và bạn có nhiều nguy cơ bị nhiễm trùng hoặc biến chứng. Khi đó bạn cần phải đến bệnh viện trong thời gian nhanh nhất.

    Còn nếu bạn không thấy hiện tượng này thì cũng không có gì phải lo lắng vì nước ối sẽ thoát ra ngoài vào một thời điểm nào đó trong khi chuyển dạ.

    4. Sinh con so thường chuyển dạ lâu hơn sinh lần hai?

    Lần “vượt cạn” đầu tiên thường phải mất từ 8-10 tiếng nghĩa là lâu hơn so với những lần sinh thứ hai hoặc thứ ba. Tuy nhiên, thời gian chuyển dạ của mỗi người cũng khác nhau. Có những người phải mất tới 20 tiếng những cũng có những người giai đoạn này diễn ra nhanh hơn.

    5. Đau dữ dội trong suốt quá trình chuyển dạ?

    Hiện nay, phương pháp gây tê tuỷ sống sẽ giúp giảm các cơn đau đẻ một cách an toàn và hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp tiêm giảm đau cổ điển. Còn nếu không muốn có sự can thiệp của thuốc giảm đau thì các bài tập hít thở, yoga, mát xa…cũng có thể giúp giảm đau đáng kể.

    6. Hầu hết những người sinh con đầu lòng đều phải mổ đẻ?

    Có tới 71% những người sinh con đầu lòng phải sinh mổ thay vì sinh thường. Tuy nhiên, tỷ lệ này được đánh giá là quá cao. Trong rất nhiều trường hợp, việc mổ đẻ là không cần thiết và sinh mổ cũng không phải là biện pháp tốt nhất cho cả mẹ và bé.

    7. Gây tê tuỷ sống khi chuyển dạ có nguy hiểm cho mẹ và bé không?

    Gây tê tuỷ sống là một phương pháp rất phổ biến (chiếm 2/3 tổng số các ca sinh đẻ) và không hề nguy hiểm trừ những trường hợp chống chỉ định hoặc dị ứng với thuốc. Phương pháp này cũng không làm ảnh hưởng đến tuỷ sống. Nó chỉ gây ra một vài tác dụng phụ như đau đầu, tê chân trong một vài giờ mà thôi.

    8. Có thể thực hiện gây tê tuỷ sống vào giữa quá trình chuyển dạ hay không?

    Trong quá trình chuyển dạ, nếu cảm thấy không thể chịu đựng được các cơn đau do co thắt tử cung thì có thể yêu cầu bác sĩ thực hiện gây tê tuỷ sống để giảm đau. Việc sinh hạ em bé thường phải mất nhiều giờ và bạn hoàn toàn có thể thay đổi ý kiến. Tuy nhiên tốt nhất nên làm việc này khi cổ tử cung mở khoảng 2-6cm.

    BACSI.com
     
  11. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Sự thật khi mang thai

    Đối với phụ nữ khi mang thai vấn đề ăn uống hàng ngày đóng một vai trò quan trọng, nếu ăn uống tốt sẽ đảm bảo sức khoẻ cho cả hai, tuy nhiên trong thực tế người ta lại không biết ăn uống thế nào để hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất.

    1. Những bí ẩn có liên quan giữa ăn uống và sức khoẻ phụ nữ khi mang thai

    Đối với phụ nữ khi mang thai vấn đề ăn uống hàng ngày đóng một vai trò quan trọng, nếu ăn uống tốt sẽ đảm bảo sức khoẻ cho cả hai, tuy nhiên trong thực tế người ta lại không biết ăn uống thế nào để hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất. Theo nghiên cứu của các chuyên gia ở Trung tâm y khoa Montefiore (Mỹ) thì giai đoạn mang thai cần tăng cường ăn nhiều rau xanh, hoa quả, ngũ cốc nguyên chất. Đặc biệt chú ý đến nguồn gốc protit tốt và nên tránh một số thực phẩm nhất định. Ví dụ, cần tránh các loại cá ở những vùng có mức ô nhiễm cao, do tích thủy ngân, gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ thần kinh và trí tuệ của đứa trẻ tương lai. Cơ quan quản lý Thực - dược phẩm Mỹ (FDA) khuyến cáo phụ nữ không nên ăn quá 12 aoxơ (340 gam cá/tuần, hạn chế hoặc tránh ăn cá biển lớn như cá kiếm, cá mập... Đây là các loài cá có chứa thủy ngân cao, thậm chí cả cá hồi nuôi cũng có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao làm tăng rủi ro khuyết tật khi sinh, đặc biệt là hợp chất PCB.

    Năm 2007 tại Anh người ta kết thúc một nghiên cứu ở trên 12000 trẻ em vì phát hiện thấy nếu phụ nữ khi mang thai ăn nhiều cá sẽ sinh trẻ thông minh, nhất là kỹ năng giao tiếp xã hội. Lý do, cá chứa nhiều axit béo omega-3, tuy nhiên phải là những loại cá không có chứa các chất nhiễm độc. Vì lý do này người ta khuyến cáo phụ nữ có thể dùng các nguồn thực phẩm khác giàu mỡ omega-3 thay thế, như hạt lanh, các loại thực phẩm dạng hạt, đậu nành, trứng, thực phẩm tăng cường omega-3, dầu thực vật và cả phương án dùng thuốc bổ.



    Trong giai đoạn mang thai phụ nữ không nên ăn các loại thực phẩm nhiễm khuẩn listeria, thủ phạm làm gia tăng nguy cơ sảy thai, sinh con thiếu, dị tật bẩm sinh hoặc các loại bệnh có liên quan đến bào thai. Theo FDA những loại thực phẩm sau nên tránh:

    - Sữa, bơ chưa tiệt trùng

    - Bơ, thịt đông lạnh

    - Hải sản hun khói đông lạnh

    - Các loại thịt, trứng, cá tiết canh, nem, chạo... sống.

    2. Bí ẩn tăng cân ở phụ nữ khi mang thai

    Cho đến nay chưa ai khẳng định chính xác phụ nữ mang thai phải ăn thêm bao nhiêu, mặc dù nhiều người cho rằng ăn cho hai người. Theo nghiên cứu của NYU thì trung bình phụ nữ khi mang thai cần thêm khoảng 300 calo/ngày để duy trì trọng lượng ở mức thích hợp. Nếu đã dư thừa trọng lượng thì khi mang thai không cần bổ sung thêm calo mà chỉ nên ăn ở mức trung bình, nên cắt giảm thực phẩm ăn nhanh và chuyển sang dùng các thực đơn có lợi. Nhóm người này khi mang thai không được tăng quá 15 cân Anh (6,8 kg) để hạn chế rủi ro khi sinh, kể cả việc cho ra đời những đứa trẻ quá mập hoặc quá yếu. Ngược lại những người nhẹ cân khi mang thai cũng không nên dùng quá 300 calo/ngày.

    3. Bí ẩn về việc dùng rượu, bia, cà phê ở phụ nữ khi mang thai

    Phải nói ngay rằng rượu, bia, cà phê, chè là những thứ cay đắng nhưng lại có nhiều người nghiện, kể cả phụ nữ nhưng đây là những chất gây bất lợi cho sức khoẻ phụ nữ khi mang thai, nhất là rủi ro gây hội chứng ngộ độc cồn bào thai, thủ phạm làm tăng bệnh suy giảm trí tuệ ở trẻ nhỏ. Đối với cà phê, phụ nữ không được dùng quá 200 mg caffein/ngày, tương đương 12 aoxơ (340 gam) cà phê hoặc 30 aoxơ chè (850 gam) nếu quá mức này sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai. Nếu dùng 2 tách (450 gam) nhất là phụ nữ khoẻ mạnh được xem là an toàn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nhi khoa thì nên bỏ hẳn, nếu có dùng thì thời gian nên cách xa nhau.

    4. Các yếu tố về lối sống

    Không chỉ có ăn uống mà lối sống cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ phụ nữ mang thai và theo nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Texas Mỹ thì cần chú ý tới một số vấn đề sau có thể làm tăng rủi ro khác cho sản phụ:

    - Hạn chế sử dụng lò vi sóng thời gian mang thai.

    - Không nên sử dụng máy vi tính quá nhiều, nhất là ngồi trước màn hình LCD hoặc màn hình ống tia cathod, hoặc đánh máy quá lâu có thể làm gia tăng căn bệnh tên là hội chứng đau khuỷu tay (carpal tunnel syndrome).

    - Du lịch bằng máy bay: Phơi ra môi trường tia X ở các trạm kiểm tra an ninh, mệt mỏi khi bay ở độ cao, áp lực lớn, thậm chí có thể gây sảy thai, nhất là những chuyến bay dài do mắc căn bệnh tụ máu chân do ngồi quá lâu.

    - Động vật cảnh: Tránh xa động vật cảnh ví như mèo, có thể lan truyền ký sinh tùng toxoplasma, nên thường xuyên rửa tay sạch sẽ khi phải tiếp xúc với những con vật nuôi trong gia đình.

    - Thuốc nhuộm tóc: Khi mang thai, phụ nữ không nên nhuộm tóc, nhất là 3 tháng đầu vì những loại hoá chất có trong thuốc nhuộm ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai, tăng rủi ro mắc bệnh về thị lực nhất là bệnh đục thủy tinh thể.

    - Thuốc nhuộm móng tay: Hoá chất nguy hiểm nhất trong thuốc nhuộm là phthatales có thể gây ảnh hưởng làm gián đoạn andicrine đến hoóc-môn giới tính vì vậy nếu tiếp xúc hoặc dùng thuốc nhuộm móng tay, xịt tóc, thuốc khử mùi thì rủi ro mắc bệnh khuyết tật có liên quan đến giới tính cao nhất.

    - Mỹ phẩm, đặc biệt là loại thuốc uống có tên Accutane dùng chữa trứng cá có thể làm gia tăng bệnh khuyết tật khi sinh.

    - Thuốc lá: Thuốc lá không chỉ có hại cho bản thân người hút, cho môi trường xung quanh mà còn rất hại cho đứa trẻ tương lai, làm tăng rủi ro sinh thiếu tháng, nhẹ cân và các chứng bệnh nan y khác kể cả bệnh tàn tật thiểu năng, bệnh động kinh chậm lớn và trí tuệ kém phát triển.

    BACSI.com
     
  12. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    U nang buồng trứng: ảnh hưởng đến mang thai?

    U nang buồng trứng là một khối dạng túi chứa đầy dịch nhầy hay tóc, sụn xương, mô não… nằm trong hoặc bên trên của một hoặc hai buồng trứng. U nang chiếm 20% tổng số các bệnh phải phẫu thuật, tuy nhiên lại không ảnh hưởng nhiều đến khả năng mang thai nếu đó không phải là u ác tính.


    Bác sĩ Bùi Chí Thương, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ cho biết:

    “Trước khi được phát hiện và phẫu thuật, u nang cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiếm muộn. Nguyên nhân do khối u phát triển dẫn đến kích thước ngày càng lớn gây chèn ép trên đường dẫn khiến tinh trùng không thể gặp trứng để thụ tinh. Tuy nhiên, phương pháp phẫu thuật hiện đại (bằng phương pháp nội soi hoặc mổ hở) chỉ can thiệp bóc các mô bệnh và chừa lại mô lành nên không ảnh hưởng nhiều đến khả năng mang thai.

    Cũng có vài trường hợp là u ác tính buộc phải cắt bỏ cả mô lành, nhưng trước khi quyết định bao giờ các bác sĩ cũng cân nhắc đến tình trạng hôn nhân và khả năng sinh con của bệnh nhân. Nếu đã quá tuổi mãn kinh hoặc đã lập gia đình và không có nhu cầu sinh thêm con thường chủ trương cắt bỏ để tránh tái phát”.

    Về khả năng tái phát sau phẫu thuật, bác sĩ cũng cho biết thêm: “Trong các dạng của u nang, u lạc nội mạc tử cung là dạng nguy hiểm nhất. Nguyên nhân sinh ra u lạc là do máu kinh của mỗi kì kinh bị trào ngược trở lại, bám trên thành tử cung hoặc buồng trứng lâu ngày tích tụ thành khối u. U lạc khó phát hiện vì u thường phồng lên lúc bắt đầu kì kinh và xẹp xuống khi hết kì kinh. Vì rất dễ tái phát nên trong giai đoạn hậu phẫu, bác sĩ cũng chỉ định dùng những loại thuốc đặc trị cho bệnh nhân u lạc. Những bệnh nhân trẻ tuổi nếu chẳng may bị u lạc nội mạc tử cung, cần theo dõi và khám định kì thường xuyên.

    Với trường hợp bị cắt bỏ cả hai buồng trứng (kết hợp triệt sản hoặc cắt bỏ tránh di căn…) giai đoạn mãn kinh sẽ đến sớm hơn, nội tiết tố giảm cũng hạn chế sự ham muốn chuyện gối chăn. Ngoài ra, khi đến tuổi mãn kinh, họ có khả năng sẽ mắc một số bệnh: loãng xương, tim mạch, da dẻ kém tươi… nên kết hợp chế độ ăn uống đầy đủ dưỡng chất và tập thể dục đều đặn”.

    BACSI.com
     
  13. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Đề phòng nhiễm khuẩn khi mang thai

    Listeriosis là chứng nhiễm khuẩn hiếm gặp do vi khuẩn Listeria gây ra. Trẻ sơ sinh và phụ nữ có thai là những đối tượng có nguy cơ cao mắc phải chứng này, theo HealthDay.


    Thai phụ bị mắc Listeriosis sẽ gặp các triệu chứng như sốt cao, đau nhức, tiêu chảy và buồn nôn, đặc biệt nguy hiểm là chứng này có thể gây sẩy thai hoặc sinh non. Để phòng chống nhiễm khuẩn Listeria, HealthDay dẫn thông tin từ Bộ Nông nghiệp Mỹ khuyến cáo thai phụ không nên ăn thịt nguội, paté, các loại thịt và hải sản xông khói và các món gỏi. Không nên uống sữa tươi chưa qua xử lý và chỉ ăn các loại bơ và phô-mai làm từ sữa tiệt trùng.

    BACSI.com
     
  14. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Những lưu ý trước khi mang thai

    Các chuyên gia thuộc trường Cao đẳng sinh sản Mỹ đã đưa ra lời khuyên sau dành cho những phụ nữ nào chuẩn bị mang thai, theo trang tin healthday.com.


    Đó là: 1. Lên kế hoạch đi bác sĩ khám để hỏi thăm tình hình sức khỏe của bản thân cũng như để nhận biết một số mối nguy hiểm tiềm tàng; 2. Có chế độ ăn uống khỏe mạnh và thường xuyên tập thể dục; 3. Bảo đảm rằng bạn không quá thừa cân; 4. Uống vitamin có chứa a-xít folic; 5. Tránh dùng chất cồn, thuốc lá; 6. Nếu bạn đang gặp một số rắc rối về sức khỏe (như tiểu đường hoặc bị huyết áp cao), cố gắng kiểm soát chúng trước khi mang thai. Nhớ hỏi bác sĩ việc kiểm soát bệnh sẽ thay đổi như thế nào trong suốt thời gian mang thai.

    BACSI.com
     
  15. suckhoe

    suckhoe Banned

    Tham gia:
    27/8/2009
    Bài viết:
    61
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Nguy cơ do tiền sản giật

    Tiền sản giật là một bệnh nặng khi mang thai, có thể gây sản giật với diễn biến nặng như hôn mê, đột quỵ, phù phổi cấp, nếu không điều trị kịp thời có thể tử vong mẹ và con. Tiền sản giật có liên quan đến những bất thường của sự tự điều chỉnh tuần hoàn não, làm tăng nguy cơ đột quỵ khi chỉ số huyết áp gần như bình thường. Có khoảng 5-7% phụ nữ có thai mắc tiền sản giật.

    Nguyên nhân gây tiền sản giật



    Quản lý thai nghén là biện pháp tốt để phòng tránh tiền sản giật.

    Có nhiều nguyên nhân gây tiền sản giật như: những thai phụ bị nhiễm độc thai nghén, tăng huyết áp, các bệnh thận mạn tính, rối loạn tâm thần và nội tiết, con so, sinh đôi và đa thai, đái tháo đường, tiền sử bệnh thận hoặc tăng huyết áp mạn tính, tiền sử đã mắc tiền sản giật, thai phụ cao tuổi (trên 35) hoặc quá thấp (dưới 16 tuổi), béo phì, đột biến do yếu tố V Leiden, gen angiotensinogen T235, hội chứng kháng thể kháng phospholipid, do thời tiết giá rét, ẩm ướt...

    Biểu hiện tiền sản giật như thế nào?

    Tiền sản giật gồm các rối loạn: tăng huyết áp và protein niệu kèm theo các rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương như đau đầu, nhìn mờ, cơn co giật, hôn mê. Tiền sản giật nhẹ có protein niệu khoảng 1-2g, phù nhiều, tăng cân lên chừng 3-4 kg, tiểu ít, huyết áp lên tới 170/100mmHg, nhức đầu. Thai phụ bị tiền sản giật nhẹ khi được chẩn đoán bị tăng huyết áp, protein niệu và phù trở lại mà không có bằng chứng tiền sản giật nặng. Nếu không chữa trị khẩn trương có thể tiến triển thành tiền sản giật nặng. Tiền sản giật nặng protein niệu 2-3g hay cao hơn, phù nhiều, thai phụ tăng hàng chục kg, huyết áp tăng cao, có khi đến 190/100 mmHg, tiểu ít, nhức đầu nhiều nhưng uống thuốc gì cũng không đỡ; mờ mắt, phù võng mạc hay xuất huyết võng mạc; toàn thân mệt mỏi, hốt hoảng, bơ phờ... Hậu quả là tổn thương nội mô của nhiều cơ quan. Nếu protein niệu cao hơn 5g/24 giờ, thiểu niệu hay suy thận, phù phổi, tổn thương tế bào gan, giảm tiểu cầu dưới 1000.000/microlit hay đông máu nội mạch lan tỏa; có biểu hiện của hội chứng HELLP bao gồm: tan huyết, men gan tăng, tiểu cầu thấp là một dạng đặc biệt của tiền sản giật nặng, đây là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh và tử vong của tiền sản giật.

    Chữa trị và phòng bệnh tiền sản giật

    Thai phụ bị tiền sản giật sẽ phục hồi trong vòng vài tuần sau khi sinh. Trường hợp bị tiền sản giật khi tuổi thai nhỏ hơn 37 tuần, nếu để người mẹ sinh có thể giảm tỷ lệ bệnh của mẹ nhưng gây nguy cơ sinh non cho thai. Điều trị tiền sản giật đòi hỏi thầy thuốc phải cân nhắc giữa sức khỏe của mẹ và của thai, phải quyết định sao cho có cơ hội tốt nhất cho thai nhi còn sống. Đối với thai phụ bị tiền sản giật nhẹ có thể xử lý: cho nằm nghỉ, theo dõi chặt chẽ huyết áp và chức năng thận, theo dõi sát sức khỏe thai nhi. Những trường hợp thai phụ bị tiền sản giật nặng, nếu thai trên 32 tuần tuổi thì nên cho sinh sớm. Điều trị tiền sản giật nặng khi thai còn xa kỳ sinh có thể có lợi cho thai nhi nhưng gây nguy cơ cao cho thai phụ. Khi đó nên quản lý thai phụ ở các trung tâm chăm sóc chuyên khoa tuyến tỉnh, nơi có bác sĩ chuyên khoa sản chăm sóc cho mẹ và thai, có đủ điều kiện xử trí các tai biến.

    Đối với thai phụ bị tiền sản giật nặng, phải điều trị tích cực chứng tăng huyết áp để làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não.

    Có thể dùng Labelatol hay hydralazin truyền tĩnh mạch là hai thứ thuốc thường dùng nhất để xử lý tiền sản giật. Cũng có thể dùng thuốc chẹn kênh canxi. Tuân thủ nguyên tắc là giảm huyết áp động mạch từ từ để tránh giảm huyết áp và giảm lượng máu đến thai. Tránh dùng những chất ức chế men chuyển angiotensin cũng như những chất chẹn thụ thể angiotensin trong ba tháng giữa và ba tháng cuối của thai kỳ vì ảnh hưởng có hại cho sự phát triển của thai nhi. Thai phụ điều trị bằng những chất ức chế men chuyển angiotensin thường bị ít dịch ối, có lẽ là do giảm chức năng thận của thai nhi.

    Để điều trị và phòng ngừa cơn sản giật có thể dùng magiê sunphat vì hiệu quả tốt hơn hẳn phenitoin và diazepam. Magiê có thể ngừa cơn sản giật bằng cách tương tác với các thụ thể N-Methyl-D-asparate (NMDA) trong hệ thần kinh trung ương. Do khó dự đoán được cơn sản giật trong những ca bệnh nặng nên khi đã quyết định cho sinh thì tất cả thai phụ đã chẩn đoán tiền sản giật nên được điều trị bằng magiê sunphat.

    Quản lý thai nghén tốt, phát hiện và điều trị tích cực các trường hợp tiền sản giật là cách tốt nhất để ngăn chặn bệnh tiến triển thành sản giật, hạn chế tai biến năng cho cả mẹ và thai nhi.

    BS. Phạm Văn Thân

    BACSI.com
     

Chia sẻ trang này