CAVIAR - Trứng cá đen: đặc sản thượng hạng xa hoa Trứng cá đen (caviar) là một loại thực phẩm cao cấp đầy bí ẩn và đặc biệt là vô cùng bổ dưỡng. Kết hợp món trứng cá đen với một chai sâm panh hảo hạng trong một chuyến dạo chơi tới vùng nông thôn nước Pháp trên chiếc Rolls và Royce, đó quả thật là tiêu chuẩn để tận hưởng cuộc sống xa hoa. Caviar là biểu tượng của sự sang trọng, còn được gọi là viên ngọc đen, chứng tỏ sự giàu có và thành đạt. Theo những chuyên gia kinh tế thì hơn 95% dân số của thế giới không có điều kiện để thử trứng cá đen dù chỉ 1 lần trong đời. Con số này có thể tăng cao hơn nữa vì cá tầm thiên nhiên dần dần sẽ trở thành động vật bị tuyệt chủng. Cá tầm thường sinh sống ở ngoài biển khơi nhưng khi đến thời gian sinh nở thì chúng lại bơi về vùng sông có nước ngọt, vì thế cá tầm có thể sống ở cả vùng nước ngọt và nước mặn. Trứng cá đen được bán trên toàn thế giới như một loại thực phẩm quý giá. Nó có thể là một món ăn bày biện trang trí trên bàn ăn hay để ăn kèm với các món khác. Ở phương Tây, do được bán với giá cao, trứng cá đen đồng nghĩa với sự xa hoa và giàu có. Tuy nhiên, ở Nga và một số nền văn hoá phương Đông, mặc dù đắt, trứng cá đen vẫn được sử dụng phổ biến trong các buổi yến tiệc, đám cưới và các sự kiện quan trọng khác. Trứng cá đen là một bọc trứng cá đã được loại bỏ chuỗi chất béo, màng ngoài và được làm mặn nhẹ với muối không chứa Iốt. Đây là phương pháp bảo quản và xử lí có từ lâu đời nhưng ngày nay vẫn đạt hiệu quả tốt. Tuy nhiên, không phải tất cả bọc trứng đều thích hợp để trở thành trứng cá đen. Theo hầu hết các nghiên cứu và những người theo chủ nghĩa thuần tuý, trứng cá đen thực sự được hình thành từ cá tầm. Caviar là từ chỉ được sử dụng trong thương mại cho sản phẩm làm từ buồng trứng của các loài cá tầm. Thông thường thì định nghĩa Caviar được sử dụng cho trứng cá tầm có giống từ biển Caspian, nhưng tuỳ thuộc vào luật pháp của từng nước trên thế giới thì Caviar còn được sử dụng để mô tả các sản phẩm có giá trị thấp hơn nhiều so với trứng cá đen: ví dụ như trứng cá hồi (trứng cáđỏ), trứng cá vây tròn, trứng cua… Nhưng dựa trên đánh giá của FAO (tổ chức lương thực thế giới) thì bất kỳ loại trứng nào không phải là trứng của loài cá tầm thì không được gọi là Caviar mà phải gọi là “trứng thay thế cho Caviar”. Ý kiến này được ủng hộ bởi CITES (Cơ quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp), WWF (Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên), USCS ( Sở quan thuế Hoa Kỳ), Cộng hoà Pháp. Cá tầm nặng nhất có thể tới hơn 3000 pound nhưng thường trung bình chỉ 60 pound. Cả thịt và trứng cá đều rất ngon. Trứng cá đen tốt nhất được hình thành từ những loại cá tầm khác nhau như cá tầm trắng, cá tầm Nga, cá tầm Sevruga. (https://www.facebook.com/pages/Ẩm-thực-là-cuộc-sống/155871827946950)
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Tacos - sandwich lâu đời của người Mexico Tacos được những người Châu Âu đầu tiên trong những cuộc viễn chinh đã khám phá và du nhập khắp Nam Mỹ, Châu Âu, Trung Đông và Châu Á. Giống với sandwich, tacos được tạo nên bằng nhiều loại thức ăn đã được chuẩn bị theo những cách khác nhau và có thể ăn tacos như một món khai vị hoặc bữa ăn nhẹ. Trong một chiếc Tacos, bánh tráng sẽ được rán qua để mềm và gấp cùng với nhân. Nhân bánh được làm từ thịt bò, thịt heo, cá, thịt gà, nước sốt cà chua, nấm, ớt …tất cả sẽ được nướng (hoặc hấp) cùng. Người thưởng thức có thể thay đổi thành phần của nhân để phù hợp với khẩu vị và cách chế biến. Món ăn này đậm chất Mexico không chỉ ở vỏ bánh tráng bằng bột ngô mà còn vì vị ớt được ăn kèm với bánh và nước sốt. Màu sắc của nhân chính là từ những loại thức ăn trong đó, có thể thưởng thức một chiếc tacos thịt và nước sốt thơm ngon ngầy ngậy hoặc một chiếc tacos với thành phần chính là rau xanh kèm theo một chút thịt nướng, tất cả tùy thuộc vào khẩu vị yêu thích của bạn. Trong tất cả các món ăn đường phố của Mexico, khi bóng tối bắt đầu bao trùm thì tacos được coi là sự lựa chọn số 1 bởi hương vị hấp dẫn từ những nguyên liệu được rán, nướng và hấp của món ăn. Sau bữa chính, nhiều người lựa chọn tocas như một cena (bữa tối nhẹ) được bán trong những quầy bán hàng di động cho đến nửa đêm tại các thành phố lớn. Vào cuối tuần các vũ trường và câu lạc bộ mở cửa đến tận gần sáng và tocas là món ăn nhanh cho những người vui chơi thâu đêm Từ những năm đầu của thế kỷ 20, đã có rất nhiều loại tacos được phổ biến tại Mỹ -Canada và xuất hiện trong những cuốn sách nấu ăn vào năm 1949. Ngoài ra tacos còn được bày bán trong những hệ thống bán đồ thức ăn nhanh như Taco Bell,Taco Del Mar,Mighty Taco…và các nhà hàng fastfood như Burger King và Jack in the Box của người Mexico tại đây. Một số loại tacos được ưa chuộng tại Mỹ như: Taco al Pastor (đây là loại tacos phổ biến nhất tại Mexico) nguyên liệu chính của là thịt lợn được ướp gia vị đã được cắt xén nhỏ và được xiên qua và nướng trên lửa. Đây được coi là món ăn phỏng theo món thịt nướng từ những người nhập cư Li Băng, hay như món Breakfast Tacos luôn có sẵn trong các quán ăn nhà hàng dọc theo Southwest- đặc biệt là ở New Mexico và Texas- nhân của breakfast tacos là từ thịt được tẩm gia vị, trứng hay pho mát và những thành phần khác như củ hành… Từ một món ăn truyền thống lâu đời, giờ đây cái tên Tacos được khắp các châu lục biết đến nhờ sự bùng nổ của các món thức ăn nhanh trên thế giới. Tacos đã trở thành thương hiệu riêng trong ẩm thực Mexico. Vậy hôm nay bạn chờ gì mà không thử thưởng thức hương vị Mexico qua món Tacos tự làm này, phần vỏ bánh có rất nhiều hình dạng khác nhau nhưng về mùi vị và thành phần thì không hề thay đổi. Bạn hãy tham khảo cách làm dưới đây nhé: Nguyên liệu bạn cần: là thịt bò băm, vỏ bánh (tortilla, thường là hình như vỏ sò, làm từ bột ngô), cà chua tươi thái hạt lựu hoặc sốt cà chua, hành hoa thái nhỏ, hành tây thái lát, pho mát bào, rau xà lách (nên chọn loại xà lách bắp cải ăn sẽ giòn và ngọt hơn), có thể dùng thêm quả bơ thái thật nhỏ hoặc nghiền ra; và quan trọng nhất là một gói gia vị Taco đặc biệt (Sachet Taco Seasoning). Cách làm rất nhanh và đơn giản: Bạn cho thịt bò băm vào chảo xào cho chín tới. Cho thêm một cốc nước vào đun tiếp rồi cho gói gia vị Taco đặc biệt vào đảo cho thật ngấm. Tiếp tục đun cho đến khi nước cạn bớt và hỗn hợp đặc lại sền sệt là được. Tiếp theo bạn lấy vỏ bánh ra khỏi túi, cho rau xà lách thái nhỏ, hành tây, hành hoa, pho mát bào vào, cho tiếp thịt bò băm lên rồi đến sốt cà chua và quả bơ thái nhỏ lên trên cùng. Và thế là bữa tiệc gia đình theo phong cách Mexico có thể bắt đầu rồi. Chúc các bạn vui vẻ (https://www.facebook.com/photo.php?...369.1073741828.155871827946950&type=1&theater)
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Gan ngỗng - tự hào của ẩm thực Pháp Không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp cổ kính tráng lệ và các nhãn hiệu thời trang hàng đầu, nước Pháp còn được biết đến như là nơi có nền ẩm thực đặc sắc, phong phú. Nhắc đến truyền thống ẩm thực của mình, người Pháp tự hào giới thiệu với thế giới món gan ngỗng béo có một không hai. Món gan ngỗng của Pháp hầu như chỉ hiện diện ở những nhà hàng cao cấp đạt chuẩn quốc tế, bởi không phải nhà hàng nào cũng có thể phục vụ được món ăn trứ danh này. Đây không chỉ là một món ăn thơm ngon mà còn cung cấp nhiều protein, có thể sánh ngang với các loại nổi tiếng bổ dưỡng như yến sào hay lộc nhung hươu nai. Gan ngỗng béo (tiếng Pháp: le foie gras) là phần gan lớn quá cỡ của vịt hoặc ngỗng đã được vỗ béo đặc biệt bằng ngô hoặc các loại ngũ cốc khác. Người ta nuôi vịt, ngỗng ở trang trại theo một chế độ nghiêm ngặt, đặc biệt là giai đoạn cho ăn vỗ béo trong hai tuần vào tháng thứ ba, nhờ đó, gan sẽ sản sinh ra mỡ. Gan ngỗng nổi tiếng nhất được sản xuất ở vùng Périgord – tây nam nước Pháp. Theo các tài liệu nghiên cứu, món ăn đặc biệt này đã có mặt trong bữa ăn của người dân Ai Cập cổ đại từ cách đây hơn 4500 năm. Món ăn này sau đó được Christopher Colombus giới thiệu sang châu Âu vào thế kỷ XV và nhanh chóng trở thành cao lương mỹ vị trong giới quí tộc thời trước. Đến thế kỷ XIX, gan ngỗng béo của Pháp trở nên rất nổi tiếng nhờ vào công nghệ đông lạnh và các kênh phân phối rộng rãi. Từ đó, gan ngỗng béo trở thành một phần không thể tách rời của di sản văn hoá và ẩm thực Pháp. Gan ngỗng thường được biết đến với món pate danh tiếng. Nhưng nếu có dịp thử qua gan ngỗng tươi áp chảo thì bạn mới thấy hết hương vị tuyệt hảo của món ăn được mệnh danh là “hổ phách nâu” này. Vì gan ngỗng béo tự thân đã là một thực phẩm thượng hạng, nên khi chế biến, việc thêm vào bất cứ loại nguyên liệu nào khác cũng phải được tính toán cẩn thận. Thông thường, người đầu bếp chỉ rắc thêm chút muối, tiêu, rau mùi có hương thơm nhẹ và chiên áp chảo cùng chút r*** ngon như cognac, armagnac. Miếng gan được áp chảo đúng độ lửa có màu vàng sậm, lớp bao ngoài hơi giòn nhưng bên trong vẫn mềm mại, béo ngậy, như tự tan ra khi đầu lưỡi khẽ chạm vào. Ăn gan ngỗng cũng có những quy tắc phức tạp để xứng với “tầm vóc” của một món ăn thượng hạng. Gan phải được giữ lạnh cho đến trước giờ áp chảo, sau đó được cắt bằng dao nhúng nước nóng và mỗi khẩu phần không quá 50-70g. Món gan ngỗng áp chảo thường dùng kèm với bánh mì cắt lát. Ngon nhất là loại bánh mì đặc ruột, nướng qua để lớp mặt se lại, bánh có độ giòn nhẹ nhưng không cứng, phần ruột vẫn xốp mềm.Thức uống đi kèm với gan ngỗng nên là một loại r*** champagne hoặc vang trắng nhẹ. Bạn sẽ cảm nhận mùi thơm và vị của gan ngỗng ngay trên đầu lưỡi. Vị của gan ngỗng không gắt, không hăng, một vị béo nhẹ phảng phất không để lại cảm giác ngấy. Khẽ hớp một ngụm r*** Sauterne ướp lạnh, bạn có cảm giác mình đang thưởng thức cả bản giao hưởng của hương vị vấn vương nơi đầu lưỡi. Thoạt nghe gan ngỗng béo người ta nhầm tưởng nó rất nhiều chất béo và năng lượng, thế nhưng theo phân tích của các nhà dinh dưỡng thì gan béo chứa nhiều acid béo không bão hòa, và được khuyên dùng trong thực đơn của chúng ta bởi nó có thể hạ tỷ lệ cholesterol xấu. Các vùng tiêu thụ nhiều gan béo, mỡ vịt và trái cây ngâm giấm là những nơi có tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch thấp hơn những vùng khác. Phải chăng đây chính là “bí quyết sống lâu” của những người dân vùng tây nam nước Pháp! (https://www.facebook.com/photo.php?...369.1073741828.155871827946950&type=1&theater)
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Đậu phụ thối Trung hoa: Thối mà ngon ! Không phải những món ăn cầu kỳ, đắt tiền và sang trọng mới hấp dẫn mà đôi khi chính những món dân dã, bình dị lại góp phần tạo nét chấm phá cho bức tranh ẩm thực của mỗi quốc gia. Điểm qua những món ăn nổi tiếng của Trung Hoa, không thể không nhắc đến một món ăn đậm chất văn hóa ẩm thực bình dân của đất nước này, đó là đậu phụ thối ( đậu hũ thối). Người Trung Quốc thích ăn đậu phụ để lên men có mùi thum thủm gọi là đậu hủ. Một thứ đậu phụ khác để lên men lâu hơn, nặng mùi hơn, người Trung Quốc gọi là đậu phụ thối hay đậu hũ thối. Đậu hũ thối tẩm gia vị cay nướng là món ăn rất hay xuất hiện trong phim ảnh Trung Hoa như một cách quảng bá sự độc đáo trong văn hóa ẩm thực của đất nước này. Tương truyền vào đời vua Khang Hy, có một thư sinh nghèo đi thi mấy lần vẫn không đỗ đạt. Lộ phí đã cạn, anh không thể về nhà và phải ở lại kinh thành chờ kỳ thi năm sau. Để mưu sinh, anh quyết định làm đậu hũ bán. Khi mùa hạ tới, đậu hũ bị ế nhiều khiến anh vô cùng lo lắng. Anh chợt nảy ra ý định cắt nhỏ đậu hũ, cho vào một cái chum và ướp muối. Thật bất ngờ, vài ngày sau mở ra thấy đậu hũ tỏa một mùi vị khó tả, sau khi mạnh dạn nếm thử anh cảm thấy rất ngon và bắt đầu mang loại đậu hũ đặc biệt đó ra bán. Kể từ đó đậu hũ thối được lan truyền rộng rãi. Ngày nay, đậu hũ thối đã trở thành món ăn gây nghiện cho rất nhiều người. Nó được so sánh với fphomat xanh (blue cheese) của phương Tây. Đối với những người nghiện đậu hũ thối thì mùi hương này lại là tiêu chuẩn đánh giá mức độ ngon của món ăn: càng nặng mùi càng ngon. Một tên gọi, trăm cách chế biến, ở mỗi vùng miền, đậu hũ thối lại có biến thể khác nhau. Chỉ nói chuyện màu sắc, tại Triết Giang người ta chiên vàng đậu hũ thối, còn ở Hồ Nam đậu hũ thối có màu đen. Bí quyết của các cửa tiệm đậu hũ thối nổi tiếng nhất Trường Sa là chọn đậu nành thật tốt, làm ra thứ đậu hũ mềm, mịn tuyệt hảo, ủ với nước cốt được chế biến từ măng tre, nấm đen... trong sáu tháng, rồi vớt ra để ngoài không khí trong sáu giờ (nếu vào mùa hè) và hai ngày (nếu vào mùa đông) cho tới khi đậu hũ nổi mốc và chuyển thành màu xám. Sau đó, người ta rửa sạch đậu hũ bằng nước tinh khiết, để khô tự nhiên và bắt đầu mang ra bán. Thứ đậu hũ "thiên hạ đệ nhất thối" này được chiên ngập trong chảo dầu và dùng kèm với nước tương (được hâm nóng) và cải bắp muối. Tại Hong Kong, đậu hũ thối là món ăn khoái khẩu của nhiều người, tương tự như bong bóng cá và philê bò. Người Hong Kong thích thưởng thức đậu hũ thối theo phong cách đường phố với cách chế biến khá đơn giản, chỉ cần chiên giòn và rưới 2-3 loại tương lên, rồi vừa đi dạo vừa ăn. Đậu hũ thối ở đây được bán theo xiên, bỏ vào túi giấy tiện lợi. Trong khi đó tại Đài Loan, đậu hũ thối được coi là một đặc sản bình dân, có thể tìm thấy dễ dàng ở quán lề đường hoặc chợ đêm, được chiên giòn (ăn kèm với các loại tương và rau cải muối chua), nướng hoặc cắt nhỏ làm nguyên liệu cho một số món ăn Tứ Xuyên. Đài Loan còn là "quê hương" của loại đậu hũ thối chay nổi tiếng, với thành phần đậu hũ ủ với nước cốt gồm lá mù tạt tươi, măng tre và hơn 10 loại thảo dược Trung Quốc. Tuy là một món ăn nặng mùi, và không phải ai cũng có thể thưởng thức dễ dàng, nhưng đậu phụ thối là món ăn bình dân độc đáo có một không hai của Trung Quốc. (diadiemanuong.com)
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Các món xôi ngọt trứ danh của Thái Lan Xứ sở Chùa Vàng không chỉ nổi tiếng bởi các món mặn với hương vị cay xè nóng hổi đặc trưng, ẩm thực Thái Lan còn sở hữu mảng đồ ngọt vô cùng đặc sắc. Ngoài những món chè trứ danh, hãy cùng xem thử những món xôi ngọt vô cùng hấp dẫn trên đất Thái nữa nhé! Xôi ngọt ở Thái là sự kết hợp hoàn hảo của những nguyên liệu quen thuộc của ẩm thực nước này: nếp, nước cốt dừa và các loại trái cây nhiệt đới ngọt ngào, bắt mắt. Với người Thái, xôi nói riêng và các món làm từ gạo nếp nói chung luôn đóng một vai trò quan trọng trong bữa ăn hàng ngày. Xôi cùng với cơm gạo tẻ là nguồn cung cấp bột chính yếu trong bữa ăn ở Thái Lan, giống như cơm ở Việt Nam chúng ta. Vì vậy, không lạ gì khi xôi ngọt trở thành món tráng miệng ưa thích của người Thái, thay vì bánh trái như ở các quốc gia khác. Mặt khác, là một đất nước nhiệt đới với phong phú các loại trái cây, món xôi Thái Lan thường có sự góp mặt của nước cốt dừa cùng các loại hoa quả xứ nóng quen thuộc như: xoài, sầu riêng, mít, chuối,... Vị bùi bùi của hạt nếp thơm kết hợp cùng cái béo ngậy của nước dừa, cái ngọt ngào của trái cây miền nhiệt đới đã tạo nên sự hấp dẫn đặc trưng cho món xôi ngọt Thái Lan. Xôi xoài Một trong những món xôi nổi tiếng nhất với khách du lịch chính là xôi xoài. Xôi xoài thơm ngon khó cưỡng nhờ phần xôi béo ngậy, ăn kèm từng lát xoài Thái Lan ngọt mát thơm lừng. Vị béo của xôi được tạo ra nhờ nước dừa và đậu đen, hai nguyên liệu này được đồ chung cùng với gạo nếp, khi dọn ra ăn thì bỏ xác đậu đen đi, thêm xoài và nước dừa nếu thích ăn ngọt. Có thể xem xôi xoài là sự hội tụ đầy đủ những màu sắc, hương vị đặc trưng của ẩm thực Thái Lan. Nếu có dịp tới Pattaya, đừng quên nếm thử món xôi thơm ngon và độc đáo này nhé! Xôi sầu riêng Về cơ bản xôi sầu riêng cũng có cách nấu giống như xôi xoài, nhưng thay vì đồ xôi cùng nước dừa và đậu đen, xôi sầu riêng được đồ cùng nước dừa và cơm sầu riêng. Đây là món xôi béo ngậy và ngọt ngào nhất của Thái Lan. Cũng nhờ nguyên liệu sầu riêng mà món xôi này có hương thơm cực kì hấp dẫn, kết hợp cùng chiếc áo vàng ươm và vị ngon ngọt khó quên, đây cũng là món xôi không thể không thử khi đến thăm xứ sở Chùa Vàng. Xôi mít Nếu như xôi xoài là món xôi đặc trưng nhất của Thái, xôi sầu riêng là món xôi ngọt ngào nhất của Thái, thì xôi mít ắt hẳn được xếp vào vị trí món xôi ngộ nghĩnh và đáng yêu nhất. Gạo nếp thơm được đồ cùng cốt dừa - giống như những loại xôi khác - song xôi được bỏ vào từng múi mít đã bỏ hạt, thêm chút mè đen hoặc vừng, đậu phộng... để trang trí, trông vô cùng vui nhộn và bắt mắt. Vị xôi béo và ngọt nhẹ nhàng, thoang thoảng mùi thơm từ lớp mít chín cây bao bọc bên ngoài. Xôi lá chuối Xôi lá chuối còn có tên gọi là Khao Tom Mad hoặc Khao Tom Mat. Đây là món xôi được chế biến cầu kì, cẩn thận, hương vị vì thế cũng rất tinh tế. Lá chuối phải chọn lá non, xanh bóng, bản rộng. Nếp cùng chuối chín, đậu đen đặt cẩn thận vào giữa lá, gói lại cho khéo và đem đi nấu. Người ta thường ví von Khao Tom Mad như "bánh chưng ngọt" vì cách chế biến này. Khác với các loại xôi trên, hầu như chỉ có một nguyên liệu trái cây làm điểm nhấn, thì xôi lá chuối là sự kết hợp hài hòa giữa rất nhiều hương vị thơm ngon khác nhau. Chỉ bằng những nguyên liệu rất gần gũi như hạt gạo nếp nấu xôi hàng ngày, những loại hoa quả có sẵn trên mảnh đất mình đang sống... Người Thái đã biến hóa thành hàng chục món xôi ngon ngọt hấp dẫn, tạo thành điểm nhấn khó quên trong lòng khách du lịch khi đến đây. Xôi ngọt Thái Lan như minh chứng cho chân lý giản dị của văn hóa ẩm thực: Không gì ấn tượng và độc đáo hơn chính những nguyên liệu quen thuộc quanh mình. (Theo Màn Ảnh Sân Khấu)
Ðề: Ẩm thực bốn phương. xem phim TQ công nhận hay thấy cái món đậu hũ thối e cứ tò mò mãi chả biết mùi vị thế nào
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Ở HN hình như không có món này, mình nghe nói mới đầu có mùi nhưng ăn rất ngậy và bùi
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Bánh mỳ Doner Kebap - từ Thổ Nhĩ Kỳ đi ra thế giới. Nhắc đến Doner kebap thì lập tức người ta hình dung ngay đến một xiên thịt thẳng đứng quay tròn, người ta nghe được cả tiếng mỡ đang cháy xèo xèo rất vui tai. Xuất hiện đầu tiên ở Thổ Nhĩ Kì và hiện món thịt nướng này đã trở thành món khoái khẩu ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Doner Kebap có nghĩa là gì? Doner Kebap không phải tên một loại bánh mì. Doner có nghĩa là quay, xoay. Kebap là thịt nướng. Doner kebap chính là một món thịt nướng đặc biệt bằng cách quay tròn trên một cái xiên thẳng đứng. Cách nướng này khiến cho tất cả phần thịt đều được nướng đều, chín cả trong và ngoài mà thịt không hề bị khô cháy. Cha đẻ của Doner Kebap là ai? Cha đẻ của món bánh mỳ Doner Kebap nổi tiếng khắp thế giới này là Mahmut Aygun, một người con của Thổ Nhĩ Kỳ nhưng sinh sống ở Đức. Theo đúng truyền thống, món thịt nướng quay tròn và gia vị được dùng với cơm. Tuy nhiên, trong một phút ngẫu hứng, ông Aygun đã nghĩ tới việc kẹp thịt vào bánh mỳ để mọi người có thể dễ dàng đem đồ ăn đi cùng với mình. Bánh mỳ doner kebab được bán lần đầu tiên vào ngày 2/3/1971 tại Hasir, cửa hàng của ông Aygun tại Berlin. Ông Aygun còn sáng tạo ra loại nước sốt không quá chua như sữa chua, không béo ngậy như sốt mayonaise mà khi ăn vào thấy mát, ngọt nhẹ dễ chịu để cho vào loại bánh này. Món Doner Kebab phổ biến nhất được làm từ thịt cừu và thịt bò, nhưng cũng có thể chế biến từ các nguyên liệu khác như: dê, mực, gà, cá hoặc cua, tôm. Theo luật lệ tôn giáo và văn hóa, những người theo đạo Hồi và người Do Thái thường không dùng thịt heo để làm món Doner Kebab, tuy nhiên có thể thấy món Kebab thịt heo ở các nước như Albania, Armenia, Bulgaria, Hy Lạp, Anh và Ấn Độ... Thổ Nhĩ Kỳ Doner Kebap ở Thổ Nhĩ Kì chủ yếu là bánh mì kẹp thịt cừu. Thịt cừu có mùi hơi nồng mà nếu không ăn quen thì có cảm giác khó chịu, tuy nhiên nó lại rất hợp với khẩu vị của người đạo Hồi ở đây. Ngoài ra người ta còn có thể kẹp với thịt gà nữa. Thịt nướng được ướp thơm lừng với rất nhiều loại gia vị đặc biệt chỉ có ở Thổ Nhĩ Kì. Chính vì thế mà Doner Kebap ở đây có một mùi vị rất đặc trưng mà không nơi nào bắt chước được. Thịt luôn luôn được để nguyên miếng và tẩm ướp kĩ càng. Ở các nhà hàng, món này được phục vụ như một món ăn chính. Người ta ăn món thịt nướng này với bánh mì ổ dẹt hoặc cơm rang thập cẩm kèm bơ. Có thêm những miếng khoai tây, hành và ớt xanh để bài trí trông rất hấp dẫn, bắt mắt. Còn khi phục vụ theo kiểu fastfood thì nó ăn kèm với sandwich, kẹp khoai tây, hành và rau diếp nhưng không trộn ướp gia vị. Và, đặc biệt nhất đó là những miếng thịt nướng này được gói trong một cái bánh làm từ nguyên liệu lúa mì cứng. Người ta gọi đó là Durum. Như vậy, từ những xiên thịt nướng người Thổ Nhĩ Kì đã sáng tạo ra khá nhiều món ăn, có thể là món ăn chính hay món ăn nhanh tuỳ theo loại nguyên liệu mà người ta chọn để ăn kèm. Đức Ở Đức, món thịt nướng xoay tròn này chỉ được gọi ngắn gọn là Doner nhưng nó phổ biến hơn cả humburgers và xúc xích, đặc biệt đối với teens. Giới trẻ Đức thường ăn Doner vào bữa trưa, tối và đêm muộn sau khi trở về từ các club. Salad gồm có rau diếp, cải bắp, hành, dưa chuột và khoai tây thái nhỏ. Điều đặc biệt ở Đức có đến bốn loại nước sốt để chọn lựa: nước sốt nóng, nước sốt thảo dược, nước sốt tỏi và sữa chua. So với Doner của Thổ Nhĩ Kì thì mùi vị của nó dễ ăn hơn vì vậy nó cũng dễ hợp khẩu vị với nhiều người hơn. Anh Doner kebap là một phần quan trọng của văn hóa ẩm thực đêm ở Anh. Người Anh thường ăn nó trên đường về nhà sau các buổi party đêm vì vậy, loại bánh này được bán rất chạy vào các đêm cuối tuần. Đây là món ăn khoái khẩu của những người dân nhập cư vào xứ sở sương mù. Vì thế Kebap ở đây thường là sự pha trộn của nhiều gia vị khác nhau để hợp khẩu vị với tất cả mọi người. Nước sốt ở đây vô cùng đa dạng: tương ớt và nước sốt sữa chua tỏi, nước sốt nóng, nước sốt của thịt nướng, nước chanh hoặc bạc hà… Pháp Tại Pháp, có rất nhiều cửa hàng Kebab với chủ cửa hiệu là người Thổ Nhĩ Kỳ nên món ăn này được chế biến tương tự ở Thổ Nhĩ Kỳ. Người ta thường dùng thịt bò thay cho thịt cừu, thêm gia vị là hành và rau diếp, dùng với những loại nước sốt như sốt blanche - làm từ sữa chua, gừng và thảo dược; sốt harissa ( là sốt gia vị đỏ có xuất xứ từ Bắc châu Phi). Bên cạnh thịt bò, người Pháp cũng có thể dùng thịt gà, cá và thay thế bánh mì Thổ Nhĩ Kỳ bằng bánh mì baguette. Nhật Bản Món Doner Kebab hiện rất phổ biến ở Tokyo. Ở quốc gia này, Doner Kebab được điều chỉnh gia vị để phù hợp với khẩu vị của người Nhật. Các loại salad đi kèm với món này là bắp cải và sốt mayonnaise. Ý Đến Ý bạn có thể dễ dàng tìm thấy món Doner Kabap bởi nó cũng rất nổi tiếng và được nhiều người Ma rốc nhập cư ưa thích. Nguyên liệu làm món này ở Ý gồm có thịt nướng, bắp cải, rau diếp, cà chua, hành, hạt tiêu, sữa chua, mayonnaise, xốt cà chua. Việt Nam Mới gia nhập làng ẩm thực Việt Nam trong vài năm gần đây nhưng Doner Kebap đã trở nên quá quen thuộc với người dân đặc biệt là các bạn trẻ. Doner Kebap đã được Việt hóa bằng cách thay thế thịt gà, thịt cừu bằng thịt lợn, hợp khẩu vị với người Việt Nam nhất. Có 2 loại bánh ăn kèm: Bánh dài và bánh tam giác. Bánh dài có vẻ được ưa chuộng nhiều hơn, bên ngoài phủ một lớp vừng thơm phức. Salad cũng khá là cầu kì: dưa chuột, cà chua, hành tây, bắp cải tím và hành tây trộn chua ngọt. Món thịt nướng được ướp cầu kì với một hỗn hợp thảo quả và gia vị đặc biệt. Ngoài ra, rau mùi tây khô là nguyên liệu đặc biệt tạo nên hương vị đặc trưng của thịt nướng. Dưới sự tài hoa, sáng tạo và tinh tế của những đầu bếp Doner kebap đã khoác lên mình những sắc màu, hương vị mới phù hợp hơn với khẩu vị của người Việt.
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Pizza “Tổ tiên” của chiếc Pizza bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ đồ đá, nó bắt nguồn từ những miếng bánh mỳ khô được nướng trên đá nóng còn sót lại từ các đám cháy. Sau đó, để tận dụng những thức ăn còn dư, con người đã để hết lên trên bề mặt bánh mỳ rồi ăn. Chính vì lý do này, người Ý đã coi pizza là món ăn tiết kiệm và cực kỳ thuận tiện, một “fast food” chính hiệu luôn! Rùi đến khoảng 3000 năm trước (từ thế kỉ thứ VI đến thế kỉ thứ I trước công nguyên), vào thời kỳ đỉnh cao của đế quốc Ba Tư, những người lính Darius trở nên cực kỳ ưa chuộng thứ bánh tiện dụng này trong những cuộc viễn chinh kéo dài. Lúc đó, pizza đơn giản chỉ là thứ bánh mỳ tròn, phẳng được phủ một lớp phô mai dày trên bề mặt mà thôi, người cầu kỳ thì cho thêm dầu ô liu, một vài loại thảo mộc hoặc cả mật ong nữa. Cuộc khai quật ở Pompeii đã tìm ra cuốn sách dạy nấu ăn cực kỳ tuyệt vời của Marcus Gavius Apicius. Trong đấy ghi lại công thức để tạo ra món ăn dành cho thời kỳ đói kém. Và đó chính là thứ bánh mỳ phẳng có lớp bề mặt là thịt gà thái nhỏ, pho mát, tỏi, bạc hà, tiêu và dầu ăn (cũng gần giống với những nguyên liệu của pizza thời kỳ hiện đại nhỉ?). Sau đó một thời gian, vào khoảng những năm 79 sau công nguyên, pizza đã nhanh chóng xuất hiện trong các quán ăn nhỏ ở Pompeii và cả ở Napolis. Đến nay, các nhà khảo cổ vẫn còn tìm thấy dấu tích của những cửa hàng pizza truyền thống trên những con phố nhỏ ở nơi đây. Và đến đây, nếu bạn tinh ý thì chắc đã nhận ra những nguyên liệu sơ khai của món pizza chưa hề có sự xuất hiện của cà chua đúng không? Đó là vì phải đến tận năm 1522, cà chua mới xuất hiện ở nơi đây. Và đặc biệt nữa là việc đưa cà chua vào món pizza lại do chính những người dân nghèo nhất nghĩ ra. Bởi lẽ mới đầu, những người giàu có coi cà chua là một thứ rau quả độc hại và không ai thèm quan tâm đến. Rồi vào thế kỉ thứ 17, theo chân của những du khách đến thăm Naples, món ăn dành cho những người nông dân nghèo có cái tên “pizzaioli” dần dần được biết đến ở nhiều vùng, miền khác trên thế giới. Không chỉ thế, người ta còn tìm thấy một lò nướng đặc biệt được xây dựng ngay trong cung điện mùa hè của nữ hoàng Maria Carolina d’Asburgo Lorena - vợ của vua Ferdinando IV. Thế là từ món ăn bình dân, rẻ tiền dành cho những người nghèo, pizza đã dần chiếm cho mình một vị trí xứng đáng. Đến thế kỉ thứ 19, vào năm 1889, vị đầu bếp có tên Raffaele Esposito đã sáng tạo ra ba loại pizza có hương vị độc đáo, mới mẻ để chào đón vua Umberto I và vợ của ông. Đó là pizza với mỡ heo, pho mát, húng quế; pizza với tỏi, dầu, cà chua và pizza với mozzarella (một loại pho mát đặc trưng của Ý), húng quế, cà chua. Các bạn nào am hiểu về ẩm thực Ý, chắc hẳn đã nhận ra loại pizza cuối cùng chính là pizza Margherita nổi tiếng đến tận bây giờ đúng không? Và đến cuối thế kỉ này, người ta có thể thưởng thức món ăn quen thuộc này ở khắp mọi nơi trên đất nước Ý dù là sáng, trưa, chiều hay tối. Pizza được nướng trong những khay lớn và càng ngày càng có nhiều loại hương vị theo yêu cầu của khách hàng. Cùng thời điểm đó, pizza cũng “lấn sân” sang cả Mỹ nữa, bởi sự di cư của một bộ phận người Ý đến đất nước này. Lần đầu xuất hiện ở Chicago, pizza đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của rất nhiều cư dân nơi đây bởi chính cách bán pizza truyền thống ở Ý. Đó là hình ảnh một người đàn ông với chiếc mũ có hình chiếc pizza ở trên đẩy chiếc xe với cái lò than nóng dọc trên con phố Taylor. Sang thế kỉ 20 là bước đánh dấu cho sự bành trướng lớn lao của “thế lực pizza”. Hàng loạt những hương vị pizza mới, những cửa hàng tên tuổi liên tục được xuất hiện ở khắp các nơi và không chỉ do người Ý sáng tạo ra. Đặc biệt nhất là vào năm 1957, pizza đông lạnh đã được giới thiệu và càng giúp cho món ăn này đến được nhanh chóng với người dân ở khắp các nơi trên thế giới. Còn hiện tại thì pizza đã không chỉ còn là một món ăn được ưa chuộng khắp thế giới mà còn được những nhà cầm quyền EU chứng nhận là một phần di sản văn hóa ẩm thực châu Âu. Và để được chứng nhận là một nhà sản xuất pizza không hề đơn giản. Người ta phải qua đủ mọi các bước xét duyệt của chính phủ Ý và liên minh châu Âu nữa… tất cả là để đảm bảo danh tiếng cho món ăn này. (kenh14.vn)
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Macaron, ‘cô tiểu thư’ của ẩm thực Pháp Nhắc đến nước Pháp hoa lệ, người ta thường nghĩ ngay tới tháp Eiffel và Macaron, món bánh nổi tiếng dành trọn sự yêu mến của mọi người. Macaron là loại bánh ngọt được làm từ lòng trắng trứng, đường bột, đường cát, bột hạnh nhân và một chút màu thực phẩm. Nhân bánh thường được lấp đầy với mứt, ganache hoặc kem bơ kẹp giữa hai mặt bánh. Cái tên Macaron bắt nguồn từ tiếng Italy là ‘maccarone’ hoặc ‘maccherone’ (có nghĩa là nghiền nát). Có rất nhiều tranh cãi xung quanh xuất xứ của Macaron. Theo nhiều người, Macaron có nguồn gốc từ những đầu bếp bánh ngọt Italy đã theo Catherine de Mesdicis sang Pháp năm 1533 khi bà kết hôn với vua Henry II. Lại có câu chuyện khác cho rằng tại thị trấn Nancy, vùng Lorraine của nước Pháp có một tu viện mà ở đó mọi người không được phép ăn thịt. Để đáp ứng được chế độ ăn uống khắc nghiệt này, hai nữ tu là Marguerite và Marie - Elisabeth đã tạo ra những chiếc bánh Macaron. Ban đầu bánh chỉ có hình tròn đơn giản như những chiếc bánh quy thông thường. Với sự sáng tạo của Pierre Desfontaines ở cửa hàng bánh ngọt Pháp Ladurée, Macaron trở thành chiếc bánh có hai lớp bánh và một lớp nhân ở giữa mà chúng ta vẫn thường nhìn thấy ngày nay. Với vẻ ngoài xinh đẹp và ngọt ngào, Macaron đã làm mê đắm biết bao người. Nếu trước đây Macaron chỉ được dùng trong các buổi trà chiều của giới sành ẩm thực Pháp và các nước châu Âu thì nay nó có thể được tìm thấy ở rất nhiều các cửa hàng bánh ngọt trên khắp thế giới. Macaron còn xuất hiện trong các bữa tiệc đám cưới hay trở thành những món quà mà người ta dành tặng nhau. Bé nhỏ là vậy nhưng Macaron không hề dễ làm chút nào. Nó luôn nằm trong danh sách những loại bánh khó làm nhất thế giới. Thậm chí ở Pháp, không phải tiệm mào cũng có thể làm bánh Macaron. Bánh Macaron "đỏng đảnh" đòi hỏi kỹ năng và sự tinh xảo mà chỉ một số ít người mới có thể đáp ứng được. Từ khâu khuấy bột, định hình bánh đến căn chỉnh thời gian đều phải hoàn toàn chính xác. Món bánh Macaron hoàn hảo phải có hai lớp chân bánh giòn xốp, tan trong miệng hòa cùng vị ngọt thanh và mềm mại từ nhân bánh. Là mặt hàng bán chạy nhất trong các cửa hàng bánh ngọt, Macaron có thể được tìm thấy với nhiều hình dáng (hình ngôi sao, hình trái tim) và hương vị khác nhau (mâm xôi, socola, nấm, trà xanh…). Nếu có cơ hội đặt chân tới nước Pháp xinh đẹp, đừng quên kiếm cho mình chiếc bánh Macaron chính gốc với đủ loại hương vị mới lẫn truyền thống. Chắc chắn chuyến du lịch đến với kinh đô ánh sáng của bạn sẽ ngọt ngào hơn rất nhiều. Cách làm bánh tại đây: http://afamily.vn/an-ngon/tro-tai-lam-banh-macaron-chocolate-ngon-tuyet-2013090209452596.chn
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Cuộc hành trình thú vị của chiếc bánh Croissant - Bánh sừng bò Chiếc bánh Croissant (bánh sừng bò) nhỏ nhắn của nước Pháp lại mang trong mình một câu chuyện cực kỳ thú vị. Nhắc đến chiếc bánh Croissant (hay còn gọi là bánh sừng bò), chúng ta sẽ nghĩ ngay đến thủ đô Paris hoa lệ. Nhưng ít ai biết rằng, nước Áo mới là vùng đất khai sinh ra món bánh nổi tiếng này, và hành trình từ nước Áo sang đất Pháp của Croissant cũng thú vị và li kì không kém bất kì câu chuyện lịch sử nào. Croissant - Phần thưởng cho người anh hùng Câu chuyện về chiếc bánh sừng bò đã thú vị ngay từ nguồn gốc ra đời. Chuyện kể rằng, vào những năm 1683, khi cuộc chiến giữa Áo và Thổ Nhĩ Kì đang trong giai đoạn quyết liệt nhất, vào đêm nọ, có một người thợ làm bánh đã nghe thấy những tiếng khoan đục kì lạ ở dưới mặt đất. Không ngần ngại, anh đã thông báo việc này cho quân đội nước Áo, từ đó kịp thời ngăn chặn hành động đào đường hầm tiến vào thủ đô Vienna của Thổ Nhĩ Kì, tạo tiền đề cho chiến thắng của nước Áo sau đó. Người thợ làm bánh được ban thưởng, nhưng điều duy nhất anh muốn lại chỉ là được nướng một mẻ bánh thật ngon để ăn mừng chiến thắng nước nhà. Vậy là Kipferl - tiền thân của bánh Croissant đã ra đời. Kipferl mô phỏng hình trăng lưỡi liềm, đồng thời cũng là quốc hiệu của Thổ Nhĩ Kì, nhằm nhắc nhở người Áo về kẻ thù đáng gờm một thời. Bánh Kipferl là món bánh truyền thống ưa thích của người Áo, đến năm 1770 khi Công chúa nước Áo Marie Antoinette kết hôn với Thái tử nước Pháp, chiếc bánh mặt trăng mới du nhập tới kinh đô Paris phồn hoa và chuyển mình thành chiếc bánh Croissant. Đến câu chuyện về nàng Thái tử phi kiêu hãnh Marie Antoinette chắc chắn là người có công đem chiếc bánh lưỡi liềm ra khỏi khuôn khổ nước Áo và phổ biến nó khắp Châu Âu, nhưng những giai thoại về mĩ nhân người Áo cùng món bánh ưa thích của nàng lại có vô vàn dị bản, muôn màu muôn vẻ. Có chuyện kể rằng công chúa Marie về làm dâu nước Pháp khi mới 14 tuổi, và thứ mà nàng Thái tử phi nhỏ tuổi nhớ nhất khi nghĩ về quê hương là món bánh giản dị có hình lưỡi liềm. Từ đó, để chiều lòng nàng, các đầu bếp nước Pháp đã mô phỏng lại bánh Kipferl, nhưng với hình dáng cầu kì bắt mắt hơn để phù hợp với bàn ăn hoàng gia, và từ đấy Croissant ra đời. Một câu chuyện khác, hấp dẫn và được mọi người tin hơn cả chính là: Marie Antoinette, với tính cách phóng khoáng đến ngang ngạnh của mình, đã từ chối dùng bữa với các thành viên của hoàng tộc Pháp. Nàng thường ngồi yên trên bàn ăn chung, không chịu cởi bỏ găng tay, và khi về phòng riêng mới yêu cầu dọn ra những món ăn từ quê hương mình - trong đó luôn có bánh Kipferl, dần dần nàng chấp nhận cả phiên bản cầu kì hóa của nó là Croissant. Dù là giai thoại nào đi chăng nữa, cũng không thể không nhắc đến Marie Antoinette như một nhân tố quan trọng trong cuộc hành trình của chiếc bánh Croissant, là biểu tượng của lòng tự tôn dân tộc ở một Công chúa, Thái tử phi, và sau này là Hoàng hậu. Croissant - Giá trị của sự giản dị Về cơ bản, Croissant chỉ là món bánh ăn sáng rất một mạc được làm từ pâte feuilletée (bột xốp tạo bởi bột mì, men, bơ, sữa và muối). Bánh đơn giản, không có nhân, nhưng chính sự không đặc ruột đó lại chứng tỏ chất lượng men bánh tuyệt hảo. Hiện nay ở Áo và Ý, Croissant vẫn giữ nguyên tính chất truyền thống này, bởi họ cho rằng sự nhẹ nhàng giản dị của bánh Croissant cực kì phù hợp cho bữa sáng. Khi du nhập sang Pháp, Croissant ít nhiều mang ảnh hưởng tính cầu kì của ẩm thực đất nước này. Croissant Pháp có thể có nhân chocolate, mứt, nho khô hoặc kem bơ mềm óng như bánh su kem. Thậm chí ở một số vùng, người ta còn làm nhân trái cây hoặc nhân mặn cho bánh sừng bò Song dù mang phong cách truyền thống hay hiện đại, tối giản hay cầu kì hóa, chiếc bánh sừng bò cũng không mất đi hương vị thanh nhã, ngọt dịu đặc trưng của mình. Chính sự đơn giản trong hình thức lẫn hương vị ấy mà chiếc bánh Croissant vẫn luôn được yêu thích trong bữa sáng của người Châu Âu, như một cách đón chào ngày mới thật thanh đạm, nhẹ nhàng mà vẫn đầy hứng khởi. Hiếm có chiếc bánh nào mang trong mình một câu chuyện li kì như Croissant - ra đời bởi một chiến công vệ quốc, du hành khắp Châu Âu theo nàng công chúa xinh đẹp và cá tính Marie Antoinette, rồi phát triển và biến hóa thành món tráng miệng tuyệt hảo ở ngay thủ đô Paris tráng lệ. Đọc lại câu chuyện về Croissant, ta thích thú nhận ra rằng món ăn nói riêng và ẩm thực nói chung có mối liên hệ sâu sắc với tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, với các thăng trầm trong lịch sự. Ẩm thực không chỉ gói gọn trong nhu cầu ăn ngon mặc đẹp của con người, mà còn phản ánh một cách tinh tế và khéo léo một xã hội trong từng thời điểm lịch sử khác nhau. Công thức bánh: http://afamily.vn/an-ngon/lam-banh-sung-bo-an-sang-that-ngon-20130423103512506.chn
Ðề: Ẩm thực bốn phương. cái món bánh mì doner kebap ngày nào cũng ăn mà bây giờ mới biết xuất xứ của nó
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Pancake - món bánh tráng miệng đầy hấp dẫn Từ thời Hi Lạp cổ, người ta đã chế tạo ra món bánh chiên trong chảo, ăn kèm với các món đồ ngọt vào bữa sáng. Trải qua nhiều thế kỷ, món bánh này mang nhiều tên gọi khác nhau. Đến thế kỷ XV sau Công nguyên, từ “pancake” xuất hiện trong tiếng Anh và được dùng rộng rãi cho đến ngày nay. Pancake về cơ bản là một loại bánh mỏng, được làm từ ba nguyên liệu chính: bột mì, trứng và sữa. Người ta cho thêm bột nổi hoặc men và biến đổi một số công thức để bánh làm ra được mềm và xốp. Pancake được “chiên” trên chảo hoặc bản nướng nóng và được ăn với đủ các loại nhân từ ngọt đến mặn. Văn hóa phương Tây dành hẳn một ngày gọi là “thứ Ba Pancake” (Shrove Tuesday, Pancake Tuesday, Pancakeday, Fat Tuesday), được tổ chức vào ngày thứ Ba trước thứ Tư lễ Tro theo lịch Công giáo. Họ tổ chức lễ hội với những cuộc thi làm pancake, ăn pancake. Trải qua sự biến đổi của thời gian, pancake đến với nhiều nước khác nhau trên thế giới, kể cả châu Âu, châu Á lẫn châu Phi. Ngoài những biến thể (như bánh crêpe của Pháp) hoặc những loại bánh truyền thống của đất nước đó nhưng cùng chung nguyên lý thì đều gọi bằng pancake, dù nguyên liệu có phần biến đổi. Ví dụ như Việt Nam có bánh xèo làm bằng bột gạo, Đức có pancake làm bằng khoai tây, Đan Mạch có bánh pancake lằm bằng bột lúa mạch gọi là smørrebrød (có nghĩa là bánh bơ)… Với pancake ngọt, loại “nhân” (topping) đơn giản và nổi tiếng nhất là xi-rô nhựa cây thích (maple syrup) của Canada. Lớp bánh pancake vàng rực rỡ, phủ lên trên một lớp maple syrup hay mật ong ngọt lịm, thêm một miếng bơ cho béo, rồi để bơ mềm tan ra trên bánh nóng và từng giọt xi-rô hay mật chảy tràn đầy những chiếc bánh thơm phức mùi trứng và sữa. Chỉ một miếng bánh thôi cũng có thể gọi là thiên đường. Pancake còn có thể dùng cùng nhân mặn, khác hẳn với suy nghĩ của đa số thực khách Việt Nam: bánh Tây là nhân ngọt. Pancake đối với ẩm thực phương Tây giống như cơm, bún hay bánh mì đối với người Việt Nam vậy. Pancake ngoài nhân ngọt ra còn có thể dùng với thịt lợn muối (ham), thịt lợn xông khói (bacon) chiên giòn, xúc xích các loại, cá hồi, phô-mai và nhiều loại sốt khác nhau tùy vào văn hóa ẩm thực của địa phương. Pancake được xem là một trong những món ăn sáng “cổ điển” của văn hóa ẩm thực phương Tây. Pancake được ưa chuộng cho bữa sáng vì rất dễ thực hiện, lại rất nhanh, không cầu kỳ. Chỉ trong vòng 15 phút, bạn sẽ có ngay món ăn đơn giản nhưng lại no bụng cho cả nhà. Dù là mùa hè hay mùa đông, món pancake nóng hổi trên đĩa trắng, thêm thỏi bơ đang chảy trên bánh nóng, có thể thêm mấy loại trái cây ưa thích hay kem lạnh hoặc vài miếng thịt lợn muối hoặc bacon giòn rụm đang tuôn mỡ thơm phức cũng sẽ rất phù hợp. Bữa sáng chỉ cần có thể, thêm ly nước ép trái cây hay sữa tươi là người ta đã có đủ năng lượng cho một ngày mới. Cách làm tại đây: http://kenh14.vn/made-by-me/bi-quyet-lam-banh-pancake-xop-mem-20130403090227938.chn
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Onigiri - Cơm nắm kiểu Nhật (p1) Những nắm cơm Onigiri tuy giản dị nhưng mang trong mình vẻ tinh hoa đẹp đẽ rất riêng của đất nước Mặt trời mọc này đấy! Hiếm có món ăn nào lại gắn bó với những thăng trầm lịch sử của Nhật khi cơm nắm. Ngay từ thế kỉ thứ 11, sự xuất hiện của những nắm cơm hình tròn nhỏ nhắn và tinh tế đã được nhắc đến trong nhật kí của nữ sĩ tài hoa Murasaki Shikibu. Món cơm nắm cũng theo chân các chiến sĩ Samurai đi dọc các chiến trường trên đất Nhật. Có nhiều ý kiến cho rằng, Onigiri còn xuất hiện trước cả thời kì Heian. Ngay từ thời đại khởi thủy Nara, khi người Nhật còn chưa biết sử dụng bát đũa, các nắm cơm đã được phát minh để tiện lợi cho việc cầm ăn. Có thể nói, những nắm Onigiri bé nhỏ đã "lăn mình" xuyên suốt lịch sử Nhật Bản, từ ngày đầu lập quốc cho tới thời đại Heian sáng chói về văn hóa, đến giai đoạn hùng tráng với sự phát triển của văn hóa võ sĩ đạo. Cho đến đời Minh Trị, Nhật Bản thật sự bước vào thời kì "thoát Á" và được Tây hóa, món cơm nắm truyền thống đã có sự biến đổi to lớn. Công nghệ sản xuất nori (rong biển) đã cho ra đời những tấm nori mỏng tang, đều nhau chằn chặn. Lúc này, người ta cũng bắt đầu kết hợp cơm nắm với rong biển cùng các loại nhân khác. Onigiri ngày nay đã trở nên cầu kì và thơm ngon hơn phiên bản truyền thống rất nhiều, dù vẫn giữ nguyên hương vị đặc trưng của phần cơm trộn muối. Không một cửa hàng tiện lợi nào ở Nhật lại không bày bán Onigiri - đó là minh chứng cho ảnh hưởng sâu sắc của món ăn này đến với đời sống người Nhật.
Ðề: Ẩm thực bốn phương. Onigiri - Cơm nắm kiểu Nhật (p2) Nếu bạn tìm kiếm công thức về cơm nắm Nhật Bản, ắt hẳn bạn sẽ bối rối vì... không có công thức nào giống nhau cả. Cũng như bánh mì thịt hay nem rán của Việt Nam, Onigiri cho phép người đầu bếp sáng tạo không biên giới. Nếu ví Onigiri là một vương quốc rộng lớn và phong phú thì ta có 3 cánh cửa để bước vào tìm hiểu vương quốc ấy. Với người Nhật, việc phân chia và chế biến các loại Onigiri được dựa trên 3 yếu tố sau: Hình dáng Với tư tưởng duy mĩ, người Nhật rất đề cao hình thức của món ăn. Do đó, các loại cơm nắm với hình dạng khác nhau cũng có thể tạo nên những trải nghiệm về mùi vị khác nhau. Phổ biến nhất ở Nhật là cơm nắm hình tam giác, ngoài ra còn có cơm nắm hình tròn như quả bóng, hình khối vuông góc cạnh và hình chữ nhật được ví như chiếc gối mềm (Tawara). Để tạo hình thật chuẩn cho cơm nắm không phải là điều dễ dàng, khi đầu bếp phải biết cân bằng độ ướt của cơm sao cho đủ cứng cáp để tạo hình, nhưng vẫn phải mềm mượt thơm ngon, không quá khô hay quá cứng. Cơm Thành phần chính của cơm nắm dĩ nhiên là cơm, nhưng việc chế biến nguyên liệu tưởng chừng rất đơn giản này lại không đơn giản chút nào. Có rất nhiều kiểu cơm được dùng trong món Onigiri và sự đa dạng, tinh tế của chúng đôi khi vượt xa món sushi sang trọng. Người ta vẫn nhầm lẫn cơm trong Onigiri với cơm shari trong sushi. Nhưng không giống như shari có cả giấm và đường, cơm của Onigiri chỉ giản dị với một chút muối. Cơm trong Onigiri cũng tơi và khô hơn shari. Tuy nhiên, đó là kiểu cơm truyền thống. Onigiri ngày nay còn sử dụng cơm sekihan (cơm nấu với đậu đỏ) hoặc mazegohan (cơm nấu với các nguyên liệu khác nhau). Nhân Đây có lẽ là phần hấp dẫn nhất trong một nắm Onigiri, làm nên sự đặc sắc và khác biệt cho mỗi nắm cơm của mỗi người. Tùy theo sở thích và điều kiện mà những người nội trợ Nhật Bản vẫn thường chế biến các loại cơm nắm với công thức nhân "độc quyền" của riêng mình. Hình ảnh từng tốp học sinh tiểu học trao đổi cơm nắm cho nhau trong những chuyện picnic không chỉ xuất hiện trên phim ảnh, đó đã trở thành thói quen thực sự trong đời sống xứ Phù Tang, khi mỗi nắm cơm đều là đại diện cho sự khéo léo, gu ẩm thực và cá tính riêng của mỗi hộ gia đình. Loại nhân truyền thống và cơ bản nhất của Orinigi là mơ nuối (Umeboshi) và cá hồi khô (Okaka). Đây đều là hai nguyên liệu phổ biến, quen thuộc và được xem là cực kì bình dân với người Nhật. Chút mằn mặn từ vị mơ muối và thịt cá đã đủ nâng tầm cho nắm cơm đơn điệu, và dù xuất phát với tư cách là món ăn giản tiện của người nghèo, cơm nắm mơ muối cùng cá hồi khô vẫn rất được người Nhật ưa chuộng. Các loại nhân truyền thống thường gặp khác là hải sản như cá ngừ, cá hồi, tôm, cua biển, nhân tempura, nhân vị miso và rau củ muối. Tuy nhiên với ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Phương Tây, hiện nay có rất nhiều lạo Onigiri mang hơi hướm của ẩm thực Châu Âu, kết hợp với cái hồn tinh thúy xứ Phù Tang tạo nên một sự hòa trộn tuyệt vời thú vị, trong đó có thể kể đến Spam musubi với "phong cách Hawaii đậm nét", gồm thịt heo nguội đặt trên nắm cơm hình chữ nhật. Vốn được coi là quốc gia cầu kì hàng đầu về ẩm thực, nhưng cái tinh túy trong nghệ thuật nấu nướng của Nhật Bản không chỉ đến từ những khay sushi sang trọng hay món bò Kobe trứ danh đắt đỏ. Chỉ cần dạo qua vài cửa hàng tiện lợi, vài siêu thị về đêm hay dăm ba cửa hàng nhỏ bé khuất trong ga tàu điện, ta đã có thể khám phá không ít điều thú vị, đặc sắc của ẩm thực Nhật thông qua những khay Onigiri vô cùng giản dị