TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP 1 Tôn giả Đại Ca Diếp, Môn đệ Phật Thích Ca, Bà La Môn, quí tộc, Người nước Ma Kiệt Đà. Sau khi Phật nhập diệt Ông được kế nhiệm Ngài, Là một đại đệ tử, Đức hạnh và toàn tài. Bố mẹ ông giàu có, Lại rất thương yêu con, Nên khi lên tám tuổi, Nhiều thầy Bà La Môn Được mời đến dạy dỗ. Toàn những bậc uyên thâm. Vốn thông minh, chăm chỉ, Nên trong vòng mấy năm Ông học thông tất cả Các môn học bấy giờ, Nhất là môn Đạo Học, Một kết quả không ngờ. Khi lớn lên, bố mẹ Muốn lấy vợ cho ông, Nhưng ông cứ lần lữa, Rồi cương quyết nói không. Số là do hiểu biết, Ông chỉ muốn xuất gia Để đi tìm chân lý, Như Ngài Tất Đạt Đa. Cuối cùng, bị thúc ép, Ông nhờ thợ kim hoàn Đúc tượng một cô gái, To như thật, bằng vàng. Đó là bức tượng đẹp, Mặc sari nhiều màu, Đính rất nhiều trang sức, Suốt từ chân đến đầu. “Nếu tìm được ai đấy Giống hệt cô gái này, Con sẽ lấy làm vợ, Để khỏi bị quấy rầy.” Thế là xe chở tượng Rong ruổi khắp xóm làng Để tìm kiếm cô gái Giống hệt bức tượng vàng. Xe đi mãi, đi mãi Hết nước Ma Kiệt Đà, Vẫn không thấy người đẹp. Đường thì khó và xa. Ngày nọ, xe đi tới Thành phố Tỳ Xá Ly, Một thành phố đông đúc Của nước Ly Chà Vy. Họ tìm thấy cô gái Có tên là Thiện Tâm, Con một nhà quí tộc Giàu có và tiếng tăm. Thế là các ông mối Gặp bố cô, cầu hôn, Với số vàng làm lễ Bằng trọng lượng cô con. Đám cưới được tổ chức Thật to, thật khác thường. Đêm tân hôn, rất tiếc, Họ không nằm chung giường. Ca Diếp thấy vợ khóc, Nói: “Tôi nguyện suốt đời Sẽ xuất gia tìm Đạo, Cứu mình và cứu đời.” Thiện Tâm nghe, liền đáp: “Thiếp không muốn lấy chồng. Chỉ tại bố tham của, Nên thiếp phải đèo bòng.” Hai vợ chồng mừng rỡ, Cùng quyết định hai người Chỉ xem nhau như bạn, Hai bạn tốt suốt đời. Kể từ giây phút đó Hai người là anh em. Không chạm vào cơ thể, Không chung giường ban đêm. Bố mẹ ông hay chuyện, Liền cất đi một giường. Thành ra họ lần lượt Người ngủ, người tựa tường. Một hôm, Thiện Tâm ngủ, Một tay chạm sàn nhà. Bất chợt Ca Diếp thấy Có con rắn bò qua. Ông chạy tới, lặng lẽ Giơ cánh tay lên cao. Tỉnh dậy, cô bèn trách Không giữ lời hôm nào. Mười hai năm sau đó, Bố mẹ ông qua đời. Họ đảm đang mọi việc, Tiếp xúc với nhiều người. Dần dần họ giác ngộ Rằng sống là khổ đau, Và cội nguồn đau khổ Là ky cóp làm giàu. Nên cuối cùng quyết định Cả hai cùng xuất gia, Mỗi người đi một ngả, Bỏ ruộng đất, cửa nhà. 2 Theo sách kinh kể lại, Ngày Ca Diếp ra đi Trùng ngày thứ bốn chín Phật Thích Ca Mâu Ni Đang ngồi yên thiền định Một mình dưới gốc cây. Ba năm trời tìm kiếm, Ông chưa gặp được thầy. Một hôm, Phật lặng lẽ Rời Tịnh xá Trúc Lâm Đến phía Bắc Vương Xá, Ngồi dưới cây bóng râm. Bỗng có người đi lại, Dáng mệt mỏi, buồn rầu. Đức Phật gọi: “Ca Diếp, Ta chờ thầy đã lâu. Giờ hãy ngồi cùng nghỉ Với ta dưới bóng cây. Thầy phải nhớ: Giáo Hội Rất cần thầy sau này.” Ca Diếp liền sụp xuống, Rồi nói: “Bạch Thế Tôn, Cúi xin Ngài chấp nhận Là sư phụ của con.” Hai người về Tịnh xá, Khi đi ngang cánh đồng Phật cởi áo đang mặc Rồi đổi nó cho ông. Ca Diệp nhập Giáo Hội Vừa mới được bảy ngày, Đắc quả A La Hán, Thật hiếm có điều này. 3 Lại nói từ buổi ấy, Chia tay chồng, Thiện Tâm Đi tầm sư học đạo, Thấm thoắt đã năm năm. Cuối cùng bà gặp Phật, Và cũng gặp lại chồng. Mừng được cùng chí hướng, Sống cùng nơi với ông. Bà Thiện Tâm nhanh chóng Nhập Hội rồi qui y, Được ở nơi Tịnh xá Dành cho tỳ kheo ni. Không ít lời dị nghị Về chuyện bà xuất gia, Đến mức bà ngần ngại Không muốn ra khỏi nhà. Được Ca Diếp giúp đỡ, Khích lệ, chia thức ăn, Bà chuyên tâm tu luyện, Tâm trí cứ ngộ dần. Cuối cùng bà đắc quả A La Hán như chồng, Được Phật khen đệ nhất Về phép Túc Mệnh Thông, Tức là người giỏi nhất Nhìn thấy và am tường Chuyện của nhiều kiếp trước, Đoán biết điều tai ương. Ca Diếp là đệ nhất Về tu hạnh Đầu Đà, Tức là tu khổ hạnh, Như xưa Tất Đạt Đa. Đầu Đà là tiếng Phạn, Có nghĩa xua buồn phiền Bằng cách xa danh lợi, Sống theo lẽ tự nhiên. Ăn những gì xin được, Ngày một lần, giữa trưa. Mặc chỉ toàn giẻ rách Hoặc loại quần áo thừa. Sống gần nơi mồ mả, Hoặc dưới cây bóng râm, Ai cho gì, không lấy, Ngủ phải ngồi, không nằm. 4 Lần nọ, Đại Ca Diếp Sống trong hang lâu ngày, Khi trở về Tịnh xá, Tóc và râu mọc dày, Quần áo lại mục rách, Các tỳ kheo chê bai, Nhưng Đức Phật bình thản Mời ông ngồi cạnh Ngài. Đó là một đặc cách, Một ân lớn mà ông Từ chối không dám nhận, Nhưng cũng phải đành lòng. Khi hai người an tọa, Phật kể về đức tài Của tôn giả Ca Diếp, Trong quá khứ, tương lai. Mọi người nghe, khâm phục. Từ đó không người nào Cười chê ông nhếch nhác, Ai gặp cũng cúi chào. 5 Sống ở thành Vương Xá Có một bà lão nghèo. Không có cả tấm áo Che lớp da nhăn nheo. Một hôm bà ốm nặng, Nằm giữa nắng ban trưa. May có cô đầy tớ Cho một bát cơm thừa. Tôn giả Đại Ca Diếp Vốn quen biết bà già, Đi ngang nhân có việc, Ông chìa bát trước bà. Đang ốm nặng, lại đói, Đói đến quặn trong lòng, Bà lão không ngần ngại Nhường bát cơm cho ông. Tôn giả cúi đầu nhận, Hai dòng nước mắt rơi: “Kiếp sau bà sung sướng, Thành thiên nữ nhà trời.” Một chốc, bà lão chết. Sau bà được tái sinh Ở Cõi Trời Đạo Lợi Thành thiếu nữ rất xinh. Một hôm, thiên nữ ấy Nhớ kiếp xưa nghèo hèn, Bay xuống, trải hoa đẹp Để tôn giả bước lên. 4 Lúc Đức Phật nhập diệt Chỉ có A Nan Đà Và tôn giả Ca Diếp Hầu bên cạnh Thích Ca. Trước đó, Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, La Hầu La tôn giả Đã đi vào cõi thiền. Đại Ca Diếp đề nghị Triệu tập một Hội Đồng Để kết tập Kinh Điển, Rồi mọi người bầu ông Quản giáo Hội thay Phật. Trong vòng hai mươi năm Ông đảm đương chức ấy, Không một chút sai lầm. Một hôm Đại Ca Diếp Trao cho A Nan Đà Chiếc Bát Y của Phật, Rồi lặng lẽ đi ra. Ông lên núi tu tiếp Phép Đầu Đà thần thông. Từ đấy các phật tử Không ai còn thấy ông.
TÔN GIẢ A NAN ĐÀ 1 Trong mười đại đệ tử Của Đức Phật Thích Ca, Trung thành, tận tụy nhất - Tôn giả A Nan Đà. Ông xuất thân quí tộc Con vua A Mi Đà, Tức ông là cháu ruột Của Đức Phật Thích Ca. Khi Ngài về La Vệ, Ông vừa tròn hai mươi, Xin được thành Phật tử, Đi theo Ngài khắp nơi. Bốn ba năm theo Phật, Luôn có mặt bên Ngài. Sau đức Đại Ca Diếp, Ông là Tổ thứ hai. Hăm lăm năm phụ tá, Giúp đỡ Ngài hàng ngày, Ông là gương trung thực Và tận tụy với Thầy. A Nan Đà khám phá Và ngăn chặn từ xa Các âm mưu giết Phật Của Đề Bà Đạt Đa. Với trí nhớ tuyệt mỹ, Thuộc hết lời Thầy mình, Ông giúp đời ghi lại Nhành nhiều bộ Phật Kinh. Cũng nhờ ông mà có Tịnh xá Tỳ Kheo Ni Cho các nữ Phật tử Muốn xuất gia quy y. Đắc đạo A La Hán, Ông nhẫn nhục, trung thành, Một trăm hai mươi tuổi, Để tiếng tốt lưu danh. 2 Xuất thân một hoàng tử, Ông đẹp trai khác thường, Nên dẫu là Phật tử, Nhiều cô bà yêu thương. Lần nọ, đi khất thực, Trên đường quay trở về A Nan Đà khát nước, Rẽ vào ngôi nhà tre. Ông đến bên giếng nước. Có cô Ma Đăng Già Đang múc nước ở đấy, Đẳng cấp Chiên Đà La, Tức là hạng thấp nhất. Nàng định chạy, vì nàng Sợ mời, làm ô uế Người của bậc cao sang. Ông liền nói: “Tăng lữ Không phân biệt nghèo giàu.” Nàng yên tâm, mời nước, Nhìn theo ông hồi lâu. Nàng còn trẻ, xinh đẹp. Tự nhiên cháy lửa tình Trước vị sư tuấn tú, Mình không hiểu nổi mình. Hôm sau nàng bảo mẹ Đi mời A Nan Đà, Mời bằng được đến dự Lễ thọ trai tại nhà. Ông đến mấy lần nữa, Rồi bắt đầu sinh nghi. Và rồi sau từ chối, Nghi đang có chuyện gì. Suốt một tháng cô gái Bỏ ăn, nằm ở nhà. Mẹ gạn hỏi, bèn đáp Nàng yêu A Nan Đà. Bà mẹ sợ, hoảng hốt: “Con yêu ngài? Đừng đùa!” Cô con dọa tử tử. Cuối cùng bà chịu thua. Không còn cách nào khác, Bà phải ra đón đường Chờ nhà sư khất thực: “Thầy hãy rũ lòng thương, Con gái tôi ốm nặng, Muốn gặp A Nan Đà.” Do không thể từ chối, Ông lại phải vào nhà. Bà mẹ mời ông uống Một thứ nước đáng ngờ. Uống xong, thấy phấn khích, Nhưng đôi mắt lờ mờ. Và rồi ông chợt hiểu Người ta bỏ bùa ông. Ông thiền định, làm phép, Giải nó bằng khí công. Đang có việc, Đức Phật Cho người gọi ông về. A Nan Đà lúc ấy Đã tỉnh hết bùa mê. Ông bình tĩnh khuyên giải, Ôn tồn mời bà già Và cô con giả ốm Cùng đến gặp Thích Ca. Khi nghe hết mọi chuyện, Đức Phật liền hỏi nàng: “Đúng con yêu ông ấy?” Cô gái đáp: “Thưa vâng.” “Yêu không có gì xấu, Nhưng trong vòng một năm, Phải xuất gia, tu luyện Chân thành và thiện tâm. Sau đấy nếu còn muốn Lấy ông ấy làm chồng, Con sẽ được toại nguyện, Mà ta cũng hài lòng.” Cô gái kia mừng rỡ, Liền đồng ý nghe theo. Ngay hôm sau tự nguyện Thành một nữ tỳ kheo. Nàng chăm chỉ tu luyện, Nhưng mới được nửa năm, Nàng đã kịp giác ngộ Tự mình thấy lỗi lầm. Nàng hối hận, xấu hổ, Tìm đến Phật xin tha, Từ đấy thành môn đệ Của Đức Phật Thích Ca. 3 Năm tròn tám mươi tuổi Tôn giả A Nan Đà Thay tôn giả Ca Diếp Làm Thiền Tổ Thích Ca. Một trăm hai mươi tuổi, Đến lúc nhập Niết Bàn, Ông băn khoăn không biết Chọn nơi nào tốt hơn. “Hiện đang có hai nước - Xá Lợi, Ma Kiệt Đà, Rất yêu ta, vì thế Mà xẩy ra bất hòa. Nếu ta chết nước nọ, Chắc nước kia phật lòng.” Cuối cùng, một buổi sáng, Ông chèo thuyền ra sông. Dân chúng hai nước ấy Đứng hai bờ, kêu van. Ai cũng muốn tôn giả Đến họ nhập Niết Bàn. A Nan Đà bảo họ: “Ta phải làm cách này Để hai nước xóa bỏ Các oán thù xưa nay.” Vừa nói xong, tôn giả Từ từ bay lên không, Rồi dùng lửa tam muội Để tự thiêu xác ông. Sau đó nhiều xá lỵ Trôi dạt vào hai bờ. Vua hai nước cho nhặt Cung kính dựng miếu thờ.
TÔN GIẢ KIỀU TRẦN NHƯ 1 Ngày nọ, vua Ca Lợi Dẫn một đám cung nhân Vào khu rừng rậm rạp Cùng vui vẻ đi săn. Lần đầu các cung nữ Được ra ngoài dạo chơi, Họ tự do chạy nhảy, Tự do ngắm đất trời. Và rồi vui, mê mải, Họ đi chơi khá xa. Bất chợt trong hang đá Họ thấy một cụ già. Cụ trông thật kỳ dị, Đất bụi bám toàn thân, Mái tóc dài dính bết Cuộn một cục dưới chân. Các cô sợ, định chạy Thì ông cụ ôn tồn Nói: “Không gì phải sợ Ta cũng như các con.” Thấy cụ già thân thiện, Còn bắt chuyện với mình, Các cô xúm lại hỏi, Những câu hỏi thường tình. “Ta tu hạnh bồ tát Nhiều năm ở hang này, Là Tiên Nhân Nhẫn Nhục, Ngồi một mình ở đây.” “Nhẫn nhục? - các cô hỏi. Dạ, nhẫn nhục là gì?” “Nhẫn nhục rất đơn giản. Tu mới khó, là khi Ta sẵn sàng chấp nhận Những gì đến với ta, Thản nhiên và nhẫn nhục, Không phiền lòng, kêu ca; Là khi ta bị đánh Xúc phạm hay coi khinh, Ta không hề oán trách Người đã xúc phạm mình...” Ông cụ cứ thuyết giảng, Các nữ tỳ cứ nghe, Không biết vua Ca Lợi Cũng đang đứng cạnh kề. Vua thấy lạ, liền nói: “Ông thuyết giảng rất hay Về sự nhẫn nhục ấy. Ta muốn hỏi điều này. Bây giờ ta chặt đứt Một cánh tay của ông. Liệu ông có nhẫn nhục Chịu được điều đó không?” Ông cụ đáp: “Dạ được.” Vua rút kiếm, và rồi Chém một nhát, tay đứt. Cụ vẫn thản nhiên ngồi. Vua nói: “Chắc đau lắm.” Ông cụ đáp: “Không đau.” “Chắc ông hận ta lắm?” “Không tẹo nào, không đâu.” “Còn nếu ta lần nữa Chặt tay kia của ông, Lần này chắc ông giận?” Ông cụ đáp: “Thưa, không!” Sau đó vua Ca Lợi Chém không chỉ hai tay Mà hai chân của cụ. Cụ già vẫn ngồi ngây. “Giờ ông đau và giận?” “Không giận, cũng không đau. Tôi là người nhẫn nhục Như đã nói lúc đầu.” “Vậy chắc ông nói dối.” “Không, tôi nói thật lòng. Mời vua nhìn, sẽ biết Tôi nói thật hay không.” Rồi ông cụ ngẩng mặt, Chắp hai tay lên trời: “Xin chư thiên chứng giám Lời con nói vừa rồi. Nếu con nói sự thật, Tay chân sẽ liền ngay. Còn nếu con nói dối, Cứ để rời thế này!” Lập tức tay chân cụ, Liền trở lại như xưa. Từ trên trời, Hộ Pháp Và Thiên Thần, như mưa Bay xuống, rất tức giận, Định đánh ông vua này, Nhưng Tiên Nhân Nhẫn Nhục Can họ, bảo dừng tay: “Ông ấy thử bần đạo, Bần đạo chẳng trách ông, Không đau, không thấy giận, Thậm chí còn hài lòng. Nếu kiếp sau thành Phật, Bần đạo hứa: Tất nhiên Người này sẽ được giúp Để khai ngộ đầu tiên.” 2 Tiên Nhân Nhẫn Nhục ấy, Dưới dạng một cụ già, Vốn là một tiền kiếp Của Đức Phật Thích Ca. Còn ông vua Ca Lợi, Là người không nhân từ, Kiếp sau thành đồ đệ, Tôn giả Kiều Trần Như. Như Đức Phật đã hứa, Ông là người đầu tiên Trong năm người được Phật Đưa lên bậc đại hiền.
TÔN GIẢ CA CHIÊN DIÊN 1 Trong mười đại tôn giả, Tôn giả Ca Chiên Diên Là nghị luận đệ nhất, Đại minh và đại hiền. Ông là con trai thứ Quốc sư A Van Ty, Dẫu tự học là chính, Kiến thức khó ai bì. Về sau ông thọ giáo Đạo sĩ A Tư Đà, Người từng đến chúc phúc Thái tử Tất Đạt Đa. Thọ giáo xong, đạo sĩ Dặn ông lúc qua đời Nhớ qui y theo Phật, Phụng sự Ngài suốt đời. Là một người thông tuệ, Tôn giả Ca Chiên Diên Nổi tiếng rất uyên bác, Hiểu hết sách thánh hiền. Thế mà một ngày nọ Ông được vua cho mời Đọc một văn bản cổ, Giảng giải ý và lời, Ông đã không giải được, Đành nhờ Phật Thích Ca. Ngài giúp ông, từ đấy Ông qui y, xuất gia. 2 Lần nọ, đi giảng đạo, Khi ngang qua cánh đồng, Ông thấy một cô gái Đang ngồi khóc bên sông. Ông bèn hỏi duyên cớ. Cô gái nói đời này Cô là người nghèo nhất, Còn bị đánh hàng ngày. Cô nghèo khổ đến mức Muốn chết đi cho xong. Nói đoạn, cô gái ấy Toan nhảy xuống dòng sông. Ông kịp giữ, và nói: “Cô đang có cái nghèo. Nếu cô đem bán nó, Nhất định sẽ hết nghèo!” “Nhưng ai sẽ mua nó, Mua cái nghèo của tôi?” “Tôi sẽ mua. - Ông nói. - Cô nên nhớ: Người đời Nếu bây giờ nghèo khổ, Nghĩa là kiếp trước đây Họ không chịu bố thí Hoặc phản bạn, lừa thầy.” “Tôi không có tiền bạc. Cả cái bình nước này Cũng là của bà chủ. Biết bố thí gì đây?” “Để làm việc từ thiện, Không nhất thiết cần tiền. Hãy đem chiếc bình ấy Đi mà múc nước lên...” Giờ thì cô gái hiểu Sư thầy muốn nói gì. Cô vội vã lấy nước Mời các sư cùng đi. “Vậy là cô đang bán Cái nghèo khổ của cô. Còn chúng tôi mua nó. Tiền trả, hãy cứ chờ.” Cô gái không còn muốn Liều mình nhảy xuống sông, Tần ngần nhìn theo mãi Bóng sư đi giữa đồng. Về sau, cô gái ấy Quả thật không còn nghèo. Cuối đời, cô qui Phật, Trở thành một tỳ kheo. 2 Lần khác, ông giáo hóa Ở một nước xa xôi. Hoàng hậu của nước ấy Không may mới qua đời. Vua thương bà, đau khổ, Bỏ bễ việc triều đình. Ngày đêm cứ quanh quẩn Khóc bên xác vợ mình. Hay tin có sư giỏi Mới đến từ phương xa, Vua cho mời, hy vọng Làm sống lại được bà. Sau mấy lời an ủi, Tôn giả ra sau chùa Hái vội mấy chiếc lá Rồi đưa chúng cho vua: “Hoàng hậu sẽ sống lại Nếu trong vòng trăm ngày Ngài giữ được chiếc lá Vẫn xanh như hôm nay.” Vua kêu lên: “Không được. Một khi đã lìa cành, Làm sao lá có thể Sau trăm ngày vẫn xanh?” Ông đáp: “Ngài nói đúng. Cũng thế ta, con người, Có sống là có chết, Sao trái được luật trời? Giờ thì vua đã hiểu. Ngài cho chôn vợ mình, Quay lại sống như cũ, Chấn chỉnh việc triều đình.
TÔN GIẢ MỤC KIỀN LIÊN 1 Đệ Nhất Thần Thông Một đại đệ tử khác Của Đức Phật Thích Ca - Mục Kiền Liên tôn giả, Tức Mogalana. Quê ông, một làng nhỏ Ở nước Ma Kiệt Đà, Nay thuộc đất Ấn Độ, Nằm ở bang Bihar. Dòng dõi ông danh giá, Tầng lớp Bà La Môn. Bố ông rất giàu có, Lại chuyên tâm dạy con. Một đại đồ đệ khác Thì sinh ở làng bên, Là ngài Xá Lợi Phất, Bạn của Mục Kiền Liên. Họ chơi thân từ nhỏ, Không một phút xa rời, Cho đến khi viên tịch Ở tuổi ngoài tám mươi. Nghĩ đời là bể khổ, Giống như Tất Đạt Đa, Cả hai người từ bỏ Cuộc sống cũ xa hoa. Họ trở thành đạo sĩ Tìm ý nghĩa cuộc đời, Tìm con đường thoát khổ Cho mình và cho người. Cuối cùng họ được gặp Phật Thích Ca Mâu Ni, Người giác ngộ cho họ, Chỉ lối, vạch đường đi. Trong số đại đồ đệ, Ông là người vô song, Về biến hóa quảng đại, Và đạo pháp thần thông. Chuyện kể rằng lần nọ, Theo Thích Ca Mâu Ni Lên Đạo Lợi thuyết pháp, Lúc qua núi Tu Di, Tôn giả đã chiến đấu Với một con rồng đen. Nó muốn giết Đức Phật, Vì độc ác, vì ghen. Con rồng phun cát độc Vào Thích Ca, nhưng ông Đã làm phép, lập tức Biến cát ấy thành bông. Rồi tôn giả sau đó Biến thành một con sâu, Chui vào bụng nó cắn. Nó xin hàng vì đau. 2 Sự tích lễ Vu Lan Theo truyền thuyết nhà Phật, Bà mẹ Mục Kiền Liên Là người không mộ đạo, Báng bổ cả thánh hiền. Bà không tin Đức Phật, Không tin cả Pháp, Tăng. Tam Bảo và Ngũ Giới, Bà cho là nhố nhăng. Nên bà, sau khi chết, Vì tội lỗi của mình, Bị đày xuống địa ngục, Chịu bao nỗi cực hình. Sau thành A La Hán, Tôn giả Mục Kiền Liên, Đạt lục thông, ngũ nhãn, Nhìn thấu hết mọi miền. Ông thấy mẹ chịu khổ Dưới địa ngục âm u, Bát cơm ăn chẳng có, Bị đói khát, cầm tù. Ngay lập tức tôn giả Liền mở phép thần thông, Lần xuống đáy địa ngục, Đưa cơm cho mẹ ông. Bà này khi còn sống Từng tranh ăn với con, Bây giờ xuống địa ngục Thói xấu ấy vẫn còn. Bà vội lấy vạt áo Che bát cơm to đầy, Định lẻn đi ăn mảnh Một mình sau gốc cây. Nhưng vừa đưa lên miệng, Cả bát cơm, than ôi Đã biến thành cục lửa, Cháy hết răng và môi. Dẫu là người hiếu thảo, Lại đệ nhất thần thông, Tôn giả đành bất lực, Không giúp được mẹ ông. Ông quay về Tịnh Xá Tìm gặp Phật Thích Ca, Nhờ Ngài chỉ giùm cách Cứu giúp bà mẹ già. Đức Phật nghe rồi đáp: “Mẹ ngươi quá lỗi lầm, Nên ngươi không thể cứu. Chờ tháng Bảy, ngày Rằm, Ngày chư Phật hoan hỷ, Hãy làm lễ Vu Lan. Mời chư tăng đến dự, Mâm cỗ phải đầy bàn. Trước hết cúng Tam Bảo, Rồi sau mời mọi người. Họ ăn xong, hy vọng Sẽ cứu được mẹ ngươi.” Ngay lập tức tôn giả Đúng theo lời Thích Ca, Làm lễ Vu Lan lớn, Cứu được người mẹ già. Và mọi người từ đấy, Vào ngày này hàng năm, Tổ chức lễ xá tội Cho tổ tiên lỗi lầm. Về sau, chính tôn giả Đã tự nguyện thành người Trông coi chuyện âm phủ Đầy oan trái sự đời. Khi làm lễ xá tội Cho tổ tiên lầm đường, Người ta cúng tôn giả, Bồ Tát Địa Tạng Vương. 3 Tiền kiếp của tôn giả Mục Kiền Liên Cũng theo truyền thuyết Phật, Tôn giả về sau này Chịu cảnh chết đau đơn, Bị chặt hết chân tay. Số là người ngoại đạo, Do ghen ghét với ông, Đã thuê bọn du đãng Gây cảnh ấy đau lòng. Ông đạo pháp bậc nhất, Lại khôn khéo, thông minh, Không cưỡng được số phận, Chết vì tiền kiếp mình. Xưa, một gia đình nọ, Có một người con trai, Rất chăm chỉ, tháo vát, Thông minh và có tài. Tự mình anh quán xuyến Hết mọi việc trong nhà, Không quản ngại vất vả, Hầu bố mẹ đã già. Do bố mẹ nài ép, Anh lấy vợ, về sau Cô thành người độc ác, Gây bao nỗi buồn đau. Cô ta chỉ hầu hạ Bố mẹ chồng hai ngày Rồi bắt đầu nặng mặt, Dọa đi khỏi nhà này. Khốn nỗi, anh yêu vợ, Mà yêu quá thành mù. Trước hiếu tháo là vậy, Giờ nghe vợ thành hư. Một hôm cô vợ ác Vứt phân bẩn đầy nhà, Bảo chồng đó là cứt Của hai cụ mù lòa. Anh chồng không chịu nổi, Đưa hai cụ lên xe, Bảo đi thăm họ mạc, Nhưng đi mà không về. Anh ta bỏ bố mẹ Một mình giữa rừng sâu Để thú dữ ăn thịt, Ngay buổi sáng hôm sau. Người con bất hiếu ấy Là tiền kiếp trước đây Của một đại tôn giả, Mục Kiền Liên kiếp này. Câu chuyện do Đức Phật Kể các học trò nghe, Vừa là để giải thích, Cũng vừa để răn đe.
TÔN GIẢ TU BỒ ĐỀ 1 Thật kỳ lạ: Vào lúc Tu Bồ Đề sinh ra, Không hiểu sao đồ đạc Tự nhiên bay khỏi nhà. Các thầy bói quả quyết Đây là một điềm lành, Rằng sau này đứa bé Sẽ đắc quả, thành danh. Chỉ vài ngày sau đó, Những thứ đã bay đi Bỗng nhiên tự quay lại, Bình thường như mọi khi. Là con nhà giàu có, Từ bé Tu Bồ Đề Đã không quí tiền bạc, Luôn bị bạn cười chê. Cậu thường xuyên bố thí Cho người nghèo đáng thương, Đến mức mẹ cậu giận, Cấm không cho ra đường. Điều này hóa lại tốt. Vì bị nhốt suốt ngày, Cậu chỉ việc đọc sách, Biết hết mọi điều hay. Chưa đến hai mươi tuổi Cậu đã hiểu rất sâu Về triết học, tôn giáo Và cả các phép màu. 2 Một hôm, nghe tin Phật Đến hoằng pháp quê nhà, Ông liền trốn bố mẹ Lén đi gặp Thích Ca. Hôm ấy, đêm trăng sáng. Phật thuyết pháp ngoài trời. Giọng Ngài nghe rất rõ Giữa đám đông nhiều người. Như kẻ bị mất trí, Ông say mê lắng nghe, Rồi đứng lặng, ngơ ngác Khi mọi người đã về. Thậm chí ông không biết Ông đến trước nhà Ngài, Tần ngần đứng cạnh cửa, Không rõ muốn tìm ai. Bỗng nhiên Đức Phật gọi: “Tu Bồ Đề, vào đi.” Ông bước vào, lập tức Xin phép Ngài qui y. Từ đó ông theo Phật, Tận tụy và trung thành, Đắc quả A La Hán, Một người rất nổi danh. Là Giải Không Đệ Nhất, Ông am hiểu mọi điều, Nhìn thấy trước mọi chuyện, Nhưng khiêm tốn, biết điều. Không giống tỳ kheo khác Khất thực hết mọi nhà, Những nơi nào nghèo khổ, Ông cố tình bỏ qua. Ông nói: “Người nghèo đói Đã không đủ cái ăn. Làm họ nghèo thêm nữa Quả là việc không cần.” 3 Một lần nọ, Đức Phật Giảng cho Tu Bồ Đề Về Bố Thí Vô Tướng Ngài đã kể ông nghe Một câu chuyện có thật Từng xẩy ra với Ngài. Một hôm, thiền trên núi Chợt văng vẳng bên tai Tiếng của nhiều cô gái Hỏi Phật sao ngồi đây. Ngài mở mắt và thấy Rằng các cô gái này Rất trẻ và xinh đẹp, Như cung tần, vương phi. Ngài giảng giải cho họ Về khoái lạc, từ bi. Họ lắng nghe chăm chú, Nhưng bỗng nhiên một người Tay cầm gươm chạy đến, Xúc phạm Ngài bằng lời. Ông này mặt độc ác, Xưng là Cát Lợi Vương, Thái độ rất hung hãn, Vẻ giận dữ khác thường. Ông lớn tiếng mắng Phật Dám lả lớt cười đùa Với cung tần mỹ nữ Và hoàng hậu của vua. Ngài đáp: “Người thiền định Không tranh cãi với ai, Chỉ nhẫn nhục chịu đựng.” Nghe thế, hắn bảo Ngài: “Ngươi nói ngươi nhẫn nhục. Vậy thì hãy xem đây!” Hắn vung gươm sáng loáng, Chém Ngài đứt một tay. Ngài vẫn ngồi bình thản. Hắn chém tay thứ hai, Rồi chém chân, tuy vậy, Chẳng làm lung lạc Ngài. Vì Vô Sinh, Vô Ngã, Ngài chẳng oán trách gì. Tên vua kia thấy thế Liền hoảng sợ, trốn đi. Nghe xong câu chuyện ấy, Tôn giả chợt giật mình, Lĩnh hội hết chân lý Của Vô Ngã, Vô Sinh. 4 Cảnh vật núi Linh Thứu Rất hợp với tu hành. Tu Bồ Đề thích sống Ở nơi này tươi xanh. Gặp khi trời tạnh ráo, Ông thiền dưới gốc cây. Đêm, trăng thanh gió mát. Chim thú đến ban ngày. Một hôm ông thiền định Trong hang đá một mình. Ánh sáng ông chiếu dọi Lên tới tận Thiên Đình. Vua trời là Đế Thích Cùng chư vị thiên nhân Mang theo nhiều quà tặng, Cưỡi mây bay xuống trần. Họ cung kính đảnh lễ Tôn giả Tu Bồ Đề, Rồi làm phép, cho gió Rải hoa khắp bốn bề. Tôn giả chắp tay tạ Ân đức các chư thiên, Rồi bình tâm, nhắm mắt, Lại tiếp tục ngồi thiền
TÔN GIẢ A NA LUẬT Tôn giả A Na Luật Vốn dòng dõi vương gia, Có tư chất thiên phú Và tướng mạo hài hòa. Ngài thông minh, mẫn tiệp Từ thuở còn thiếu niên. Lớn lên ham hiểu biết, Thấu hiểu đạo thánh hiền. Khi đắc đạo, Đức Phật Trở về thành Ca Tỳ, La Hầu La, con Phật Đòi xuất gia, theo đi. Vua Tịnh Phạn, bất lực Phải cam lòng, và rồi Lập Bạt Đề Thái tử. Là người sẽ nối ngôi. Nhưng rồi sau, Thái tử Cùng sáu vị vương gia Đều tình nguyện theo Phật, Nên khi vua băng hà Sức cảm hóa của Phật Mạnh đến mức Hoàng Gia Rất nhiều người theo Phật, Kể cả A Nan Đà. Và rồi A Na Luật, Đáng lẽ thay anh trai Lên ngôi vua, rốt cục Ông đã đi theo Ngài. 1 Tôn giả A Na Luật Từ Tịnh Xá Kỳ Đà Có công chuyện phải tới Đất nước Kiều Tát La. Đêm, đường xa, vắng vẻ, Trời ẩm ướt đầy sương. Không còn cách nào khác, Phải ngủ lại dọc đường. Có một làng quê nhỏ Đèn le lói, không xa. Ngài đến gần, do dự Rồi bước vào một nhà. Không may trong nhà ấy Duy nhất chỉ một người. Một cô gái xinh đẹp, Tuổi mười chín, đôi mươi. Ngài cảm thấy bất tiện, Lưỡng lự, định không vào. Nhưng cô gái xinh đẹp Cứ nhất định mời chào. Trời đang mưa nặng hạt. Gió hun hút giữa đồng. Cuối cùng, cực chẳng đã, Ngài theo cô và trong. Cô niềm nở tiếp đón, Dọn thức ăn cho ngài. Múc nước ngài rửa ráy, Rồi đóng cửa trong ngoài. Cô gái xinh đẹp ấy, Giữa đêm khuya vắng người, Bắt đầu có lời nói Và việc làm lả lơi. Tôn giả A Na Luật Ăn xong, ngồi định thiền, Chỉ mong trời chóng sáng. Nhưng cô không cho yên. Hai mắt ngài nhắm chặt, Tư thế vững như đồng. Nhưng đến khi cô gái Lả lơi ngồi vào lòng, Ngài liền đứng bật dậy, Nghiêm mặt trách cô nàng, Rằng làm thân con gái Phải ý tứ, đàng hoàng. Nhất là với những vị Đã quy y, xuất gia. Và rằng cư xử thế Là phạm tội dâm tà. Rằng tình yêu xác thịt Xưa nay là cội nguồn Của trầm luân bể khổ, Ghen tuông và đau buồn. Những lời nghiêm khắc ấy Đã làm nguội lửa tình. Cô hối hận, xấu hổ, Suy ngẫm lại chính mình. Hôm sau, cô xin phép Ngài cho cô cùng đi Đến diện kiến Đức Phật Mong được thành sư ni. * Tôn giả A Na Luật Một hôm nghe giảng Kinh, Mệt quá, rồi ngủ thiếp. Mọi người thấy, bất bình. Đức Phật nhẹ nhàng nói: “Đã một lòng theo ta, Nghe Kinh là việc trọng. Sao có thể lơ là?” Xấu hổ, A Na Luật Liền phát nguyện: “Từ nay Sẽ không bao giờ ngủ. Cả đêm cũng như ngày.” Và rồi, do không ngủ, Mắt dần dần sưng vù. Đau đớn và khó chịu. Cuối cùng ngài thành mù. Tuy nhiên, nhờ tinh tấn Và tu tập hết lòng, Ngài chứng A La Hán, Có phép thiên nhãn thông. Tức dù mù không thấy, Nhưng ngài có phép thần Nhìn xa nghìn vạn dặm Cả cõi trời, cõi trần. Một hôm, có người báo Ngài phạm tội sát sinh. Là do khi đi dạo Dẫm chết kiến vô tình. Đức Phật nghe, liền đáp: “Nếu không muốn trong lòng, Thì không phải là tội.” Và không quở trách ông. Lúc nghỉ ngơi, nhân tiện Tôn giả A Nan Đà Hỏi sao A Na Luật Phải chịu cảnh mù lòa. Đức Thế Tôn đã kể Một câu chuyện thế này, Lại chuyện về Nhân Quả, Hàng vạn kiếp trước đây. * Một người phụ nữ nọ Mắc chứng bệnh mù lòa, Bèn tìm đến thầy thuốc Xin chữa bệnh cho bà. Bà hứa, nếu chữa khỏi, Nhìn rõ như trước đây, Bà sẽ làm đầy tớ Cho ông thầy thuốc này. Sau một tháng chữa trị, Mắt bà sáng, nhưng khi Thầy thuốc hỏi, bà nói: “Tôi chẳng nhìn thấy gì.” Vì bà sợ lời hứa Làm đầy tớ cho ông, Nên tìm cách nói dối, Dẫu áy náy trong lòng. Ông thầy thuốc biết thế, Nhưng không nói một lời. Nhỏ thêm hai giọt thuốc. Bà bị mù suốt đời. * Kể xong, Đức Phật nói Rằng ông thầy thuốc này Là một trong nhiều kiếp Của tôn giả trước đây. Ác giả thì ác báo. Đó là luật của Trời. Không ai thoát được nó. Cả thánh và cả người.
TÔN GIẢ U PÀ LY 1 Xưa, xã hội Ấn Độ Được phân định rõ ràng Thành bốn đẳng cấp chính, Theo nghèo hèn, cao sang. Đẳng cấp cao quí nhất Là giới Bà La Môn, Đa phần là giáo sĩ, Chăm sóc việc phần hồn. Tiếp đến là đẳng cấp Có tên Sát Đế Ly, Chuyên làm vua, làm tướng, Áo mũ rất uy nghi. Phía dưới nữa một chút Là đẳng cấp Phệ Đà, Gồm các bậc điền chủ Và chủ xưởng, thương gia. Thủ Đà La sau rốt, Đẳng cấp người ít tiền Nhưng làm lụng vất vả, Như nông dân, thợ thuyền. Cuối cùng là đẳng cấp Gọi là Chiên Đà La, Đổ phân, làm nô lệ Hay hầu hạ trong nhà. Người của đẳng cấp dưới Chạm vào người cấp trên Được xem như tội lỗi Bị đánh hoặc phạt tiền. Mà những người “bị chạm”, Phải vội vã về nhà, Sám hối cả tuần lễ , Lấy nước sạch lau da. Thậm chí người “hạ tiện” Không được chạm vào trâu Của những người “ưu tú” Thuộc các đẳng cấp giàu. 2 U Pà Ly, bố mẹ Là người Thủ Đà La, Nghèo khổ và vất vả Nhưng hơn Chiên Đà La. Lớn lên, để kiếm sống Và giúp đỡ gia đình, Ông làm nghề cắt tóc, Đứng ngoài đường, một mình. Năm tròn hai mươi tuổi, Thông minh và khéo tay, Ông thành thợ rất giỏi, Nổi tiếng cả vùng này. Năm năm trăm tám bảy, Trước Công Nguyên, tất nhiên, Phật trở về La Vệ, Rồi sang nước láng giếng. Sáu nhà quí tộc trẻ Lần ấy muốn xuất gia, Gồm cả A Na Luật Và Đề Bà Đạt Ba. Họ lên đường tìm Phật, Mang theo một túi tiền, Định thấy ai nghèo khổ Thì cho để cầu duyên. Và rồi, một ngày nọ Họ gặp U Pà Ly, Hỏi đường tới biên giới. Ông tình nguyện đưa đi. Thấy ông nghèo, vất vả, Trung thực và chân thành, Họ cho túi tiền ấy, Rồi chúc điều tốt lành. U Pà Ly mở túi, Thấy có rất nhiều tiền, Thừa để sống no đủ Cả đời không lo phiền. Ông suy nghĩ một chốc Rồi treo nó lên cây. “Ai thấy trước thì lấy. Còn mình thì từ nay Sẽ xuất gia theo Phật.” Ông nghĩ thế, và rồi Đuổi theo mấy người nọ, Một chốc thì đến nơi. “Tôi muốn theo các vị Tìm Phật để qui y.” Mấy người kia đồng ý Rồi tất cả cùng đi. “Túi tiền ông được tặng Sao không thấy mang theo?” Một người hỏi. Ông đáp: “Tôi để cho người nghèo.” Khi đến nơi, gặp Phật, Kể Ngài nghe chuyện này, A Na Luật liền nói: “Chúng con cúi xin Thầy Cho ông xuất gia trước Thành huynh trưởng chúng con. Để mọi người được biết Giờ đẳng cấp không còn.” Dẫu xuất thân nghèo khổ, Chỉ một thời gian sau Ông tu hành, đắc quả, Thành tôn giả hàng đầu. Là Trì Luật Đệ Nhất, Tôn giả U Pà Ly Được mọi người kính trọng, Không ai dám khinh khi. 3 Có một cô gái nọ Muốn theo Phật xuất gia, Nhưng bố mẹ không chịu, Bắt lấy chồng, ở nhà. Cuối cùng chồng đồng ý Cho cô được qui y. Cô dọn đến Tịnh xá Của các tỳ kheo ni. Mọi việc đều tốt đẹp. Cô rất vui, tiếc thay, Cái bụng dưới chiếc áo Cứ lớn lên hàng ngày. Và rồi loan tin dữ: Một ni sư có bầu. Sư có bầu, thật lạ. Vì sao và ở đâu? Mặc cho sư giải thích Rằng sư đã có chồng Trước khi nhập nhà Phật, Mọi người cứ nói: Không! Thế là ni sư trẻ Suýt bị đuổi về nhà. May tôn giả kịp đến, Cho mời một sư bà Vào phòng kín hỏi chuyện, Tính kỹ tháng và ngày Kể từ khi cô cưới Và từ ngày đến đây. Rồi sư bà tuyên bố Cái thai này cô mang Là của anh chồng cũ, Chính xác và rõ ràng. Cô không hề phạm giới, Vẫn được làm tỳ kheo. Đứa bé sinh, khỏe mạnh, Được mọi người yêu chiều. Một hôm Ba Tư Nặc, Ông vua béo thương người, Đi ngang qua Tịnh xá, Bỗng nghe tiếng trẻ cười. Vua ngạc nhiên cho hỏi, Thì được kể chuyện này. Ngài nhận nuôi đứa bé, Dạy dỗ nó hàng ngày. Về sau đứa bé ấy Nổi tiếng rất nhân từ, Một nhà thuyết pháp giỏi, Dẫu có mẹ là sư. Còn mẹ chú sau đó, Nhờ có U Pà Ly, Chứng quả A La Hán Trong số tỳ kheo ni.