Chăm Sóc Bé - Loạt Bài Những Vấn Đề Liên Quan Đến Bé Giúp Bạn Tìm Hiểu Các Vấn Đề Của Bé

Thảo luận trong 'Các vấn đề chăm sóc khác' bởi liti85, 17/10/2009.

  1. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Chăm sóc bé sơ sinh từ 1 đến 12 tháng tuổi


    Chăm sóc bé sơ sinh 1 tháng tuổi

    [​IMG] Thay tã cho bé thường xuyên. Bé ở độ tuổi này thường đi tiêu khỏang 2-4 lần mỗi ngày, thường ngay sau khi bú xong. Bé bú bình có thể đi tiêu một ngày một lần. Điều quan trọng là xem phân bé có tốt hay không.

    [​IMG]Cắt móng tay cho bé để bé không tự cào xước mình.

    [​IMG]Bảo đảm rằng bé được đặt trên 1 cái ghế an tòan theo quy định nếu như bạn cho bé ngồi trên xe hơi.

    [​IMG]Khi bé khóc, bạn hãy ẳm bé lên và nói nhẹ nhàng với bé hay vuốt ve đầu, lưng, chân, tay bé.

    [​IMG]Mang bé bằng một cái địu cài phía trước nếu bạn có thể. Sự tiếp xúc và sự ấm áp cho bé cảm giác an tòan, che chở và sự di chuyển cũng giúp bé phát triển tốt cảm giác cân bằng.

    [​IMG] Hãy chọn cho bé một bác sĩ, một người mà bạn có thể tin cậy và giao tiếp được. Bạn nên biết những thông tin về bác sĩ để làm sao có thể đưa bé đến gặp bác sĩ sớm nhất trong trường hợp khẩn cấp. Nên nhớ rằng bạn cần đưa bé đi kiểm tra một tháng sau khi sinh.

    [​IMG]Nếu bạn đã có bé lớn, cố gắng dành thời gian cho bé. Bé sẽ ganh tị với em và tự tin hơn khi bé cãm thấy rằng mình cần ngồi gần và chăm sóc em bé. Luôn để những số điện thọai khẩn cấp ngay bên cạnh điện thọai như cảnh sát, phòng cháy chữa cháy, bác sĩ, cứu thương,…
    Chăm sóc bé sơ sinh 2 tháng tuổi

    [​IMG]Tránh cho con bạn khỏi bị té ngã trong thời gian này. Đừng để ghế của bé gần những nơi mà bé có thể kéo lấy và làm ngã.
    [​IMG]Tránh cho bé bị rôm sảy do tã gây nên bằng cách lau rửa bé mỗi khi thay tã và bảo vệ làn da nhạy cảm của bé bằng một lớp mỏng phấn em bé.

    [​IMG]Khi tắm cho bé, hãy lót trong chậu tắm một khăn tắm để tránh trường hợp bé bị trượt trong chậu. Giữ chắc bé. Lau mắt, tai và mũi bé nhẹ nhàng bằng khăn mềm, không dùng khăn cứng để lau cho bé.

    [​IMG]Đưa bé đi tiêm ngừa và kiểm tra sức khỏe. (xem lịch tiêm chủng)


    Chăm sóc bé sơ sinh 3 tháng tuổi

    [​IMG]Để những vật kích thước nhỏ cách xa bé. Đừng cho bé giữ những vật mà bé có thể nuốt gây ngạt thở cho bé.

    [​IMG]Nếu bé ngủ trong nôi, hãy cho bé một cái nôi rộng. Bé cần nhiều khỏang trống cho những họat động của mình. Hãy để ý rằng khỏang cách giữa 2 chấn song của nôi không rông hơn 6 cm và cao ít nhất là 70 cm tính từ mặt nệm trở lên.

    [​IMG]Khi bế bé ra ngòai, hãy mặc đồ cho bé theo như bạn cảm thấy thích hợp. đừng quấn bé trong 3 tấm chăn trong khi bạn chỉ mặc 1 áo.

    [​IMG]Ngay cả khi bạn không đi ra ngòai nhiều, bạn cũng cần tìm trước một người giữ trẻ cho thời gian bạn đi làm sắp tới. Bạn cũng nên nhớ mời họ đến gặp bé trước để tạo mối quan hệ.

    Theo: giadinhenfa​
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi liti85
    Đang tải...


  2. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Chăm sóc bé sơ sinh 4 tháng tuổi


    [​IMG]Hãy kiểm tra độ an tòan của những đồ chơi của bé. Hãy bảo đàm rằng những nút kim lọai trong những đồ chơi bé cầm, nắm không bị bong ra cũng như những con mắt bằng plastic trong những con thú nhồi bông, búp bê, … không bị bong ra. Luôn nhớ rằng bé có thể bỏ chúng vào miệng và bị ngạt thở vì những vật này.

    [​IMG] Nếu bé có dùng núm vú giả, đừng mắc chúng vào một cái vòng và đeo quanh cổ bé, vì nó có thể làm bé ngạt thở.

    [​IMG]Nếu bé mọc răng trong tháng này, những vòng để bé cắn cho đỡ ngứa răng nên được giữ trong tủ lạnh vì vòng cắn mát làm bé thích và khi vòng cắn hết mát, bạn hãy đưa cho bé cái mới.

    [​IMG]Đưa bé đi khám bác sĩ cho đợt tiêm ngừa thứ hai và kiểm tra sức khỏe. (xem lịch tiêm chủng)

    Chăm sóc bé sơ sinh 5 tháng tuổi

    [​IMG]Chuẩn bị cho bé chiếc ghế đặc biệt. Ở tuổi này, bé rất dễ té khỏi chiếc ghế ngồi bình thường.

    [​IMG]Bạn hãy chuẩn bị những đồ vật che chắn trong nhà để bảo vệ bé vì ở tuổi này, bé sẽ trườn từ phòng này qua phòng khác, lấy những đồ vật trên bàn, cầm dây điện,…


    Chăm sóc bé sơ sinh 06 tháng tuổi

    [​IMG]Chuẩn bị dọn dẹp đồ vật trong nhà để an tòan cho bé. Dùng nắp đậy các ổ điện lại, lấy dây điện khỏi tầm với của bé. Lấy những vật nhỏ khỏi sàn. Bảm đảm rằng không có sơn có chưa chì ở những đồ gỗ hay ở bề mặt những đồ vật mà bé có thể rướn tới.

    [​IMG]Nếu nhà bạn có cầu thang, hãy làm rào chắn lại. Cất thuốc và chất tẩy rửa ở những nơi cao ráo và khóa lại. Nếu có lò sưởi hãy che chắn cẩn thận. Kiểm tra độ rộng giữa các thanh, độ cao của chắn cầu thang và cẩn thận với ban công để tránh cho bé khỏi bị rơi ngã.

    [​IMG]Chuẩn bị một ba lô mang em bé và đưa em bé ra công viên, nơi đi dạo, mua sắm, hay những nơi thú vị khác.

    [​IMG]Đưa bé đến bác sĩ để bé được kiểm tra sức khỏe và tiêm ngừa.

    Theo: giadinhenfa​
     
    TuUyen_010409 thích bài này.
  3. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Chăm sóc bé sơ sinh 7 tháng tuổi


    [​IMG]Để ý các triệu chứng mọc răng của bé: bé kéo tai, mút môi dưới và có thể sốt nhẹ hay phân của bé hơi thay đổi.

    [​IMG]Hãy cho bé cái vòng nhai đã được giữ trong tủ lạnh để bé nhai. Nếu các triệu chứng vẫn còn, hãy hỏi bác sĩ của bé.

    [​IMG]Khi bạn không thể trông bé được, hãy cho bé vào xe cũi với vài món đồ chơi. Môi trường nhỏ này, đôi khi tốt cho bé trong vài trường hợp.


    Chăm sóc bé sơ sinh 8 tháng tuổi

    [​IMG]Cất tất cả những vật dễ vỡ, bén, nhọn khỏi những ngăn ké thấp, những cái tủ trong nhà bếp, những nơi mà bé rất thích chơi đùa. Bạn nên làm những cái chắn đặc biệt để ngăn bé vào những nơi nguy hiểm để bảo vệ bé tốt hơn.

    [​IMG]Nhớ để dành thời gian cho những bé lớn nếu bạn có. Bé sẽ ít có sự ganh tỵ với em và tự tin hơn khi bé cảm thấy rằng mình cần ngồi gần và chăm sóc em bé.

    [​IMG]Cần có những số điện thọai cho những trường hợp khẩn cấp: cảng sát, cứu hỏa, bác sĩ, cứu thương,…


    Chăm sóc bé sơ sinh 9 tháng tuổi


    [​IMG] Bảo đảm rằng trong nhà bạn không có những cây có độc hay những mảnh vụn của nó. Ví dụ như những cây ráy thơm, tai voi, thủy tiên, thủy tiên hoa vàng, cây nhựa ruồi, cây tầm gửi, cây trạng nguyên,..

    [​IMG]Giữ không cho bé vào phòng tắm trừ khi bạn có trong đó. Hãy để thuốc trong nhà nằm ngòai tầm tay với của bé.

    [​IMG]Cho bé biết một vài điểm cần nghiêm khắc trong mốu quan hệ giữa bạn với bé. Đừng chạy đến nôi bé mỗi khi bé khóc vào ban đêm.

    [​IMG]Bắt đầu cho bé biết những dấu hiệu của sự nguy hiểm. Khi bé cố leo lên một cái lò, bạn hãy nói với bé “Nóng” bằng một giọng thấp và kiên quyết. Nếu bạn thấy bé lấy cái nắp bảo vệ ra khỏi ổ điện hãy bảo bé “Không”. Bạn muốn bé dừng lại vừa đủ để bạn đến đưa bé ra khỏi những chổ nguy hiểm đó.

    [​IMG]Đưa bé đi kiểm tra sức khỏe khi được tròn 9 tháng tuổi. Lần kiểm tra sức khỏe này rất quan trọng để biết về sự phát triển và tăng trưởng của bé.


    Theo: giadinhenfa​
     
  4. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Chăm sóc bé sơ sinh 10 tháng tuổi


    [​IMG]Giúp bé vượt qua nỗi sợ với người lạ bằng cách thường xuyên đưa bé ra ngòai khi làm những công việc lặt vặt.
    [​IMG]Những lúc tắm, bạn hãy khuyến khích bé tự chăm sóc mình bằng cách cho bé tự lau rửa. sau đó đưa khăn cho tắm cho bé để bé lau khô. Bạn có thể giúp bé khi cần thiết.

    [​IMG]Nếu bé quấy khóc ban đêm, bạn không nên chạy đến nôi của bé ngay lập tức. trẻ em ở tuổi này thỉnh thỏang có một vài vấn đề về giấc ngủ và bé cần cách học cách trở lại giấc ngủ bình thường.


    Chăm sóc bé sơ sinh 11 tháng tuổi

    [​IMG]Khi bé làm đổ nước, thức ăn, bạn nên khuyên nhủ bé và ôm bé. Đừng xem đó là một bi kịch.

    [​IMG]Một vài tai nạn nhỏ có thể xảy ra khi bé bắt đầu tập đi.

    [​IMG]Để bé tập đi bằng chân không trong nhà những lúc có thể, để cơ chân bé phát triển khỏe mạnh. Khi mua giày cho bé, nên mua những đôi có đế mềm và có phần cổ giày kinh động. Chúng sẽ giúp bé tập những buớc đi khỏe mạnh hơn.

    [​IMG]Cho bé tắm trước khi đi ngủ, nó sẽ giúp bé dễ chịu hơn sau một ngày bận rộn và bé sẽ rơi vào giấc ngủ nhanh hơn.

    [​IMG]Dạy cho bé những cách cư xử lịch sự ngay từ bây giờ. Luôn mở đầu những yêu cầu của bạn bằng những câu như: “Vui lòng” hay “Cảm ơn” sau khi kết thúc công việc và khi bé đã làm như bạn yêu cầu. Hãy cho bé biết đánh giá của bạn.

    Chăm sóc bé sơ sinh 12 tháng tuổi

    [​IMG] Bạn hãy bảo đảm rằng những vật năng trên bàn và kệ sách không bị đổ ngược vào gây tổn thương cho bé. Để những vật nóng vào sâu trong bếp và đừng để những vật bén, nhọn trên ghế hay bàn thấp.

    [​IMG]Đưa bé đến bác sĩ đểm khám định kỳ 12 tháng và tiêm ngừa.

    Theo: giadinhenfa​
     
    monalisa09 thích bài này.
  5. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Những vấn đề liên quan đến đầu

    1. Thóp.


    [​IMG] Thóp là vùng mềm giữa các xương sọ bên trên trán của trẻ sơ sinh. Thóp sẽ cứng lại ở khoảng từ 8 tới 18 tháng tuổi: các xương sọ lúc đó sẽ liền lại. Nếu cháu bé đã ngoài 2 tuổi mà thóp vẫn còn mềm, bà mẹ cần nói cho bác sĩ biết. Ngược lại nếu mới trong 1, 2 tháng đầu mà cháu bé đã không còn thóp nữa, thì đấy cũng là điều bất thường, có ảnh hưởng không hay tới sự phát triển của đứa bé.

    [​IMG] Các bà mẹ thường thấy thóp căng ra khi cháu bé khóc: đó là việc bình thường. Cả hiện tượng nhìn thấy và sờ thấy thóp phập phồng cũng vậy.

    [​IMG] Thóp lúc nào cũng phải dẹt và đàn hồi. Nếu thóp bị phồng căng lên thì là hiện tượng bất thường: Bé có thể bị bệnh ở màng óc. Nếu thóp hõm xuống là biểu hiện cơ thể bé thiếu nước.

    [​IMG] Nếu vì một tai nạn nào đó mà thóp bị va mạnh hoặc tổn thương, phải đưa bé vào bệnh viện ngay.


    2. Vẩy trên đầu.

    [​IMG] Nếu đầu cháu có những vẩy nhỏ, phải bôi va-dơ-lin lên mỗi chiều rồi hôm sau gội đầu cho cháu bằng loại xà bông nhẹ (shampoing). Nếu không khỏi, cần hỏi các bác sĩ da liễu.

    [​IMG]

    3. Bệnh viêm màng não.


    Ngày nay, bệnh viêm màng não là một bệnh đáng ngại, tuy rằng việc chẩn đoán và phát hiện bệnh có nhiều điều kiện để thực hiện được nhanh hơn trước.

    Một triệu chứng rõ nhất ở trẻ sơ sinh là khi các cháu bị bệnh viêm màng não thì thóp bị căng và phồng lên: cần phải đưa cháu đi bệnh viện hoặc tới bác sĩ ngay.

    Những triệu chứng ở các cháu lớn : nôn ói nhiều, phọt ra thành tia, sốt, đau đầu và đặc biệt là hiện tượng bị cứng gáy không thể gập cổ lại, để cằm đụng được ngực như ngày thường giống với mọi người. Ở bệnh viện, người ta thường phải lấy nước tủy để xét nghiệm xem cháu bị bệnh do vi trùng hoặc virut.

    [​IMG] Bệnh viêm màng não do vi trùng - Làm cho nước tủy của cháu bé bị bệnh có mủ:
    Cháu bé càng nhỏ thì bệnh càng nguy hiểm. Một số vi trùng có thể là nguyên nhân của bệnh này như vi trùng bệnh phổi (phế cầu trùng), liên cầu trùng, hoặc hémophilus. Bệnh này có thể xuất hiện thành dịch. Trong thời gian có dịch, người ta có thể lấy chất mẫu ở họng những trẻ nghi bị bệnh để xét nghiệm và phát hiện những trẻ có mang vi trùng. Ðối với những người có tiếp xúc với người bệnh và các trẻ bị bệnh, bác sĩ thường cho uống thuốc kháng sinh hoặc thuốc sulfamide trong 5 ngày liền để trị hoặc phòng bệnh. Hiện nay, đã có thuốc tiêm phòng vi trùng hémophilus, nhưng chưa có thuốc phòng bệnh hữu hiệu đối với màng não cầu.

    [​IMG] Bệnh viêm màng não do vi rút - Chất lỏng lấy ra từ cột sống các cháu bị bệnh này do vi rút thường trong vắt, không có mủ và vi trùng. Những triệu chứng của bệnh cũng giống như trên, nhưng nhẹ hơn. Không cần thuốc kháng sinh bệnh cũng tự khỏi trong vài ngày, người ta phát hiện bệnh bằng cách xét nghiệm kháng thể trong máu. Bệnh có thể do cháu bị quai bị hay nhiễm một số vi rút khác.

    [​IMG] Bệnh viêm màng não do lao - Hiện nay hiếm thấy vì các cháu đã được tiêm BCG phòng lao từ nhỏ.


    4. Bé rụng tóc hoặc không có tóc.

    [​IMG] Nhiều bà mẹ lo ngại con mình bị hói vì quãng đầu Bé đè lên gối khi nằm, không có tóc. Thật ra, hiện tượng này là bình thường, chỉ do vì ma sát mà thôi. Lẽ dĩ nhiên, có nhiều đứa trẻ khác cũng nằm như thế mà vẫn có tóc. Nhưng, tóc Bé có thể mảnh mai hơn, dễ rụng hơn và cháu hay nằm lâu ở một tư thế hơn là các Bé khác, đặc biệt là nằm ngửa.

    [​IMG] Nếu cháu đã lớn nhưng vẫn rụng tóc thì rõ ràng là có vấn đề cần chú ý: có thể cháu bé có thói quen giật tóc hoặc soắn tóc mình. Ngoài ra, sau khi khỏi bệnh sốt thương hàn cũng bị rụng tóc. Một số dược phẩm, thuốc uống cũng có tác dụng như vậy.

    [​IMG] Một số ít các cháu có những mảng da trống không có tóc trên đầu do bị nấm tóc, cần phải chữa trị ngay vì bệnh này có thể kéo dài và lây.

    [​IMG] Một số trẻ từ 2 tuổi trở lên bị rụng tóc từng mảng lại do những nguyên nhân tám lý.

    Nói chung,
    khi xác định một đứa trẻ có chứng rụng tóc, cần phải đưa cháu tới bác sĩ để tìm nguyên nhân và chữa trị .


    5. Chấy.

    Một cháu bé sạch sẽ vẫn có thể lây chấy của các cháu khác, các cháu có chấy hay gãi đầu vì bị ngứa. Nhìn kỹ vào tóc của các cháu, bạn sẽ thấy các trứng chấy nhỏ, tròn, mầu xám bám vào tóc.

    [​IMG] Hãy gội đầu hàng ngày cho cháu bằng các chất thuốc chống chấy bán ở hiệu thuốc trong 5 ngày liền. Hãy dùng xà phòng gội kỹ lại, chải tóc bằng lược bí (có răng lược khít).

    [​IMG] Nhúng lược vào dấm nóng để chải rồi lấy khăn sạch trùm lên tóc các cháu một hồi lâu.

    [​IMG] Thay và giặt áo gối, khăn trải giường và quần áo mỗi ngày cho các cháu!


    6. Mắt.


    Những vấn đề về mắt đã được đề cập trong những mục: đau mắt đỏ, chắp, lác v.v...

    [​IMG]

    [​IMG] Nếu đau mắt vì bị chấn thương cần phải tới ngay bác sĩ chuyên khoa mắt để khám mắt. Tất cả các hiện tượng bất thường ở mắt nói chung; ở giác mạc, thủy tinh thể, con ngươi nói riêng, đều ảnh hưởng tới thị giác và có thể làm khả năng nhìn của cháu bé kém đi.

    [​IMG]
    Phát hiện mắt kém - Cũng như việc nghe kém, việc nhìn kém của các cháu cần phải phát hiện và tìm nguyên nhân từ sớm. Thí dụ: hiện tượng lác mắt cần phải luyện tập cho các cháu cách nhìn theo một phương pháp riêng để chữa trị và luyện tập càng sớm càng tốt.

    [​IMG] Có nhiều phương pháp thử nghiệm để phát hiện xem các cháu có bị kém về thị giác hay không. Có cháu mới được vài tháng cũng cần phải đeo kính.


    7. Giảm thị lực.

    Trẻ mới được mấy tháng có thể mắc chứng giảm thị lực nhìn không tinh ở một bên hay cả hai bên mắt. Có thể thử đơn giản bằng cách rọi tia sáng vào mắt cháu rồi theo dõi phản ứng. Nếu có nghi ngờ gì phải đưa cháu đến bác sĩ chuyên khoa mắt.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  6. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    8. Chắp (lẹo) mắt.


    [​IMG] Chắp mắt là loại mụn nhỏ mọc ở bờ mi mắt, dưới chân một lông mi. Chắp chóng khỏi nhưng dễ bị lại. Muốn trị chắp, chỉ cần bôi lên chắp loại pommát kháng sinh.

    [​IMG] Nguyên nhân chắp là do một loại tuyến nhỏ ở bờ mi bị nhiễm trùng.

    [​IMG]

    9. Chứng lác mắt.

    Trong mấy tháng đầu, có lúc mắt trẻ sơ sinh có vẻ như hơi lác. Hiện tượng này về sau tự nhiên sẽ hết, vì trong những ngày đầu của cuộc sống, hai mắt các cháu chưa phối hợp khớp với nhau mà thôi.

    Nhưng, nếu hiện tượng này kéo dài và thường xuyên thì bà mẹ phải đưa cháu tới bác sĩ chuyên khoa mắt ngay, càng sớm càng tốt.
    Lác thường là khuyết tật của một bên mắt. Cần phải tập luyện cho bên mắt bị tật. Bác sĩ sẽ băng kín bên mắt không bị tật lại để luyện tập cho mắt kia hoặc cho cháu đeo kính có mắt kính đặc biệt để điều chỉnh hướng nhìn cho mắt cháu. Khi mắt cháu đã nhìn được bình thường rồi bác sĩ có thể thực hiện thêm một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ nhỏ nữa.


    10. Ðau mắt đỏ.

    Nhiều khi các cháu nhỏ vừa bị ho, vừa đau mắt đỏ. Lòng trắng mắt ngứa, hơi sưng và màu đỏ. Khi cháu hết ho, thì mắt cũng khỏi.

    [​IMG] Nếu cháu chỉ bị đau mắt thôi, lòng trắng mắt màu đỏ, luôn chảy nước mắt, buổi sáng mí mắt dính vào nhau vì dỉ màu vàng đến nỗi cháu không mở mắt được, thì phải đưa cháu tới bác sĩ khám mắt. Trong khi chưa có bác sĩ, bạn có thể rửa nhẹ nhàng mắt cháu bằng nước ấm.

    [​IMG] Nếu cháu mới được mấy tuần mà đã bị đau mắt như vậy thì chúng ta phải tìm xem có phải cháu bị tắc ống lệ đạo hay không. Lệ đạo là đường dẫn nước mắt.

    [​IMG] Chứng đau mắt của trẻ sơ sinh - Cháu bé khi mới sinh ra dễ bị lây nhiễm chất bẩn hay vi trùng vào mắt. Bởi vậy, khi mới lọt lòng, cháu thường được các bà đỡ tra thuốc phòng bệnh vào mắt như dung dịch nitrat bạc.

    Vì nitrat bạc cũng không trừ diệt được một số vi trùng như trùng bệnh chlamydia, ngày nay người ta thường nhỏ thêm thuốc kháng sinh như cycline.

    Khi một cháu bé vừa sốt, ho, và mắt rất đỏ, cũng nên nghĩ tới một số bệnh do vi rút gây ra, chẳng hạn như bệnh sởi.


    11. Xỏ lỗ tai.

    Một số bà mẹ muốn xuyên vành tai dưới cho con gái để đeo đồ trang sức. Việc làm này không có gì nguy hiểm với điều kiện các dụng cụ dùng để xuyên lỗ tai cho trẻ phải được rửa sạch và tiệt trùng cẩn thận, nhất là hiện nay, khi đang có dịch bệnh AIDS tràn lan trong thành phố.

    [​IMG]

    12. Viêm xương chũm ở tai.

    Sau vành tai mỗi người chúng ta đều có một gò xương vồng lên với đặc điểm là có những điểm nhỏ hõm xuống, vì thế được gọi là xương chũm. Trong số các hõm này, quan trọng nhất là hõm thông với tai trong. Khi tai giữa bị viêm, hõm này dễ bị nhiễm trùng và mưng mủ.

    Ngày nay, chứng viêm xương chũm không còn phổ biến như trước kia. Nhưng việc phát hiện các cháu nhỏ, nhất là các cháu sơ sinh mắc chứng này ở giai đoạn đầu rất khó, vì các cháu chỉ biết khóc mà không nói được là đau ở đâu.

    Bởi vậy, các bà mẹ cần chú ý, khi thấy tai của cháu bé chảy nước hay chảy mủ nhiều, màng nhĩ có sắc thái khác thường, cháu bị sốt và người gầy rộc đi. Cần đưa cháu tới bác sĩ chuyên khoa tai-mũi-họng để khám. Nếu việc uống thuốc kháng sinh đã kéo dài mấy tuần mà cháu vẫn không khỏi thì phải phẫu thuật để chữa trị.


    13. Viêm tai trong.

    Phần trong tai, sau màng nhĩ khi bị viêm thường kèm theo viêm họng. Các cháu bé sơ sinh hay bị chứng viêm này vì trong tư thế nằm, con đường thông nhau giữa tai và sau mũi trở nên rộng thoáng khiến vi trùng và vi rút dễ lây lan ở cả 2 nơi.

    [​IMG]

    [​IMG] Những biểu hiện ở cháu bé - Những cháu bé chưa nói được khiến người lớn không biết cháu đau ở trong tai. Cháu có thể khóc, cọ tai xuống gối, nhưng cũng không đủ để mọi người hiểu. Tuy vậy, có một số triệu chứng sau làm chúng ta có thể nghĩ tới chứng viêm tai trong: cháu bị rối loạn tiêu hóa, đi tướt (ỉa lỏng), nôn ói, ho, cựa quậy luôn và khó ngủ. Việc đầu tiên của bác sĩ là khám tai và coi nhĩ tai cho cháu.

    Với các cháu lớn thì việc xác định bệnh dễ dàng hơn vì các cháu nói được là thấy đau trong tai.

    [​IMG] Phương pháp chữa trị - Thoạt đầu, khi tai bé bắt đầu bị sưng, đau, bác sĩ thường cho thuốc nhỏ vào tai để giảm đau. Sau này khi chỗ viêm đã có mủ, nhiều khi bác sĩ tai-mũi-họng phải tìm cách chọc một lỗ thủng ở nhĩ làm lối thoát cho mủ chảy ra và lấy mủ xét nghiệm xem chỗ viêm bị loại vi trùng hay vi rút nào gây bệnh.

    [​IMG] Hiện tượng tai chảy mủ - nhĩ có thể tự thủng để mủ chảy ra ngoài. Trường hợp này vẫn cần phải đi khám bác sĩ chuyên khoa tai-mũi-họng, vì như vậy chưa phải là bệnh sẽ hết. Ngay việc cho các cháu uống thuốc kháng sinh, bác sĩ cũng phải cân nhắc và theo dõi. Nhiều khi nhìn bề ngoài nhĩ, tưởng như đã khỏi vì thuốc có tác dụng nhanh nhưng thật ra không phải như vậy. Bệnh vẫn âm ỉ, chưa khỏi hẳn và có những biến chứng vào xương chũm khiến đứa trẻ sút cân, gầy yếu, và tới một lúc nào đó, bệnh lại trở lại.

    Sau nhiều lần uống thuốc kháng sinh, tai không có mủ nữa nhưng lại có một chất nước sền sệt. Hiện tượng này kéo dài khiến nhĩ bị tổn thương nặng làm Bé bị giảm thính lực.

    Trong thời gian chữa trị, Bé phải gài trong tai một ống thông, có khi trong nhiều tháng.

    Nếu Bé bị đau tai nhiều lần, bị đi bị lại, các bác sĩ sẽ nạo V.A cho cháu.

    14. Vành tai dị dạng.

    Nếu vành tai cháu bé xa da đầu quá, chớ nên dính vành tai vào da đầu bằng băng keo hoặc bắt cháu đội mũ xụp xuống cả ngày để hòng sửa đổi được cái dáng của đôi tai.

    Bạn hãy kiên trì đợi tới khi cháu lên 8 hoặc 9 tuổi, vì tới lúc đó mới sửa được cho cháu bằng phương pháp phẫu thuật rất đơn giản.

    [​IMG]

    15. Vật lạ trong tai.

    Nếu bạn không thể lấy ngay vật mà Bé đã nhét vào tai cháu thì đừng cố. Như vậy, bạn có thể làm tổn thương ống tai của Bé. Hãy đưa bé tới bác sĩ khoa tai-mũi-họng ngay. Ở đó, bác sĩ có các dụng cụ chuyên môn để lấy vật ra.


    16. Ðiếc.

    [​IMG] Ðiếc là chứng bệnh không phải là hiếm thấy ở trẻ em. Các cháu có thể bị nghễnh ngãng hoặc điếc hoàn toàn. Hậu quả của tật điếc làm các cháu chậm biết nói. Nhiều bà mẹ không biết con mình bị tật này vì thấy con vẫn bình thường, nghĩ rằng cháu bé chỉ phát triển chậm đôi chút về trí tuệ. Một cháu bé hát sai có thể vì nghe không tốt: cần phải kiểm tra khả năng thính giác của cháu.

    [​IMG] Phát hiện tật điếc của các cháu càng nhỏ, càng khó. Bố, mẹ các cháu nhỏ nên để ý theo dõi phản ứng của các cháu với các tiếng động hàng ngày như: tiếng nói nhỏ, tiếng rađiô, tiếng tích tắc đồng hồ, tiếng kẹt cửa v.v... Nếu có điều gì nghi ngại, nên đưa ngay cháu tới bác sĩ chuyên khoa tai để thử.

    [​IMG] Việc kiểm tra định kỳ về thính giác cho các cháu thường được tiến hành khi các cháu được 9 tháng và 24 tháng. Hiện nay, ở các bệnh viện sản hoặc nhà hộ sinh, người ta đã áp dụng các phương pháp kiểm tra thính giác cho các cháu bé mới sinh được vài ngày hay vài tuần.

    [​IMG] Nguyên nhân của tật điếc thì nhiều :

    - Cháu bé có thể bị điếc bẩm sinh do di truyền hoặc bị nhiễm bệnh ngay từ khi còn trong bụng mẹ, như bệnh thủy đậu chẳng hạn.

    - Cháu bị điếc nhẹ sau khi mắc một số bệnh; hoặc bị viêm tai mà chữa trị nửa chừng; hoặc do uống một số thuốc kháng sinh (như gentamicine) và bị ảnh hưởng của thuốc.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  7. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    17. Vật lạ trong mũi.


    [​IMG] Nếu Bé tống một vật nhỏ và làm kẹt vật đó trong mũi, thì bạn cần lấy ngay ra cho cháu. Nhưng phải cẩn thận, nếu không, bạn có thể làm cho vật tụt sâu thêm vào làm thương tổn tới phần niêm mạc bên trong.

    [​IMG] Nếu khó lấy vật ra, không nên cố mà nên đưa Bé tới bác sĩ chuyên khoa về tai-mũi-họng vì ở đó có nhiều dụng cụ chuyên môn để thực hiện việc đó có kết quả.

    [​IMG]

    18. Sổ mũi, viêm mũi, viêm mũi - họng.

    Sổ mũi: là một chứng nhẹ ở trẻ em: thán nhiệt hơi cao hơn bình thường, mũi chảy nước (một chất nhầy lỏng, không màu). Với các cháu lớn, chỉ vài hôm là khỏi. Các cháu bé sơ sinh thì kèm theo một vài hiện tượng như khó ngủ, khó thở làm cho các cháu bú khó (vì khi bú không thở được).

    Các bà mẹ có thể dùng các dụng cụ hút nước mũi cho các cháu, thường bán ở các hiệu thuốc; nhỏ mũi cho các cháu bằng các loại thuốc dành riêng cho trẻ em. Tránh dùng các thuốc có dầu và các loại thuốc làm co mạch máu.

    Viêm mũi-họng : là chứng bệnh về mũi nhưng lan từ phần sau của hốc mũi cho tới họng và có các triệu chứng như: chảy nước mũi, có thể sốt cao, thân nhiệt tăng đột ngột nên có thể gây co giật ở các cháu nhỏ, ho, không chịu ăn, ỉa chảy.

    [​IMG]

    Ðể chữa trị cần :
    nhỏ thuốc mũi cho cháu, cho uống thuốc sốt. Bệnh sẽ khỏi sau vài ngày.

    Tuy vậy, bệnh có thể biên chứng như : viêm tai, viêm thanh quản, viêm phế quản và phổi.

    Ðể chữa những biến chứng này, phải cho cháu uống thuốc kháng sinh theo liều lượng đã được bác sĩ chỉ định.

    Viêm mũi-họng tái phát
    - Mùa đông, các cháu bé thường bị đi bị lại bệnh viêm mũi-họng, dẫn tới viêm tai khiến các cháu thường xuyên bị ho, sổ mũi, xuống sức và chậm lớn.

    [​IMG] Nguyên nhân có thể do: dị ứng, khả năng miễn nhiễm của cơ thể yếu, thiếu chất sắt, thiếu vitamin D. Nhưng, cũng có thể do các điều kiện về khí hậu và nơi ở như: không khí khô tự nhiên hoặc vì sưởi nóng, bụi phấn hoa, sự lây nhiễm giữa các trẻ trong tập thể, khói thuốc lá do người lớn hút trong nhà đóng kín cửa v.v...

    Cũng nên chú ý rằng cơ thể các cháu nhỏ sau thời gian tránh được một số bệnh vì thừa hưởng khả năng miễn nhiễm của mẹ và do bú sữa mẹ, nay phải đi vào một thời kỳ tập tự chống chọi với các vi trùng và vi rút. Do đó, có thể coi mỗi lần cháu bé bệnh là một lần cơ thể của cháu có dịp luyện tập để chống cuộc xâm lăng của các nhân tố có hại tấn công từ bên ngoài, để tạo cho mình khả năng chống nhiễm. Giai đoạn miễn nhiễm của trẻ hết khi cháu 6 - 7 tuổi.

    Bởi vậy, việc dùng thuốc kháng sinh để chữa trị cho các cháu phải theo sự chỉ định có cân nhắc của bác sĩ. Chỉ dùng thuốc để trị bệnh, chưa hắn đã là tốt. Phải dành phần tiêu diệt vi trùng và vi rút cho chính cơ thể của cháu bé, sao cho cơ thể có khả năng tự miễn nhiễm, tăng cường sức khỏe cho cháu bé như cho cháu tắm nắng, thay đổi không khí chỗ ở (đi nghỉ ở biển, ở núi...), dùng thuốc để có thêm chất gammaglobuline trong máu, tổ chức các cuộc đi tắm nước khoáng v.v...

    Nếu cháu luôn bị đau tai cũng nên nghĩ tới vấn đề nạo V.A ở họng cho cháu. Việc nạo V.A cũng có tác dụng làm cho cháu thở dễ khi ngủ, tránh được tật ngáy.


    19. Tật sứt môi.

    Có cháu bé mới sinh đã bị tật sứt môi: một đường nứt từ dưới mũi chạy xuống, chẻ đôi môi trên.

    Chữa tật này phải phẫu thuật làm 2 giai đoạn: khâu dính liền chỗ đứt của môi và xử trí để nổi phần hàm bên trong vết nứt ở vòm họng.

    [​IMG] Trong thời gian chữa, các cháu bé phải bú bằng những núm vú giả đặc biệt vì nuốt khó.

    [​IMG] Sau giải phẫu, các cháu còn cần được theo dõi về các mặt răng, lợi, tai-mũi-họng và học phát âm cho chính xác. Tốt nhất là đưa các cháu tới những kíp chuyên gia điều trị tật này.

    20. Răng.

    [​IMG]

    Rối loạn mọc răng, có thể khiến đứa trẻ rên rỉ vì đau, không ăn được và mất ngủ. Lợi cháu bị sưng làm má cũng tấy đỏ nước dãi chảy khỏi miệng cả ngày. Cháu quấy.

    Bạn có thể làm cho cháu giảm đau hay quên đau bằng cách :

    - Cho cháu một miếng bánh mềm, một cái bánh bích quy.

    - Tẩm vào khăn tay một ít sirô hoặc nước thơm rồi xoa nhẹ vào lợi, chỗ răng đang nhú lên. Có thể thay bằng một cục nước đá nhỏ quấn trong khăn.

    - Cho cháu uống aspirine.

    Ðôi khi cháu còn bị sốt và đi tướt (ỉa lỏng). Nếu sốt cao, cũng tác dụng xấu bởi các cháu sẵn có chứng co giật. Do đó, khó xác định được là cháu bị sớt do răng đau hay vì một bệnh nào khác.
    Trong trường hợp cháu bị sốt nhiều, nên để bác sĩ chẩn đoán nguyên nhân


    [​IMG]


    Lung lay răng vì tai nạn - Nếu cháu bé bị ngã mà gãy hoặc lung lay răng, nên đưa cháu lại nha sĩ ngay để xem còn có thể giữ dược răng không. Muốn răng khỏi rơi ra trong khi đi bạn có thể bọc quanh răng một đoạn kẹo cao su và bảo cháu cắn răng lại.

    Muốn các cháu có bộ răng tốt, phải làm gì?

    Phải chú ý cung cấp cho các cháu đủ chất Canxi và Phốtpho trong thức ăn. Những nguyên tố này có trong sữa và các sản phàm của sữa, trứng và rau.

    - Dạy các cháu biết cách đánh răng từ nhỏ.

    - Tránh các nguyên nhân gây sâu răng như ăn kẹo buổi tối

    - Dùng thêm chất Fluor hàng ngày, theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.


    21. Sâu răng.

    [​IMG] Trẻ em có những cái "răng sữa" cho tới 6 tuổi. Tuy những răng này rồi dần dần sẽ rụng hết, nhưng các bậc cha mẹ không nên coi thường hiện tượng răng sâu của các cháu. Trái lại, răng nào sâu cần phải chữa hoặc nhổ đi để không ảnh hưởng tới răng khác bên cạnh sắp mọc hoặc đang mọc. Nhất là các răng đang mọc lại là những răng vĩnh viễn.

    [​IMG] Trẻ em có răng sâu nhai thức ăn không kỹ. Do đó, việc tiêu hóa không được tốt. Chỉ cần có một cái răng sâu cũng đủ làm cho việc nhai, nghiền thức ăn của cả hàm răng bị kém hiệu quả. Mỗi cái răng sâu lại là một ổ vi trùng có thể gây ra nhiều loại bệnh do bị viêm nhiễm. Các cháu có bệnh tim hoặc bệnh thấp khớp cấp càng phải đặc biệt giữ gìn bộ răng cho khỏi sâu.

    Việc cần thiết nhất là: dạy cho trẻ cách đánh răng từ nhỏ, cho trẻ đi khám răng thường kỳ, cho ăn ít đồ ngọt, không ăn vào buổi tối, dùng kem đánh răng có chất Fluor. Dù cái răng chỉ có một chấm đen, cũng cần tới bác sĩ chữa răng ngay: càng chữa sớm, càng chóng khỏi và đỡ tốn tiền.

    Những thức ăn ngọt ăn trong bữa ăn sẽ bị nước bọt tiết ra nhiều làm trung hòa tính chất axít của đường.

    Nhưng nếu các cháu ăn kẹo nhất là các kẹo dễ dính vào răng - vào buổi tối rồi đi ngủ, trong miệng không đủ nước bọt làm tan kẹo và trung hòa chất xít do đường biến chất đọng lại ở các kẽ răng, chất axít này sẽ làm hỏng men răng và phá hoại các chân răng.

    Kinh nghiệm cho thấy chất Fluor có tác dụng chống sâu răng. Bởi vậy, ở một số nước, người ta pha Fluor vào nước uống, vào sữa hoặc trộn vào muốí ăn. Một số rau, cá có chứa Fluor. Trong thành phần nhiều loại thuốc đánh răng ngày nay cũng có Fluor. Các bác sĩ còn hướng dẫn cho các bà mẹ cho các cháu bé mới sinh uống một lượng nhỏ Fluor mỗi ngày ngay trong những tháng đầu.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  8. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723
    22. Hạt cơm trong miệng.

    [​IMG]

    Bên trong miệng ở phần trong má và môi của Bé, có thể có những hạt nhỏ màu trắng xám mọc lên rải rác, đôi khi có nhiều làm bé bị vướng và đau khi ăn, uống. Do đó, Bé không chịu ăn.

    [​IMG] Có thể lấy bông quấn vào đầu tăm, tẩm thuốc sát trùng và chấm khẽ vào các hạt trên.

    [​IMG] Cho Bé ăn loãng, mát (sữa để hơi lạnh).


    23. Chứng tưa miệng do vi rút.

    Chứng bệnh này do vi rút gây ra làm cho bên trong miệng của cháu bé (má, lưỡi, lợi) có nhiều vết loét nhỏ, nằm dưới một lớp màng trắng.

    Khi màng trắng này bong ra, những vết loét càng đau rát làm cho cháu bé không ăn được, vì việc tiếp xúc với thức ăn, dù là thức ăn lỏng, cũng làm các cháu đau. Hiện tượng này kéo dài trong 4, 5 ngày. Trong thời gian mang bệnh, cháu bé chảy nhiều nước dãi, miệng hôi và có thể sốt tới 40oC.

    Bác sĩ thường cho các cháu thuốc bôi miệng. Các bà mẹ nuôi các cháu nên kiên nhẫn cho các cháu ăn ít một các món súp, nước quả, nước đường ướp lạnh ... Trong khi cháu bé mang bệnh, tránh để cháu tiếp xúc với các cháu khác.


    24. Bệnh tưa do nấm.

    Bệnh tưa là loại bệnh nấm biểu hiện dưới dạng những đốm trắng như cặn sữa trong mồm. Toàn bộ chỗ mọc nấm màu đỏ, đụng vào đau khiến các cháu bé bỏ ăn. Hiện tượng này có thể xảy ra cả trong bộ máy tiêu hóa từ miệng tới hậu môn. Tuy vậy, bệnh dễ khỏi nếu cho cháu uống thuốc đúng theo sự chỉ định của bác sĩ.


    25. Viêm xoang hàm.

    Bệnh viêm xoang thường hiếm gặp ở trẻ em nhỏ hơn 4 tuổiCác cháu nhỏ thường bị bệnh xoang do dị ứng. Nếu cháu bị viêm xoang mãn tính, các bác sĩ thường chẩn đoán bằng cách chụp X-quang, các xoang ở mặt. Một cháu bé bị viêm mũi, phế quản tái đi tái lại và ho dai dẳng cũng thường phải làm xét nghiệm này.


    26. Nhức đầu.

    [​IMG]
    [​IMG]
    Bệnh nhức đầu thường hiếm thấy ở trẻ em dưới 4 tuổi và chỉ thấy ở tuổi đã tới trường học. Các cháu hay kêu đau ở một bên trán, đằng sau một bên mắt. Cơn đau rần giật ở đầu như nhịp tim, lâu hàng giờ, trở đi trở lại, gây nôn ói hoặc làm mắt nẩy đom đóm. Ðôi khi đã nhức đầu còn kèm theo cả đau bụng nữa.

    Mỗi cháu có thể đau một kiểu khác nhau.

    Sau khi loại bỏ các bệnh khác, bác sĩ thường cho rằng cháu bị nhức đầu vì truyền thống, trong gia đình, họ hàng từ xưa đã từng có người nhức đầu như thế.


    27. Ðau đầu.

    Nếu trẻ em bất chợt bị đau nhức đầu dữ dội kèm theo sốt và nôn ói, hãy nghĩ ngay tới bệnh đau màng óc và phải đưa cháu tới bác sĩ ngay.

    Nhiều khi, cháu chỉ bị cúm theo mùa hoặc nhiễm một căn bệnh nào khác thôi. Nếu cháu hay bị đi bị lại, nên cho cháu đi kiểm tra mắt, khám xem có bị viêm xoang không. Cũng nên đề phòng xem cháu bị tổn thương ở não không, có bị huyết áp cao không, có bị nhiễm độc vì khí ôxít các bon không?

    Vì nguyên nhân gây ra chứng đau đầu thì nhiều, nên chỉ có bác sĩ mới xác định được bệnh và có khi còn phải cho cháu đi chụp hộp sọ nữa.

    Nhưng nhiều khi nguyên nhân bệnh lại có tính chất tâm lý như cháu bé lo sợ một điều gì, quá cảm động hoặc bị căng thẳng thần kinh vì vừa qua một cuộc thi kiểm tra ở lớp học.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
    monalisa09 thích bài này.
  9. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Những vấn đề liên quan đến ngực



    1. Nghẹt thở do có vật lạ trong đường hô hấp.

    Có nhiều trường hợp Bé bị ngạt thở:

    [​IMG]Bi ngạt vì nằm ngủ dưới lớp chăn nên bị thiếu không khí hoặc Bé bị nghẹt thở vì nuốt một vật và vật đó nằm ngáng trên con đường hô hấp. Thí dụ Bé nuốt một củ lạc hoặc một mẩu đồ chơi. Kết quả là Bé bị tắc thở ngay hoặc bị tắc thở dần dần vì vật nuốt mỗi lúc lại bịt kín hơn con đường hô hấp.

    [​IMG]Trong trường hợp sau, cháu bắt đầu ho, rồi thở khó nhọc, mỗi lần thở lại có tiếng rên hoặc rít. Mặt Bé sạm dần lại rồi Bé ngưng, KHÔNG THỞ NỮA.

    PHẢI LÀM GÌ KHI CHÁU BÉ BỊ NGẠT TRÊN GIƯỜNG?

    [​IMG]Nếu thấy da bé tím hay xám, người không cử động hoặc bị co giật, hãy để đầu bé ngửa ra phía sau để bé thở dễ hơn.

    [​IMG]Nếu thấy không có kết quả gì hãy làm hô hấp nhân tạo cho Bé, nhờ người đi báo bác sĩ hoặc đưa Bé tới trạm cấp cứu ngay.

    NẾU BÉ NGẠT VÌ NUỐT PHẢI MỘT VẬT VÀO HỌNG

    [​IMG]Nếu bạn nhìn thấy vật đó, hãy thử cố lấy vật đó ra bằng ngón tay của mình và chú ý không làm cho vật tụt sâu thêm vào họng Bé.

    [​IMG]Nếu không lấy ra được, hãy làm theo phương pháp Heimlich như sau :

    PHƯƠNG PHÁP HEIMLICH


    Nội dung chính của phương pháp này là bất chợt ấn mạnh vào vùng dạ dày theo hướng từ dưới lên.

    [​IMG]


    • Giữ cháu bé ở tư thế đứng hay ngồi.
    [​IMG]Người chữa cho cháu đứng ở đằng sau, nắm bàn tay trái lại đặt lên bụng cháu ở trên rốn - vị trí của dạ dày

    [​IMG]Bàn tay phải nắm lấy nắm tay trái và bất chợt ép mạnh vào bụng cháu theo chiều từ dưới lên trên để cho lượng không khí bị dồn từ phổi ra phía cổ họng sẽ làm bắn vật lạ ra. Có thể làm nhiều lần, lần sau cách quãng với lần trước.

    [​IMG]Ðối với các trẻ sơ sinh, phải ép bằng các ngón tay và chú ý nương nhẹ vì xương của các cháu còn rất yếu.

    Nếu không đạt được kết quả, phải đưa cháu tới bệnh viện. Trên đường đi, không ngừng làm hô hấp nhân tạo.


    NGẠT VÌ KHÓC?

    Có trường hợp các cháu nhỏ từ 6 tháng tới 2 tuổi có thể bị ngạt vì khóc. Tiếng khóc của cháu từng đợt bị ngắt quãng vì tiếng nấc. Cháu vội thở nhưng cơn nấc lại đến làm cháu không kịp thở. Cuối cùng cháu ngất đi, mặt tím lại vì thiếu không khí. Cảnh tượng này dễ làm người lớn lo lắng vì xúc động nhưng không có gì nguy hiểm. Người lớn cần giữ bình tĩnh. Cháu bé sẽ chóng hồi tỉnh và tiếng khóc lại tiếp tục ré lên.

    Cần chú ý săn sóc cháu bé hơn nhưng nên tránh để cháu cảm thấy rằng: muốn đòi gì cứ khóc là được!


    2. Thở dốc.

    Chứng thở dốc, thở từng cơn hối hả khiến các cháu bé không chạy nhảy, chơi đùa bình thường được như những đứa trẻ khác là một chứng bệnh rất đáng quan tâm. Vì nguyên nhân chứng bệnh này có thể do sự mất sức của toàn cơ thể hoặc bị thiếu máu. Nhưng cũng có thể do có trục TRẶC VỀ TIM HOẶC BỘ MÁY HÔ HẤP; CẦN PHẢI QUA XÉT NGHIỆM để theo dõi.


    3. Bé thở có tiếng rít.


    Trừ trường hợp trẻ em ngáy khi ngủ, còn nếu cháu thở mà có tiếng lào xào hay tiếng rít thì phải báo ngay cho bác sĩ biết, nhất là nếu cháu lại bị sốt. Có thể đó là triệu chứng của một bệnh viêm ở mũi họng hay viêm phế quản bình thường, nhưng cũng có thể là những bệnh khác quan trọng hơn như: hen, vật lạ mắc trong cổ, viêm thanh quản v.v...

    Có nhiều cháu bé sơ sinh khi thở đã nghe như tiếng gà kêu do thanh quản có cấu tạo hơi khác thường lúc mới sinh. Sau một vài tháng, thanh quản các cháu phát triển và dần dần trở thành bình thường, tiếng kêu kia cũng sẽ mất.


    4. Ngưng thở cách quãng.

    [​IMG]

    Trong những ngày đầu mới sinh ra, Bé thường thở không đều. Ðôi khi có những đợt ngưng thở chừng vài giây hoặc lâu hơn 10 giây đối với các Bé sinh thiếu tháng. Hiện tượng này có thể kèm theo sự giảm nhịp đập của tim, có những biến cố xấu.

    Do đó, các Bé sinh thiếu tháng cần phải được theo dõi cẩn thận và được nuôi trong các thiết bị khí có máy theo dõi nhịp tim, nhịp thở.

    Những cơn ngừng thở trong giấc ngủ của trẻ sơ sinh hiện nay được coi như những nguyên nhân phổ biến nhất gây chết đột ngột cho các cháu.


    5. Ngạt do gaz.

    Những hơi làm ngạt có thể có trong gia đình là:

    [​IMG]Gaz dùng để đun nấu, thoát ra ngoài vì đường ống có chỗ rò rỉ;

    [​IMG]Khí ôxýt cacbon (CO), là một khí không màu, sinh ra từ cái máy sưởi ấm hay đun nước không hoạt động tốt.

    Khi có hiện tượng một người trong nhà - lớn hay bé - bị NGẠT DO GAZ, KHÔNG ĐƯỢC dùng bất cứ một dụng cụ điện nào vì chỉ cần có một tia lửa điện nhỏ sẽ GÂY RA NGUY HIỂM KHÓ LƯỜNG TRƯỚC ÐƯỢC.

    PHẢI:

    [​IMG]Khóa ngay bình gaz lại, mở rộng các cửa, hoặc đưa nạn nhân ra ngoài trời.

    [​IMG]Làm ngay hô hấp nhân tạo cho nạn nhân, nếu nạn nhân không còn thở nữa.

    [​IMG]Nhờ người hàng xóm gọi điện tới cơ quan cứu hỏa.


    Nếu nạn nhân ngất, nhưng vẫn thở :

    [​IMG]Không được cho nạn nhân uống bất cứ thứ gì. Việc làm này không làm cho nạn nhân tỉnh lại mà có nguy cơ làm nước vào trong phổi, rất nguy hiểm.

    [​IMG]Ðể nạn nhân nằm im, đầu hơi thấp hơn chân, quay đầu sang một bên để tránh không cho lưỡi tụt vào cổ họng và nếu nạn nhân nôn ói, thì không bị nước tràn xuống phổi.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  10. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    6. Ho.



    [​IMG]

    Bình thường, những đường hô hấp luôn luôn được giữ gìn sạch sẽ do có những lớp lông nhỏ phủ trên lòng ống không ngừng chuyển động để đẩy các chất bẩn ra ngoài. Ho là một phản ứng của cơ thể, dùng hơi phổi tống các chất lạ hoặc chất nhầy do chính ống dẫn khí đã tiết ra nhiều quá, ra khỏi các ống dẫn khí. Bởi vậy ho là một phản ứng bảo vệ cần thiết của cơ thể, cho nên nhiều khi, không nên tìm cách ngăn cản việc ho.

    Ðể chữa trị bệnh ho, bác sĩ thường đặt nhiều câu hỏi để tìm nguyên nhân như: ho từ bao giờ, hay ho vào lúc nào? tiếng ho vang cao hay khàn khàn? Kèm với việc ho cháu bé có sốt không, có chảy nước mũi không, có khó thở không, có chất nhầy ở phân hay khi bị nôn ói không ?... Bác sĩ còn chú ý xem có phải là cháu bị lây ho gà hay bệnh sởi không?

    Chúng ta nên phân biệt nhiều thứ ho khác nhau như sau:

    [​IMG]Ho cấp tính thường kèm theo sốt các trẻ em bị viêm đường hô hấp trên;

    [​IMG]Ho mạn tính do viêm lâu ngày các đường hô hấp trên, như bị viêm xoang chẳng hạn;

    [​IMG]Ho không kèm theo sốt có thể do dị ứng như hen; thường các cháu ho khan và ho từng cơn;

    HO ĐÊM ở các cháu sơ sinh do các chất nhầy tích tụ làm tắc các đường dẫn khí; để các cháu bé khỏi ho, chỉ cần nhấc cháu bé dậy và bế theo chiều đứng để các chất nhầy tích tụ trong các đường dẫn khí chảy thoát đi; ho đêm cũng có thể là triệu chứng của sự lưu thông ngược chiều của các chất ở đoạn từ miệng tới dạ dày;

    [​IMG]Ho tiếng khàn khàn từng tiếng một có thể do viêm họng.

    [​IMG]Ho từng cơn dài có thể là ho gà.

    Nếu bất chợt cháu bé ho sặc sụa, không bị sốt nhưng thở khó khăn làm mặt tái đi thì có thể do cháu bé đã nuốt hoặc tống một vật gì vào họng.

    Cách chữa trị

    Như trên đã nói, nhiều khi không nên ngăn cản bé ho. Các loại thuốc an thần, giảm ho có khi lại có hại làm cho cháu bé khó thở. Bởi vậy, các bác sĩ thường tìm loại thuốc có tác dụng làm loãng các chất nhầy ra để dễ tống chúng ra khỏi các đường ống dẫn khí.

    Chỉ khi nào cháu bé ho khan nhiều quá, bị mất sức vì ho ban đêm thì bác sĩ mới cho cháu uống thuốc an thần để làm dịu cơn ho như trong trường hợp cháu bị ho gà.

    Ðối với các cháu bi ho kinh niên, hay bị đi bị lại, người ta thường áp dụng phương pháp vận động hô hấp hỗ trợ việc thở nhân tạo.


    7. Ho gà.

    [​IMG]
    [​IMG]


    Ngày nay, nhờ phương pháp tiêm phòng bệnh, nên ít trẻ em biBỆNH HO GÀ. Với các cháu nhỏ không được người lớn cho đi tiêm chủng đủ liều thì HO GÀ VẪN LÀ MỘT BỆNH DAI DẲNG, ÐÁNG SỢ.

    Từ 8 tới 10 ngày sau khi tiếp xúc với một trẻ khác mang bệnh, cháu bé bắt đầu có các triệu chứng bị lây như: sốt nhẹ, bắt đầu ho và càng lúc càng ho nhiều hơn.

    Từ ngày thứ 15 trở đi, cháu ho từng cơn. Mỗi cơn ho làm người cháu co dúm lại, mắt đỏ ràn rụa nước mắt. Sau cơn ho, cháu vội hít thở từng hơi dài nghe có những tiếng rít đặc biệt. Ðôi khi miệng cháu có những chất dãi dính không nhổ ra được khiến cháu bị nôn ói.

    Mỗi ngày cháu nhỏ có thể bị tới mấy chục cơn ho, số cơn càng nhiều chứng tỏ bệnh cháu càng nặng. Hiện tượng này kéo dài từ 2 tới 3 tuần hay hơn nữa, rồi mới thuyên giảm.

    Nếu cháu vừa ho vừa sốt thì cháu có thể bị thêm chứng viêm đường hô hấp.

    Thuốc kháng sinh ít tác dụng tới bệnh ho gà nên khi trị bệnh, các bác sĩ chủ yếu dùng thuốc an thần làm cho các cháu đỡ ho và ngủ được.

    Vì những cơn ho tới bất thường nên phải thay đổi cách ăn của các cháu. Lúc nào cháu ngớt cơn thì tranh thủ cho ăn ngay, không kể giờ giấc.

    Ðối với các cháu từ 12 - 18 tháng tuổi - Ho gà rất nguy hiểm đối với các cháu bé ở độ tuổi này vì có thể làm cho các cháu chết vì không thở được. Bởi vậy, phải cho cháu nằm bệnh viện để được săn sóc kỹ càng trong một thời gian cần thiết.

    Việc tiêm chủng phòng bệnh ho gà thường được phối hợp với việc phòng các bệnh uốn ván, bạch hầu, bại liệt bắt đầu từ 3 tuổi. Sau khi đã bị lây bệnh, việc tiêm chích thuốc gamma globuline trước khi cháu bé bị lên cơn, cũng có tác dụng làm giảm cơn hoặc ngăn kháng cho các cơn ho xảy tới Theo nguyên tắc, một trẻ em đã đi nhà trẻ hay tới trường, cần phải để nghỉ ở nhà 1 tháng, kể từ khi Bé bị cơn ho đầu tiên. Việc cách ly cháu bé bị bệnh với các anh, chị em trong nhà cũng cần phải như vậy.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
    Ngo Huyen thích bài này.
  11. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    8. Hen.


    [​IMG]
    Hen là một bệnh có liên quan tới các phế quản và thể hiện từng cơn do các đường dẫn khí của phổi bị co thắt lại, làm cho bệnh nhân không thở ra được Nguyên nhân của hen có thể giống nguyên nhân của các bệnh dị ứng: cơ thể và nhất là các ống phế quản của phổi phản ứng với các bụi phấn hoa, lông súc vật, bụi, một số vi sinh vật. Xét nghiệm máu hoặc thử nghiệm bằng phương pháp cấy dưới da có thể xác định được chất gây phản ứng hen.

    Bệnh hen là một bệnh gia truyền: ông, bà, cha, mẹ, họ hàng có người hen thì các con cháu sau cũng dễ mắc bệnh.

    Cơn hen nặng hay nhẹ tùy ở mỗi người, mỗi lúc. Một đứa trẻ lên cơn hen ngồi trên giường, mặt tím tái, đẫm mồ hôi, cố gắng hít thở khó khăn với những tiếng rít đặc trưng của bệnh. Cần an ủi cháu khi bác sĩ chưa tới và không được dùng thuốc gì nếu không được bác sĩ chỉ định từ trước.

    Các thuốc chữa hen có tác dụng chủ yếu làm giãn phế quản để cho cơn hen dịu đi. Nếu cơn hen vẫn tiếp diễn, thì cần phải cho cháu vào bệnh viện.

    Bệnh hen là một bệnh phải chữa trị lâu dài. Các cơn hen không giống nhau có thể một năm xảy ra đôi lần, nhưng cũng có thể xảy ra nhiều lần trong một tháng, ảnh hưởng tới việc học hành và cuộc sống lâu dài của trẻ. Bởi vậy phải chữa trị tới cùng.

    Tâm lý bi quan của trẻ bị bệnh cũng như sự lo âu của các người thân có ảnh hưởng xấu tới tinh thần và làm bệnh thêm trầm trọng Bởi vậy, việc động viên, khuyến khích an ủi người bệnh là những việc làm có tính chất tâm lý, nhưng lại rất cần thiết.


    9. Viêm phổi.

    Ngày nay, các bác sĩ hay nói một cách chung chung: viêm vùng phổi. Cháu bé bị viêm vùng phổi thường có các triệu chứng như: đột nhiên sốt cao, má đỏ, thở gấp (đôi khi cánh mũi phập phồng vì khó thở), ho. Cần phải đưa gấp trẻ tới bác sĩ. Việc chiếu X-quang sẽ cho biết cháu bị viêm phổi có rộng hay không?

    Ðược chữa trị ngay, bằng thuốc kháng sinh, trẻ sẽ khỏi nhanh, trong vài ngày.


    10. Viêm phế quản.

    Một cháu bé bị cúm hoặc có thể kèm theo ho. Viêm phế quản nếu được chữa trị ngay khi cháu chỉ bị sốt nhẹ, cháu sẽ khỏi ngay bằng một liều thuốc kháng sinh. Thường thì chứng ho khỏi trong vòng 5 - 6 ngày nhưng cũng có khi kéo dài tới 1, 2 tuần, nhất là với các cháu chưa biết cách khạc đờm ra.

    Nếu cháu đã khỏi, rồi lại bị lại, không nên cho cháu uống lại thứ thuốc vừa dùng hãy còn lại. Nên cho cháu đi khám bác sĩ vì chứng ho của cháu rất có thể liên quan tới một chứng viêm mạn tính vùng mũi họng. Ngoài ra còn một số bệnh khác mà bác sĩ cần phải nghe và thử nghiệm mới biết được như bị dị ứng, chẳng hạn.

    (theo Everycare for Everymum)​
     
  12. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    12. Bệnh lao
    (Phản ứng thử B.C.G).


    Hiện nay, bệnh lao không còn hoành hành như thời gian cách đây 30 năm nữa, vì đã có nhiều loại thuốc phòng và chữa trị hiệu nghiệm. Tuy vậy, bệnh vẫn còn tồn tại, nhất là trong số những người cơ nhỡ.

    [​IMG]

    BỆNH LAO GÂY NÊN BỞI VI TRÙNG KOCH (B.K)
    , do sự lây nhiễm trực tiếp. Trẻ em - nhất là các cháu sơ sinh - dễ bị lây bệnh, nên cần phải tiêm phòng cho các cháu bằng vắc-xin B.C.G (vi khuẩn mang tên người tìm ra chúng là Calmette và Guérin). Các cháu có thể bị lây từ một người không biết mình có bệnh hoặc một người có bệnh nhưng lại tưởng là mình đã khỏi rồi.

    Giai đoạn bị lây bệnh đầu tiên của một cháu bé chưa tiêm phòng B.K gọi là sơ nhiễm có thể không có triệu chứng gì nổi bật, phải thử nghiệm mới biết được (căn cứ vào kết quả thử nghiệm âm tính hay dương tính). Tuy vậy, cũng có những trẻ có những biểu hiện như: sốt, tình trạng sức khỏe toàn thân bị suy sụp, xuống cân, gầy ốm. Kết quả chiếu X quang cho thấy có những điểm bất thường ở phổi như sự xuất hiện các hạch ở quanh khí quản và ở phổi. Ðối với các cháu mới sinh, bệnh lao màng óc là một bệnh cực kỳ nguy hiểm.

    Khi thấy một đứa trẻ bị sơ nhiễm lao, người ta thường để ý tìm xem người nào đã lây bệnh sang cháu và thường phát hiện ra ngay trong gia đình hoặc người thường tiếp xúc với cháu.

    Việc chữa trị cho một cháu bé bị sơ nhiễm lao rất đơn giản: cho cháu uống thuốc kháng sinh loại chống lao trong thời gian từ 6 đến 9 tháng..

    NHỮNG PHẢN ỨNG VỚI THUỐC THỬ LAO

    [​IMG]

    Những phản ứng của cơ thể cháu bé đối với thuốc thử lao cho thấy: cơ thể cháu đã tiếp xúc với trùng B.K hoặc cháu đã được tiêm thuốc B.C.G phòng lao rồi. Người ta tiêm vào dưới da của các cháu một lượng nhỏ các vi trùng lao (B.K) đã bị chết, rồi quan sát trạng thái da ở chỗ tiêm.

    • Nếu cơ thể không bị nhiễm B.K và cháu chưa tiêm phòng B.C.G thì không có phản ứng gì ở da: kết quả âm tính.

    • Nếu cơ thể đã tiếp xúc với B.K hoặc đã chích B.C.G thì da có phản ứng: kết quả dương tính.

    Có nhiều cách thử nghiệm:
    làm trầy một diện tích rất nhỏ da của cháu bé rồi nhỏ một giọt thuốc thử lao lên vết trầy; đắp một lớp pommát (thuốc mỡ) thử lao lên da; dùng kim chích tiêm vào dưới da một lượng nhỏ thuốc thử.

    Việc nhận định kết quả của việc thử nghiệm không phải ai cũng làm được, vì phải có chuyên môn và kinh nghiệm. Bởi vậy các bà mẹ cần đưa cháu tới bác sĩ hoặc nơi chuyên môn để bác sĩ hoặc các chuyên viên làm việc. Cần phải đưa cháu tới đúng hẹn, thường là 2 tới 4 ngày sau khi thử. Kết quả dương tính thường có các dấu hiệu như: chỗ chích thử có một vùng đỏ bao quanh, dưới da có một cục sờ thấy cứng hoặc quanh chỗ chích có nhiều điểm nhỏ hơi phồng, màu đỏ.

    Có thể có nhiều dấu hiệu tương tự làm người ta lầm là kết quả dương tính. Bởi vậy, muốn chắc chắn, người ta thường tiến hành nhiều cách thử nghiệm, từng đợt cách nhau một khoảng thời gian.

    Kết quả dương tính cho biết đứa trẻ đã tiếp xúc với B.K (nếu trước đó, cháu không được tiêm phòng B.C.G).

    Nếu kết quả dương tính rất rõ rệt thì cháu vừa bị nhiễm B.K trong thời gian gần đây. Nếu kết quả dương tính không rõ rệt thì khó xác định được thời gian nhiễm bệnh. Bởi vậy, người ta thường thử ít nhất mỗi năm một lần cho các cháu, để dự đoán sự tiến triển của bệnh bằng CÁCH SO SÁNH CÁC KẾT QUẢ CỦA MỖI LẦN THỬ VỚI NHAU.

    NỘI DUNG VIỆC DÙNG B.C.G
    - Khi dùng B.C.G để ngừa bệnh lao người ta chích vào cơ thể các cháu bé những vi khuẩn lao của bò, đã được làm yếu đi tới mức không gây được bệnh nữa nhưng vẫn kích thích được hệ miễn nhiễm của cơ thể cháu bé sản sinh ra các kháng thể chống lại được vi trùng lao, kể cả các vi trùng lao hoạt động ở NGƯỜI.

    CÁCH THỰC HÀNH

    Sau khi đã biết rõ cháu bé đã thử lao kết quả âm tính, bác sĩ truyền ngay B.C.G vào người cháu. Có thể truyền bằng phương pháp làm xước da; hoặc chích thuốc vào dưới da; hoặc uống thuốc. Phương pháp tốt nhất là chích thuốc vào dưới da.

    3 tháng sau mới kiểm tra kết quả và cháu bé phải có kết quả dương tính. Nếu kết quả âm tính thì việc tiêm ngừa vừa rồi CHƯA ĐẠT YÊU CẦU, PHẢI TIÊM NGỪA LẠI.

    Ở nước ta việc chích ngừa cho các cháu bé đã được thực hiện từ lầu.Việc chích ngừa lao B.C.G cần thực hiện càng sớm càng tốt. Vì vậy, người ta thường chích cho các cháu ngay khi mới sinh.

    Tất cả mọi trẻ em đều có thể chích ngừa bệnh lao bằng thuốc B.C.G, trừ trường hợp cháu đang bị bệnh nào đó hoặc vừa tiêm ngừa một bệnh khác thì phải tạm hoãn lại một thời gian.

    Việc chích B.C.G không làm cho cháu bé bị sốt hoặc có phản ứng gì khác ngoại trừ hiện tượng sau vài tuần, chỗ chích có một cái vẩy nhỏ, ở dưới vẩy có một cục cứng, chung quanh vẩy có một vùng đỏ. Nếu chích dưới da ở cánh tay, có thể nổi hạch ở nách. Có trường hợp hạch sưng to, có mủ nhưng thường sẽ khỏi nhanh.

    Việc chích B.C.G phòng lao đã tỏ ra rất hữu hiệu, kể cả đối với các dạng lao nguy hiểm như lao màng óc. Tuy vậy, việc chích phòng phải thực hiện cẩn thận và có quá trình theo dõi về sau.

    Ðúng là sau khi đã chích ngừa, nếu kết quả dương tính không rõ rệt chứng tỏ khả năng miễn nhiễm yếu, cần phải chích lại. Thật ra, khả năng miễn nhiễm này cũng yếu đi theo thời gian. Bởi vậy, thường các cháu phải thử lao mỗi năm một lần để thấy nếu cần thì chích ngừa lại.

    Thời gian và những nhận xét, theo dõi của mỗi lần chích ngừa cần phải được ghi đầy đủ vào sổ y bạ của các cháu.

    13. Bệnh tim bẩm sinh.


    [​IMG]

    Bệnh tim bẩm sinh
    gồm các chứng tim do sự phát triển bất thường ngay từ khi trong bào thai. Có nhiều nguyên nhân tới nay vẫn chưa được biết. Có nhiều bệnh tim bẩm sinh khác nhau do có sự cấu tạo không BÌNH THƯỜNG CỦA TIM :

    [​IMG]ở các vách tim hay các van tim.

    [​IMG]ở các động mạch lớn xuất phát từ tim. Các động mạch này có thể bị hẹp bất thường, bị thấy đổi vị trí, bị thông nhau.

    Một số trường hợp được phát hiện ngay khi Bé vừa mới ra đời, do thấy Bé bi tím tái, bị suy tim nguy hiểm tới tính mạng.

    Một số trường hợp khác diễn ra ngấm ngầm, Bé chịu đựng được nên mãi sau này khi nghe tim bác sĩ mới phát hiện ra. Trong 20 năm nay, nền y học đã có nhiều tiến bộ về các mặt chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật các bệnh tim bẩm sinh. Có thể chẩn đoán cho cả bào thai trong bụng mẹ bằng phương pháp siêu âm.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
    monalisa09 thích bài này.
  13. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Những vấn đề liên quan đến da



    1. Vết trên da trẻ mới sinh.

    [​IMG]

    Khi mới ra đời, da trẻ em thường có những vết có màu:
    vết màu đỏ thẫm như màu rượu vang, có nhiều chấm nhỏ hoặc từng mảng ở gáy, trán, da đầu... Do các mạch máu nhỏ (mao mạch) dưới da bị giãn nở. Những vết này sẽ hết dần dần. Có cháu tới 1-2 năm mới hết: Đó là những vết bớt, nết ruồi hay vết chàm. Nốt ruồi to hoặc nhỏ, có thể xuất hiện ở mọi nơi trên cơ thể. Cần hỏi bác sĩ chuyên khoa da, vì việc chữa trị tùy trường hợp có nhiều hay ít, ở mỗi châu mỗi khác (NAEVUS).

    Vết chàm hay thấy ở lưng dưới. Những vết chàm này cũng sẽ hết dần khi các cháu lớn lên.


    2. Vết bớt hay chàm đỏ.

    Da các cháu mới sinh có thể có các chấm hoặc mảng màu đỏ sẫm: đó là các vết bớt còn gọi là chàm đỏ. Bớt do sự phì đại của các mạch máu nhỏ dưới da có dạng phẳng như da, có dạng nổi trên da. Những vết chấm hay thấy ở trán, cổ, gáy, chân tóc trẻ sơ sinh có thể tự mất đi sau vài tháng tuổi, có khi phải sau một vài năm.

    Tuy rằng một số vết bớt khó coi, làm giảm sự xinh xắn của các cháu, nhưng bác sĩ nào cũng khuyên các bà mẹ phải kiên nhẫn, chờ đợi, tránh không nên can thiệp tới bằng bất cứ biện pháp gì.

    Nếu vết bớt ngày càng lan rộng và có hiện tượng chảy máu thì nên tới bác sĩ chuyên khoa về da để hỏi cách chữa trị. Ngày nay, người ta có thể dùng tia laze để chữa trị hiện tượng này.

    3. Hiện tượng tím tái của trẻ sơ sinh.

    Da của Bé có thể có các vùng tím hay xanh.
    Ít khi ở đầu các ngón tay hoặc môi: hiện tượng này chứng tỏ máu thiếu ôxy vì sự hô hấp hoặc sự tuần hoàn (tim) của cháu chưa tốt. Nếu hiện tượng này chỉ có rất ít thì do lạnh, làm các mạch máu bị co lại.

    Nếu hiện tượng tím tái có từ khi cháu mới sinh và cứ duy trì mãi không thấy đỡ, thì có thể phải tìm hiểu về các bệnh tim bẩm sinh.

    Nếu hiện tượng trên xảy ra bất chợt và nghiêm trọng thì có thể do các nguyên nhân: ngạt thở vì vật lạ, đau họng, viêm đường hô hấp ...

    4. Chứng vàng da của trẻ sơ sinh.


    Sau khi sinh được mấy ngày, nhiều cháu bé có mầu da mỗi ngày một vàng thêm: đó là chứng vàng da của trẻ sơ sinh, một sự cố không quan trọng mà người ta biết rõ nguyên nhân.

    Khi ra đời, đứa bé mang theo trong người một số hồng huyết cầu dự trữ. Hồng huyết cầu là những phần tử trong máu có nhiệm vụ nhận ôxy từ phổi mang tới mọi nơi trong cơ thể, và luôn luôn được thay thế bởi những lớp mới. Trong cơ thể đa số trẻ em, việc loại bỏ các hồng huyết cầu già ở lá lách và ở gan được tiến hành bình thường. Nhưng, một số ít các cháu có bộ gan còn non yếu chưa làm được đầy đủ nhiệm vụ này khiến một số muối mật sinh ra trong quá trình hủy diệt hồng huyết cầu bị tích tụ ở máu làm cho da các cháu có màu vàng.

    Những hiện tượng trên có thể sẽ hết trong vòng mấy ngày sau, khi các cơ quan trong cơ thể cháu bé quen dần với công việc.

    Một số các cháu khác có thể bị dị tật bẩm sinh ở các đường ống dẫn mật khiến những chất muốí mật đã được gan biến đổi và thải ra không xuống được ruột làm cho phân có mầu nhợt hoặc mầu trắng.

    5. Rôm sảy.


    [​IMG]

    Ở vùng cổ và lưng các cháu bé thường có những nốt mẩn đỏ, do mồ hôi gây ra. Các nốt này sẽ chóng lặn hết nếu giữ gìn cho da các cháu sạch và khô.


    6. Da: ngứa ngáy, mẩn đỏ.

    Da trẻ em, nhất là cháu sơ sinh rất mỏng nên dễ bị tổn thương vì các nguyên nhân gây ra từ phía ngoài cũng như từ bên trong cơ thể. Theo năm tháng, lớp da sẽ đỡ mỏng manh hơn, nhưng vẫn là một lớp mô nhạy cảm dễ bị phát ban, dị ứng hoặc là nơi biểu hiện triệu chứng của một số bệnh như sởi, lên đậu ... Một số bệnh khó xác định và khó chữa, nên các bà mẹ săn sóc cháu nên nhận xét để mô tả được rõ ràng với bác sĩ.

    Loại da đặc biệt nhạy cảm
    - Có nhiều Bé có loại da đặc biệt nhạy cảm tới mức chỉ sờ lên da Bé cũng làm làn da ửng đỏ một lát. Do đó việc cọ sát da cháu bằng miếng vải, sức một ít nước thơm hay dầu thơm, tắm cho cháu bằng xà phòng có hóa chất thơm, cháu bị toát mồ hôi, nước tắm có pha ít nước hoa Cologné v.v... cũng làm da cháu bé phản ứng.

    Cổ, cổ tay, cổ chân, vòng bụng là nơi dễ bị kích thích nhất. Muốn làm cho da Bé dày dặn hơn, nên cho Bé đi chơi ở ngoài trời luôn, cho Bé tắm nắng nhưng hãy coi chừng và có giới hạn để tránh bị cháy nắng hay say nắng.

    Mẩn đỏ vùng mông - Mông Bé là điểm hay có mồ hôi, bị đẫm nước tiểu khi cháu tè dầm không được thay tã lót ngay, nên hay bị mẩn đỏ: da đỏ, đùi đỏ, đỏ ở rãnh giữa 2 mông, ở những nếp nhăn. Những nốt đỏ hơi phồng lên và lõm ở giữa, đôi khi cũng xuất hiện khi Bé mọc răng, hoặc trên toàn bộ lớp da tiếp xúc với ghế khi Bé ngồi.

    Để bé khỏi mần đỏ: thay tã lót luôn, lau ghế luôn, dùng pommát sát trùng bôi lên chỗ mẩn đỏ. Khăn trải giường (nếu dùng cho Bé) cũng nên thay luôn, ghế Bé ngồi thỉnh thoảng nên mang phơi nắng.

    Sau khi tắm cho Bé nên lau thật khô hay sấy cho Bé bằng cái sấy tóc, nhưng phải hết sức cẩn thận không làm Bé bỏng.

    Nếu chỗ mẩn đỏ cả tuần lễ chưa khỏi thì nên hỏi bác sĩ, không cần thay đổi chế độ ăn của Bé.

    Mẩn đỏ ở cổ, nách và sau tai – Những chỗ mẩn đỏ bóng và có nước. Bạn hãy chú ý coi cổ áo của Bé có chật quá không, không năng tắm rửa và mồ hôi là nguyên nhân của những chỗ mẩn đỏ này.

    Hãy thay quần áo tã lót cho cháu sau khi tắm kỹ bằng loại xà phòng có nhiều tính chua (axít), rồi dùng dung dịch sát trùng loại éosine 1% bôi cho cháu.

    Chỉ nên mặc cho cháu những quần áo bằng vải, từ các chất liệu thiên nhiên như bông, len chứ không nên dùng các chất liệu tổng hợp.

    [​IMG] Bé có những chấm đỏ và những mụn nhỏ trắng chảy nước, ở gáy, lưng, đôi khi ở vòng quanh bụng chỗ vẫn quấn khăn quanh rốn làm cháu luôn cựa quậy, ngủ không yên giấc: tránh đắp cho Bé nhiều chăn quá hoặc đặt Bé trong phòng nóng quá. Tắm cho Bé bằng xà phòng có tính axít hoặc nước pha chanh (để có tính axít). Cho cháu tấm nắng vừa phải, mỗi ngày.

    Nếu da cháu vẫn chảy nước, cần đi khám bác sĩ.

    [​IMG] Cần nói gì với bác sĩ? Nếu bạn liên lạc với bác sĩ qua điện thoại, nên nói ngay cháu bé mấy tháng, mấy tuổi? Vì có một số bệnh chỉ xuất hiện ở một độ tuổi nào đó. Hãy cho bác sĩ biết thêm: cháu bé có sốt không? Chỗ da chảy nước thế nào? Bé đã uống thuốc gì chưa?

    [​IMG]

    [​IMG] Sốt - Lấy nhiệt độ cho Bé. Thường thì các bệnh ngoài da không làm trẻ sốt. Nếu những nốt mẩn ngoài da lại kèm theo sốt thì Bé đã mắc bệnh như: sởi, nhiễm khuẩn,... Biết thân nhiệt của bé khi sốt, bác sĩ sẽ dễ chẩn đoán bệnh.

    Những nốt mẩn đỏ có thể mất đi sau vài giờ, như ở bệnh sởi. Bởi vậy, trước khi nói chuyện với bác sĩ, bạn cần phải nhớ lại những điều sau:

    [​IMG]Những nốt đỏ mọc ở đâu? khắp người Bé hay chỉ có ở mông? ở những vết nhăn trên đùi, tay? ở cổ, trên mặt, ở lông mày, quanh miệng, sau tai? Những nốt mẩn bắt đầu ở đâu trước tiên ? Lan ra tới đâu? ấn tay vào có hết đỏ không?

    [​IMG] Cỡ to nhỏ của nốt mẩn: bằng đầu mũi kim hoặc lớn hơn?

    [​IMG] Mầu: đỏ, đỏ tím hay đỏ sẫm... ?

    [​IMG] Những nốt đỏ rời nhau hay từng mảng?

    [​IMG] Nốt đỏ có phồng lên, có vảy không ? Bé có gãi không?

    [​IMG] Sờ vào những nốt đó thấy nhẵn hay ráp? Có chỗ nào mềm hoặc cứng không?

    Bạn có thể nghĩ rằng những nhận xét trên không quan trọng, nhưng chính chúng lại giúp cho bác sĩ xác định được bệnh vì mỗi bệnh có những điểm riêng chỉ khác nhau một vài chi tiết nhỏ.

    (theo Everycare for Everymum)​
     
  14. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    7. Chứng nổi mụn ngứa.


    [​IMG]

    Cháu bé không ngủ được vì ngứa, gãi.
    Do vậy, đôi khi cháu không chịu ăn, đi tướt hoặc ngược lại đi táo. Trên da cháu, xuất hiện những nốt phồng nhỏ đường kính chừng lmm, màu đỏ, mọc khắp người trừ phần da đầu: đó là chứng mụn ngứa. Khi phát triển, mầu các nốt mụn ngứa thành đỏ thẫm, đôi khi có vẩy vàng, cứng, sờ vào thấy nháp tay. Khoảng từ 8 tới 10 ngày sau mụn ngứa lặn để lại những vết đỏ, rồi vết này cũng nhạt dần.

    Các cháu nhỏ thường bị nổi mụn ngứa nhiều lần, cách quãng nhau vài ngày hay hơn.

    Chứng mụn ngứa có thể vì nguyên nhân tiêu hóa không tốt hoặc dị ứng do bị côn trùng đốt.

    Với các trẻ sơ sinh, không cần thay đổi chế độ ăn nếu không có ý kiến của bác sĩ. Những chỗ ngứa nhiều, có thể bôi thuốc đỏ Mercurochrome hoặc cồn iốt 1%. Nếu chỗ ngứa bị nhiễm trùng hay sây sát nên dùng băng dính che lên trên.

    Các bà mẹ nên kiên nhẫn và yên tâm; thế nào rồi các mụn ngứa cũng sẽ lặn hết.

    Trong trường hợp cháu bị nhiều quá, bác sĩ thường cho các cháu uống thuốc cho đỡ ngứa và nếu cần, chuyển qua bác sĩ chuyên bệnh ngoài da và dị ứng.


    8. Dị ứng.

    Dị ứng nói chung là phản ứng của cơ thể chống lại sự xâm nhập của các "chất lạ" vào cơ thể, bằng cách sinh ra các kháng thể.Những chất lạ còn được gọi là các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể qua da, đường hô hấp (mũi, khí quản, phổi) và đường tiêu hóa. Dị ứng da thể hiện ra ngoài theo các dạng eczema, mẩn đỏ, phù da, mụn loét.

    [​IMG]

    Những chất lạ gây dị ứng da bao gồm các hóa chất như phấn, kem bôi da để trang điểm, vải mặc tổng hợp, các thuốc pom-mát v.v..., các dược phẩm uống hoặc tiêm chích. Một số thực phẩm không thích ứng với từng người như thịt bò, tôm, cua, cá...

    Những biểu hiện dị ứng của bộ máy hô hấp là: ho, hen, viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản.

    Những chất lạ gây dị ứng đường hô hấp có thể là phấn hoa, lông gà vịt, lông chó mèo, bụi trong nhà, ngoài đường, vi khuẩn, vi trùng, mốc.

    Bộ máy tiêu hóa bị dị ứng có các biểu hiện:tiêu chảy trong thời gian ngắn hoặc tái đi tái lại, nôn ói, đau bụng kèm theo dị ứng da như mẩn ngứa. Dị ứng thêm đường hô hấp ít khi xảy ra.

    Những chất gây dị ứng thường là thực phẩm hoặc có trong thành phần thực phẩm như chất prôtêin trong sữa bò, lòng trắng trứng, cá, thịt, các đồ biển; một số quả, lạc (đậu phộng), ngũ cốc các loại... Muốn chữa trị dị ứng, bác sĩ phải hỏi bệnh nhân tỉ mỉ về nề nếp sinh hoạt, để biết được thường bệnh nhân bị dự ứng trong các điều kiện nào, ở chỗ nào, sau khi ăn gì. Từ đó truy tìm và xác định "chất lạ" là chất gì, ở đâu.

    Ngoài ra, bác sĩ còn phải tìm "chất lạ" cả trong máu và tiến hành việc cấy vào dưới da một số chất dễ gây dị ứng để thử nghiệm. Ðối với trẻ em, việc cấy thử như vậy rất khó thu được kết quả.

    Chữa trị dị ứng là một việc làm đòi hỏi một thời gian lâu, phức tạp dù việc làm có vẻ như đơn giản: tìm ra "chất lạ", nguyên nhân của dị ứng rồi tránh xa để đề phòng. Người ta cũng dùng phương pháp tiêm chích các thuốc chống dị ứng với liều lượng ngày một tăng.

    Dị ứng cũng là một chứng bệnh gia truyền nên có thể biết ngay từ lúc đứa trẻ mới sinh bằng cách thử máu. Sau đó, để tránh cho các cháu khỏi có các triệu chứng của bệnh này, thì tốt nhất là cho các cháu bú sữa mẹ.


    9. ECZEMA.


    [​IMG]

    ECZEMA có những triệu chứng khác nhau tùy theo độ tuổi của đứa trẻ
    Bé mới mấy tháng hay đã được hơn 2 năm.

    [​IMG] Ðối với các cháu lớn từ 2 tuổi trở đi, eczema thường biểu hiện ở các chỗ gấp chân, tay: da đỏ, thoạt đầu ướt, chảy nước, sau đó, khô đi và ngứa làm đứa trẻ khó chịu, không ngủ được.

    Eczema tiến triển trong một thời gian dài, từng thời kỳ và một số trường hợp, kèm theo bệnh hen.

    Việc chữa trị đòi hỏi một thời gian lâu và thường bị đi bị lại.

    [​IMG] ECZEMA ở các cháu sơ sinh - Từ tháng thứ 2 - 3 trở đi. Thường các cháu bị ở đầu, má, trán, cằm, có thể phát triển tới vai, tay, lưng bàn tay, ngực... Nhưng phần lớn hay bị ở đầu.

    Thoạt đầu da cháu bé đỏ lên rồi có những đốm nhỏ xuất hiện, Bé cảm thấy ngứa nên khóc, cựa quậy, sát má xuống giường. Những đốm nhỏ tiết ra một chất lỏng, cứng lại thành vẩy làm chỗ da đỏ khô lại nhưng vẫn đỏ và dễ có những vết nứt.

    Một cháu bé có thể bị eczema ngay từ năm đầu và bị đi bị lại từng đợt. Tới tháng thứ 18, cháu bé khỏi nhưng lại có thể bị bệnh hen tiếp theo. ECZEMA làm đứa trẻ dễ bị mất nước và nhiễm trùng.

    Việc chữa trị đòi hỏi sự kiên trì. Một số trường hợp cần bôi thuốc có cortisone.

    Các cháu bé bị eczema không cần kiêng sữa nhưng không nên ra nắng, gió.

    Trong thời gian bị eczema, tránh tiêm chích các vắc xin trừ trường hợp chích B.C.G phòng lao.

    Không nên cho cháu bé lại gần, hoặc chơi cùng với các cháu mới tiêm ngừa bệnh đậu mùa và hết sức đề phòng để cháu khỏi bị lây bệnh này.

    10. Mẩn đỏ.


    Da trẻ em có thể bị những nốt mẩn màu hồng, xung quanh viền trắng nhạt, hơi phồng, to nhỏ tùy lúc, giống những nốt bọ ve cắn làm cho các cháu ngứa.

    Hiện tượng này có thể xảy ra với cả các cháu sơ sinh và có nhiều nguyên nhân. Có trường hợp vì thức ăn như trứng (nhất là lòng trắng trứng), cá, thịt ngựa, sô-cô-la, nước cam, dâu; có khi vì các dược phẩm đủ loại như thuốc uống, thuốc bôi, thuốc chích (pénicilline là một thí dụ); có khi vì cháu bé tiếp xúc với những hóa chất hoặc cây cỏ. Với sự cộng tác của bác sĩ, các bà mẹ hoặc người trông nom cháu cần tìm ra nguyên nhân chính để cháu tránh khỏi bị mẩn đỏ sau này.

    Việc phát hiện nguyên nhân, thường khi rất khó. Ðể các cháu đỡ ngứa, có thể cho cháu uống một thìa cà phê xi rô chống dị ứng (antihistaminique).

    Bệnh giun sán (sán lải) cũng gây mẩn đỏ ngoài da. Hiện tượng mẩn đỏ có thể có cả ở mặt, bộ phận sinh dục... Nếu bị ở họng, cháu bé sẽ khó thở cần phải được chữa trị ngay.


    11. Ghẻ.

    [​IMG]

    Chúng ta không nên coi đó là một việc đáng xấu hổ nếu bác sĩ cho biết: cháu bé bị ghẻ. Ghẻ rất dễ lây, ở bất cứ chỗ nào, bất cứ vật gì cháu bé đã tiếp xúc: quần áo, giường, ghế...

    Bởi vậy cháu bé có thể đã bị lây ghẻ ngay trong nhà hoặc ở nhà trẻ, ở trường.

    Chỗ da bị lây nhiễm có các mụn ngứa thường ở cổ tay, ở những chỗ có nếp nhăn ở khuỷu tay, ở sườn, nách, quanh vú, ở vai, rốn, bộ phận sinh dục, mông, gót chân, gan bàn chân.

    Những chỗ ký sinh trùng ghẻ đào rãnh để đẻ trứng, da bị phồng lên màu trắng ngà, nhìn kỹ thấy có liên quan với một con đường nhỏ màu xám.

    Ðể chữa trị phải năng tắm cho các cháu, sát xà phòng, chài da bằng bàn chải rồi bôi thuốc sát trùng (loại thuốc ghẻ) trên toàn thân thể.

    Phải giặt, nấu các quần áo, khăn trải giường, găng tay khử trùng giày, dép của cả nhà.

    Tất cả mọi người trong gia đình cần được khám xem mình có bị ghẻ không, vì chỉ chữa trị cho cháu bé thì không đủ.

    (theo Everycare for Everymum)​
     
  15. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    12. Chốc lở.


    [​IMG]

    Chốc lở là bệnh ngoài da của trẻ em,
    do các tụ cầu trùng hoặc liên cầu trùng gây ra. Ban đầu ở da mọc lên một nốt rộp nhỏ. Nốt rộp to lên trong một vài giờ sau rồi vỡ thành một chấm đỏ, chảy nước, mùi tanh; bên trên dần dần đóng lại thành một lớp vẩy màu vàng, dính như sáp ong, cuối cùng thành màu xám.

    Các cháu hay bị lờ ở mặt, quanh mũi, mồm hoặc ở trên da dầu (chốc) và cả bên trong miệng nữa. Những cái vẩy đôi khi rất dày.

    Chốc lở dễ lây lan. Chính bàn tay các cháu nhỏ sở vào những vết lở của mình ở chỗ này, rồi lại làm lây lan ra chỗ khác ngay trên cơ thể của cháu. Bởi vậy, các cháu bé đang bị chốc lở nên tạm nghĩ ở nhà, không nên tới trường hoặc nhà trẻ, để tránh lây sang các bạn.

    Bác sĩ thường cho thuốc bôi lên vết lở sau khi đã cậy lớp vảy đi. Người ta thường đắp lên vảy một lớp gạc tẩm va-dơ-lin một thời gian để cho vẩy mềm, trước khi làm tróc nó đi.


    13. Nhọt.

    [​IMG]

    Một chỗ da phồng lên, đau nhức và đỏ. Sau vài ngày phần da ở giữa mỏng đi, nhìn thấy ở dưới có mủ: đó là nhọt. Khi nhọt vỡ, mủ trắng vàng chảy ra.

    Thoạt đầu ở một điểm trên da có thể mọc lên nhiều đầu nhọt rồi mới tụ lại thành một cái duy nhất. Các cháu thường có nhọt ở đầu, trong tóc, ở lưng, mông, đùi, cánh tay. Nếu cháu bé mới mấy tháng đã có nhọt thì rất đáng ngại vì điều này chứng tỏ cơ thể cháu đã bị loại tụ cầu trùng vàng xâm nhập. Vi trùng này sẽ có thể còn phát triển ở tai, ruột, ổng tiểu, xương hoặc ở bộ máy hô hấp của cháu, gáy ra những biến chứng quan trọng hơn nữa.

    Trong khi chờ đợi bác sĩ điều trị, bạn hãy dùng gạc mềm phủ lên trên nhọt để tránh quần áo cọ vào và lây lan ra những chỗ khác.

    Dù chỉ có nhọt, nhưng cháu bé cũng cần được khám sức khỏe toàn bộ.

    Người lớn có nhọt không? lại gần các cháu sơ sinh, không được săn sóc hoặc trực tiếp cho các cháu ăn, uống.

    Nếu chính bà mẹ bị nhọt, phải chú ý rửa tay, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với Bé. Nếu một bên ngực có nhọt thì chỉ cho bú bên vú không có nhọt.


    14. ÁP XE.

    Áp xe là một bọc kín như một cái túi, có chứa mủ, do tế bào và các bạch huyết cầu bị chết sau những trận chiến đấu với các vi trùng đột nhập vào cơ thể tạo thành (thường là loại tụ cầu khuẩn staphylocoque). Ðiểm cơ thể bị áp xe thường cách với các cơ và mô lành khác bởi một vùng bị tấy đỏ.

    [​IMG]

    ÁP XE ở dưới da.
    Chúng ta có thể theo dõi dễ dàng sự tiến triển của nó. Trong giai đoạn đầu, khi mủ đang hình thành và tụ dần vào một điểm, lớp da ở đó bị tấy đỏ, nóng, sưng và đau nhức. Khi mủ đã tích tụ lại một nơi, vùng này trở nên mềm hơn - nếu là cái nhọt, người ta thường nói nhọt đã "chín" - Lúc này, cần phải nhể hay chích để cho mủ thoát ra ngoài. Nếu ta không làm thế, áp xe cũng có thể tự vỡ. Khi mủ đang tích tụ lại, người bệnh thấy đau, nhức và có thể sốt.

    Tóm lại, có thể nhớ 4 triệu chứng đặc trưng là: sưng - nóng - đỏ - đau.

    Trên đây là sự mô tả hiện tượng bị áp xe "nóng". Có khi sự tiến triển của áp xe rất chậm và lâu khiến người bệnh không chú ý: đó là loại áp xe "nguội".

    Da của trẻ sơ sinh và của trẻ em rất mỏng manh, một vết xước nhỏ, một mũi kim chích cũng có thể mở đường cho sự viêm, nhiễm. Do đó, để phòng bệnh cho các cháu, cần phải giữ gìn cho da các cháu luôn sạch sẽ. Phải rửa sạch các đồ chơi. Người lớn tiếp xúc với các cháu cũng phải chú ý có đôi bàn tay sạch.

    Nếu thấy có chỗ nghi cháu bị viêm nhiễm, phải đưa cháu tới bác sĩ. Trong khi chưa có bác sĩ, có thể lau hoặc đắp lên chỗ bị viêm bằng những miếng gạc tẩm nước ấm có pha cồn để làm giảm đau và hạn chế khu vực bị viêm.

    Áp xe là điểm bị viêm nhiễm, dù nhỏ cũng không nên coi thường, vì đó là cửa vào của các vi trùng. Chúng có thể định cư ở đây hoặc phát triển tới mọi nơi khác của cơ thể gây ra các bệnh khác như viêm xương, viêm phổi v.v...

    Nếu con bạn bị viêm nhiễm luôn luôn, đó là vì sức đề kháng của cơ thể cháu yếu.

    Ðiều này có thể liên quan tới một căn bệnh nào đó như bệnh tiểu đường hay suy giảm miễn nhiễm chẳng hạn. Các căn bệnh này có thể có tính chất ngắn hạn hoặc dài lâu.

    15. Mụn cơm.


    Trẻ em thường có mụn cơm ở bàn tay và bàn chân, giống như những lớp chai. Một số mụn nhỏ máy hơi vàng, bẹt có thể có ở bất cứ chỗ nào trên thân thể.

    Những mụn cơm này lây vì nguyên nhân có thể là do vi rút. Nước là môi trường tốt cho hiện tượng lây lan. Bởi vậy, không nên tắm cùng một lúc cho 2 trẻ em, nếu một cháu có hạt cơm.

    Có thể làm cho những mụn hạt cơm biến đi bằng cách lấy bông thấm cồn i-ốt hoặc mỡ Salicylic rồi đắp vào buổi sáng và buổi tối lên trên chỗ có mụn. Bác sĩ còn có thể khử mụn bằng ni tơ lỏng, hoặc bằng phương pháp phẫu thuật.

    Phần nhiều trường hợp, cứ để tự nhiên rồi chúng cũng lặn đi.


    16. Mụn rộp.

    [​IMG]

    Nhiều mụn màu đỏ, nổi lên thành cụm như những đầu đanh ghim, tròn, bóng. Khi các mụn trở thành trong suốt, chỉ có phần chân mụn là đỏ, thì cả đám khô nhanh, thành vảy màu xám và sẽ khỏi trong vòng 10 ngày.

    Những mụn rộp như thế thường thấy ở miệng (chốc mép), ở mắt và cả ở bộ phận sinh dục. Người lớn cũng hay mắc phải.

    Bệnh dễ lây vì do một loại vi rút gây ra. Ðối với các trẻ sơ sinh, bệnh mụn rộp rất nguy hiểm vì vi rút có thể tấn công hệ thống thần kinh của các cháu bé. Bởi vậy, nếu bà mẹ bị bệnh này khi có mang, khi sanh con, khi cho con bú đều phải có biện pháp phòng bệnh cho con.

    Các cháu bé bị mụn rộp ở miệng thường kèm theo sốt hoặc ho. Hiện nay, ngành y đã có một loại thuốc có tác dụng mạnh tới vi rút của bệnh này là Zovirax.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  16. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    17. Bỏng dạ.


    [​IMG]

    Bỏng dạ là một bệnh ngoài da thường gặp ở các cháu mới sinh hoặc trong tuổi ẵm.
    Thoạt đầu, da có một chấm đỏ phát triển nhanh thành một bọng nước bằng hạt lúa mì . Sau vài giờ bọng vỡ ra để lại một vết mẩn đỏ, ở giữa có một vòng tròn nhỏ mầu đỏ tía, chảy nước. Các nốt này có thể mọc lan khắp người trừ gan bàn tay và bàn chân. Sau 8 tới 10 ngày, da sẽ trở lại bình thường.

    Bỏng dạ là một bệnh rất dễ lây nên thường gặp ở nhiều cháu bé trong cùng một thời gian tại những tập thể như nhà hộ sinh, nhà giữ trẻ v.v... Bé bị bệnh có thể sốt tới 38o-39oC hay hơn nữa. Bé không chịu ăn và có thể bị rối loạn tiêu hóa.

    Bệnh này cũng do liên cầu trùng streptocoque hay tụ cầu trùng staphylocoque gây ra, nên bác sĩ sẽ cho Bé uống thuốc kháng sinh. Nếu không chữa tri cẩn thận, bệnh cũng có thể có những biến chứng rắc rối hơn.


    18. Bỏng.

    Ðể xác định bị bỏng nặng hay nhẹ, người ta dựa vào 2 điều: vết bỏng rộng hay hẹp? nông hay sâu ?

    Sự nghiêm trọng tức khắc của vết bỏng là tùy ở diện tích bị bỏng, có thể gây choáng và mất nước. Ở một cháu bé, diện tích da các phần cơ thể như sau :

    [​IMG] Ðầu : 18%

    [​IMG] Ngực: 18%

    [​IMG] Lưng: 18%

    [​IMG] Mỗi cánh tay: 9%

    [​IMG] Mỗi bên chân: 14%

    Nếu diện tích bị bỏng của cháu bé trên 5%, cần phải đưa đi bệnh viện.

    Bỏng trên bề mặt da được gọi là bỏng cấp 1, tuy đau nhưng dễ lành. Sau hơn 10 ngày chỗ bỏng để lại những vết sẹo mầu đỏ.

    Những vết bỏng sâu (bỏng cấp 2),
    lâu lành hơn, từ 15-20 ngày. Những vết bỏng này có liên quan tới da, thịt và có thể cả xương. Khi chữa trị, có khi phải ghép các mô và công việc này cần thực hiện thành nhiều đợt.

    Bỏng sâu là bỏng nặng, làm co da, thịt, sau khi khỏi ở một số nơi như: mặt, cổ, những chỗ có nếp gấp (nách, khuỷu) bàn tay, ngón tay, ngực. Tuy vậy, bị bỏng cấp 1 nhưng trên diện tích lớn có khi nguy hiểm hơn bỏng cấp 2, mà diện tích nhỏ.

    Nguyên nhân bỏng đối với trẻ em thường là bị các đồ dùng nấu nước, thức ăn lỏng sôi, dội lên người, sờ tay vào ấm nước sôi, bàn là (ủi) v.v...

    Các trường hợp bỏng vì hóa chất (chất tẩy rửa, axít...), bỏng vì điện thường bị ở ngón tay, ở miệng tuy diện tích nhỏ nhưng là những vết bỏng sâu.

    Ðề phòng bỏng cho các cháu là biện pháp tốt nhất.

    Việc này chủ yếu là do sự chú ý cẩn thận của người lớn, việc tuyên truyền nhắc nhở mọi người qua hệ thống thông tin (rađiô và tivi) về việc giữ gìn các cháu nhỏ xa các chỗ đun nấu, các vòi nước nóng, các đồ điện, các hóa chất sử dụng trong gia đình.

    Làm gì khi cháu bé bị bỏng?


    [​IMG] Trường hợp bỏng trên da (cấp 1): bọc cháu vào một tấm vải sạch để chuyển cháu tới nơi cấp cứu. Không cố gắng cởi bỏ quần áo cháu ra.

    [​IMG] Trường hợp vết bỏng nhỏ, không sâu, nhẹ: rửa nhẹ bằng loại xà phòng sát trùng rồi băng bằng loại băng mềm, xốp để có thể thay băng 2-3 ngày một lần.


    19. Bệnh Dôna.


    Bệnh Dôna biểu hiện bởi các mụn nhỏ tập trung ở vùng ngực, vành tai, ở trán hoặc ở lông mày. Những mụn rộp này sẽ tự khô nhanh tạo thành những cái vẩy. Nhưng vẩy này sẽ bong ra vào khoảng 10 ngày sau, không gây khó chịu hay đau nhiều cho các cháu.

    Chứng này do các virút gây ra có lẽ cùng loại với vi rút gây ra bệnh thủy đậu. Rất có thể, có sự liên quan và lây lan giữa 2 chứng thủy đậu và dôna.


    20. Hạch.
    [​IMG]

    Hạch là những điểm phồng chúng ta có thể sờ thấy dưới da ở cổ, dưới tai, dưới hàm, dưới cánh tay, ở nách, ở bẹn.
    Đó cũng là những điểm sản xuất bạch huyết cầu của máu có khả năng chống sự viêm nhiễm. Trẻ em khi bị ho, viêm họng, viêm tai, sởi ... thường có những hạch nổi lên ở cổ.

    Các cháu hay có hạch ở cổ, ở nách và ở háng. Hạch có thể bất chợt đỏ, nóng và đau đó là viêm hạch do vi trùng gây ra thường gây sốt và phát triển như một áp xe có khi cần phải chích ra.

    Những hạch cứng, không đau, lâu không tan thuộc loại viêm hạch mãn tính, cần phải cho bác sĩ biết.

    Những trẻ em hay có hạch mỗi khi đau hoặc có bệnh gì thường là các cháu yếu, vẻ mặt xanh xao, hay mỏi mệt, sức khỏe kém.

    Những loại bệnh như sởi, bệnh tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm trùng bệnh toxoplasmose... có thể gây phản ứng cho cơ thể, tạo ra nhiều hạch.


    21. Rát vì lá han.


    Nếu cháu bé nghịch phải những lá han - một loại lá có lông dễ cắm vào tay chân người đụng chạm tới nó gây nhức rát - hãy đắp lên chỗ da bị rát một khăn tẩm nước có pha giấm. Nếu cháu bị đau nhiều, cho uống aspirin (nếu bác sĩ đồng ý) hoặc một loại thuốc chống dị ứng (antihistamine).


    22. Bệnh vẩy Leiner-moussous.

    Bệnh này còn gọi là bệnh "hai cực"
    vì các cháu bé thường bị ở phần thân dưới như mông, đùi rồi lại tới phần trên như đầu, tóc, ngay khi cháu mới sinh được vài tuần.

    Ðây là một bệnh ngoài da: da nhẵn khác thường và đổ mồ hôi, ẩm và đỏ. Mới đầu ở mông, bộ phận sinh dục, đùi trong, bụng. Sau tới đầu: phần da đầu, lông mày có những vẩy nhờn, bóng mầu vàng sẫm. Khi những vẩy này bong ra, phần da ở chỗ đó đỏ ửng. Hiện tượng này có thể xảy ra ở mọi nơi có vết nhăn như cổ, nách, sau tai hoặc toàn thân.

    Cháu bé không sốt và vẫn có vẻ bình thường. Một số ít có thể đi nhiều phân hơn mọi khi.

    Để chữa trị,
    vẫn cho cháu ăn ở mức bình thường. Dùng dầu thảo mộc (dầu ô-liu) lau những chỗ bị viêm rồi rửa sạch bằng loại xà phòng giàu tính axít. Bác sĩ có thể cho cháu bé dùng các thuốc bôi nước có mầu hoặc các pom-mát có chất kháng sinh.

    Ðể bé chóng khỏi, cần giữ cho da cháu thật khô. Muốn vậy, phải thay quần áo cho cháu luôn. Ở bệnh viện, người ta để cháu ở truồng, ngoài không khí có nhiệt độ thích hợp.

    Hết sức tránh làm cho bé đổ mồ hôi
    như không mặc cho cháu những quần áo bằng vải không thấm, vải tổng hợp, đồ len v.v...

    Bệnh này thường sẽ khỏi trong vài tháng. Nguyên nhân bệnh chưa được rõ nhưng đây là loại bệnh khác với eczema.


    23. VIÊM TẤY VÀ CHÍN MÉ.


    [​IMG] Viêm tấy - là một loại áp xe có thể lan rộng (coi thêm vê nhọt).

    [​IMG] Chín mé – Thường thấy ở ngón tay, nhiều khi chỉ là một điểm nhỏ có mủ. Tuy vậy, cũng không được coi thường và bỏ qua. Cần phải rửa sạch, giữ sạch và đôi khi phải chích để cho mủ thoát ra.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
    monalisa09 thích bài này.
  17. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    Phần IV:
    Những vấn đề liên quan đến bộ phận sinh dục và bài tiết


    [​IMG]

    1. Bộ phận sinh dục bị sưng tấy.

    Bạn có bao giờ thấy con mình hay đưa tay vào bộ phận sinh dục của nó hay không? Nếu có, chắc là Bé thấy khó chịu gì đó, chúng ta cần chú ý để chữa trị cho bé.

    [​IMG] Ở bé trai,
    đầu dương vật của cháu đỏ, bị sưng và đôi khi có mủ. Những cháu nào bị hẹp da quy đầu (PHIMOSIS) thường hay có các hiện tượng như trên (coi bài hẹp quy đầu (PHIMOSIS)).

    [​IMG] Với các cháu gái,
    đôi khi các môi lớn bị ngứa và phồng giộp có thể có mủ chảy ra (coi bài Viêm âm hộ (Vulvite).

    Cả 2 trường hợp của Bé trai và Bé gái đều cần giữ sao cho bộ phận sinh dục không bị hấp hơi, ẩm ướt: muốn vậy, không nên cho các cháu mặc quần áo chật, hoặc các loại quần áo khó thấm bằng vải tổng hợp hay cao su.

    Cũng cần lưu ý, sau các buổi tắm biển mùa hè, đừng để cát lọt vào bộ phận sinh dục và lưu lại ở đấy.

    Tắm và rửa bộ phận sinh dục cho các cháu bằng loại xà phòng giàu tính xút, nhiều khi cũng khỏi. Nếu không có kết quả, cần nói cho bác sĩ biết.


    2. Tật lỗ tiểu thấp.

    Khi bé trai có lỗ tiểu không ở giữa đầu dương vật mà lại ở phía dưới dương vật thì cần phải phẫu thuật để tạo ra đường ống tiểu thẳng bình thường.


    3. Hẹp da quy đầu.

    Bình thường, lớp da bọc chung quanh quy đầu của con trai có thể kéo tuột ra đằng sau, để lộ phần đầu dương vật ra ngoài. Sẽ không thực hiện được việc làm này nếu phần da bọc bi dính vào quy đầu hoặc quá chật, chỗ bao quanh quy đầu nhỏ hơn chỗ chu vi lớn nhất của quy đầu khiến lớp da không tuột ra sau được.

    Trước đây, người ta cho rằng những trường hợp như thế cần phải phẫu thuật lớp da bao quy đầu, ngay khi cháu bé còn nhỏ tuổi, để đảm bảo vấn đề vệ sinh, rửa sạch quy đầu.

    Nhưng, hiện nay người ta thấy không cần thiết phải lo sớm như thế. Nhiều cháu bé có da bọc chật như vậy là điều tự nhiên. Lớp da này sẽ rộng ra khi các cháu lớn lên. Nếu cần, sẽ phẫu thuật cho các cháu ở độ 3-4 tuổi. Chỉ cần thực hiện sớm hơn nếu, vì lớp da quá hẹp mà khi cháu bé đi tiểu, nước tiểu làm phồng quy đầu, khiến nước tiểu khó thoát ra.

    Phẫu thuật cắt mở rộng da quy đầu sớm quá có thể dẫn đến những sự trục trặc về sau này như : lớp da tụt xuống vĩnh viễn không trở lại được vị trí cũ để bao bọc và bảo vệ quy đầu nữa. Nếu lớp da này tạo thành một cái vòng thít chặt lấy đoạn gốc quy đầu cần thiết phải phẫu thuật cấp cứu để giải tỏa sự tuần hoàn ở quy đầu.

    Khi da bọc quy đầu bị sưng đỏ, tiểu thấy đau rát, có mủ, người ta thường chữa trị bằng thuốc bôi sát trùng sau khi rửa sạch.


    4. Cắt da quy dầu.

    Tiểu phẫu thuật cắt da quy đầu của đứa trẻ mấy ngày sau khi sinh chỉ là tục lệ của người Do Thái Israel, và một số dân tộc theo đạo hồi, không phổ biến ở các nước khác.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  18. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    5. Tinh hoàn.


    [​IMG]

    Về đôi tinh hoàn, gọi nôm na là hòn dái, có thể có những trục trặc sau đây ở bé trai:

    Tinh hoàn không xuống (tinh hoàn lạc vị).

    Ðôi khi, trong túi đựng tinh hoàn (bìu) của cháu nhỏ, chỉ có 1 tinh hoàn. Như vậy, không phải là cháu bị thiếu, mà vì một tinh hoàn còn nằm ở phần bụng, chưa tụt xuống túi. Hãy đặt cháu nằm dài trên giường, hoặc trong bồn tắm nước ấm rồi lấy tay ấn nhẹ vào phía trên bộ phận sinh dục, ngang tầm háng để làm cho một tinh hoàn nằm trong đó, tụt xuống dưới. Trước khi đến tuổi dậy thì, có thể cái "hột" này sẽ tụt xuống nằm đúng vị trí của nó ở trong túi.

    Sau 6 tuổi, ít có khả năng tinh hoàn có thể tụt xuống được nữa, vì thế cần phải tiến hành một cuộc phẫu thuật nhỏ.

    Bìu to - Các cháu trai mới sinh ra có bìu dái to vì có chất lỏng bên trong cùng với các tinh hoàn. Sau một vài tuần, chất lỏng này sẽ tiêu đi và bìu lại có kích thước bình thường.

    Xoắn tinh hoàn
    - Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có tinh hoàn bị xoắn sẽ làm cho bìu sưng to lên, màu đỏ tía. Tuy không đau mấy và không sốt, nhưng vẫn cần phải mổ gấp ngay, để cứu cho tinh hoàn khỏi bị hư hoại.

    [​IMG]

    6. Viêm âm hộ, âm đạo.

    Các cháu gái có thể bị viêm ở bộ phận sinh dục, có mủ từ âm đạo chảy ra. Bác sĩ thường yêu cầu lấy một ít mủ để xét nghiệm và cho cháu uống thuốc kháng sinh. Trong trường hợp bị nặng, cần xem cháu có bị vật gì lạ chọc vào âm đạo hay không.


    7. Ái nam, ái nữ.


    Là trạng thái của đứa trẻ ngay từ khi mới ra đời đã có bộ phận sinh dục dị dạng, không phân biệt được nam hay nữ. Sự dị dạng này bắt đầu từ khi bộ phận sinh dục được hình thành trong dạ con.

    Trường hợp thường gặp nhất là bộ phận sinh dục nữ bị nam hóa có âm vật phát triển lồi ra ngoài như dương vật. Hai môi lớn chảy xệ xuống như cái bìu nhưng bên trong không có tinh hoàn.

    Người ta cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do một chứng bệnh của tuyến thượng thận đã sản xuất ra hoóc-môn nam một cách bất bình thường, quá mức. Cũng có thể do người mẹ đã dùng thuốc chữa trị bằng hoóc-môn trong giai đoạn đầu của thời gian mang thai.

    Hiện tượng này thường gây khó khăn cho các bậc cha mẹ khi đi khai sinh cho con, không biết khai là nam hay nữ. Tốt nhất là khai: giống chưa xác định.

    Người ta thường phải đợi tới khi cháu bé lớn lên, theo dõi xem sự phát triển của cơ thể và bộ phận sinh dục của cháu thiên về phái nào nhiều hơn. Sau đó, có thể can thiệp thêm bằng phương pháp phẫu thuật để định giống cho cháu.


    8. Sự lưu thông ngược cháu bàng quang - niệu đạo.

    Sự lưu thông của nước tiểu từ bàng quang về thận cũng là một sự lưu thông bất thường, ngược chiều tự nhiên. Hiện tượng này thận bị tổn thương. Các cuộc xét nghiệm về X-quang có thể cho thấy bệnh nặng hay nhẹ.

    Ðể chữa trị, bác sĩ thường cho uống những đợt thuốc kháng sinh trong thời kỳ đầu, trong thời gian một vài tháng để chống viêm niệu đạo. Nếu không khỏi, có thể cần phải phẫu thuật.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  19. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    9. Viêm đường tiết niệu.


    [​IMG]

    Nhiều trẻ sơ sinh bị viêm đường tiểu tiện. Không thể đòi hỏi các cháu cho biết những biểu hiện của bệnh như người lớn như đi tiểu tiện thấy rát và đi luôn v.v. .. Bởi vậy, khi thấy cháu có những cơn sốt cao mà không phải do viêm họng chẳng hạn, thì chú ý ngay. Nhiều khi bệnh của cháu chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu như không chịu ăn, mặt tái nhợt, đau vùng bụng, không hoặc kém tăng cân.

    Việc xét nghiệm nước tiểu sẽ cho bác sĩ biết cháu có bị bệnh hay không. Nếu cháu bị viêm đường tiểu tiện thì phải dùng thuốc kháng sinh ngay. Bệnh này phải chữa trị lâu, phải làm xét nghiệm nước tiểu nhiều lần để kiềm tra và là bệnh khó chữa.

    Ðôi khi, nguyên nhân bệnh là do bộ máy tiểu tiện của cháu có dị tật bẩm sinh. Bởi vậy, bác sĩ cần phải tiến hành dò bệnh bằng cách chụp X-quang hay dùng phương pháp siêu âm nữa. Nếu quả thật có hiện tượng dị tật ở các ống dẫn tiểu thì lại phải đưa cháu tới bác sĩ chuyên khoa về tiết niệu.

    Hiện tượng đường tiểu không thông khiến có sự dồn tắc và nước tiểu chảy ngược từ bọng đái lên thận có thể là nguyên nhân của các cơn đau đi đau lại.

    10. Axêtôn.

    Axêtôn là một chất được tạo thành ở gan từ chất mỡ. Khi cơ thể có một lượng axêtôn bất thường thì hơi thở sẽ phảng phất mùi rượu táo. Người ta có thể phát hiện axêtôn trong nước tiểu bằng giấy thử Labstix.

    Hiện tượng dư axêtôn còn kèm theo các triệu chứng như: ói mứa nhiều lần, mệt, sốt, tái mặt.

    Khi chúng ta nhịn đói, cơ thể sẽ tiêu thụ lượng mỡ dự trữ trong người cũng làm lượng axêtôn được sản xuất vượt mức bình thường. Ðối với trẻ em, chỉ cần nhịn đói qua một đêm là cơ thể cũng có hiện tượng này, nhất là ở các cháu đang ốm, sốt, không chịu ăn và bị nôn ói.

    Tuy vậy, cũng nên chú ý rằng hiện tượng nôn ói liên tiếp nhiều lần cũng có thể do bị đau ruột thừa, đau màng óc, hoặc có bệnh tiểu đường, (bệnh này dễ được xác định bằng cách thử nước tiểu hoặc đo độ đường trong máu). Triệu chứng nôn ói có liên quan tới axêtôn, có thể tiến triển mạnh làm đứa trẻ có vẻ hốt hoảng, ngất vì bị mất nước nhiều.

    11. Anbumin.


    Khi phát hiện trong nước tiểu có chất anbumin thì đó là một dấu hiệu bất thường có thể do một bệnh về thận gây ra.

    Tuy vậy, nên chú ý rằng việc thử anbumin bằng giấy thử sau khi bị viêm họng hoặc viêm phổi có thể có kết quả dương tính mặc dù lượng anbumin trong nước tiểu chưa vượt mức bình thường. Ðể xác định rõ ràng, các bác sĩ phải tiến hành đo lượng anbumin có trong nước tiểu trong vòng 24 giờ. Nếu lượng này cao hơn 0,1g thì mới đáng chú ý và còn phải thử nghiệm thêm các chức năng của bộ máy bài tiết nữa.

    Kết quả thử anbumin dương tính có thể là dấu hiệu của các bệnh về thận như viêm thận cấp tính hoặc mãn tính, hoặc rối loạn chức năng thận.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
  20. liti85

    liti85 Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    8/2/2009
    Bài viết:
    1,257
    Đã được thích:
    855
    Điểm thành tích:
    723

    12. Bệnh đái ra chất Phenylcetone.


    Bệnh này hiếm xảy ra, nhưng là loại bệnh trạng dẫn tới sự chậm phát triển về trí khôn. Nếu phát hiện được bệnh ngay từ những ngày đầu tiên của trẻ em sau khi sinh thì có thể tránh bệnh được, nhưng cháu bé phải giữ một chế độ ăn uống đặc biệt hàng nhiều năm tiếp theo. Bác sĩ xác định bệnh bằng những xét nghiệm nước tiểu và máu, nhất là máu (xét nghiệm Guthne). Ở Pháp, bệnh viện sản nào cũng thực hiện những xét nghiệm này cho các cháu sơ sinh. Bởi vậy các bà mẹ nên nhìn qua quyển sổ sức khỏe của Bé, xem Bé đã được xét nghiệm chưa.

    Nếu kết quả xét nghiệm dương tính, nên yêu cầu xét nghiệm lại lần nữa cho chắc chắn, trước khi tiến hành chữa trị.

    [​IMG]

    13. Ðái dầm


    Trẻ em thường đái dầm vì chưa chủ động điều khiển được hoạt động của bọng đái. Ða số các cháu cứ như thế cho tới tuổi lên 4, lên 5. Một số không kiểm soát được cả cơ bắp ở hậu môn nên còn tật ị đùn nữa.

    Có các cháu đái dầm cả ban ngày lẫn ban đêm. Số đông, thường chỉ đái dầm vào ban đêm.

    Nghiên cứu về vấn đề này, các bác sĩ thường tìm xem cháu bé có bị tổn thương gì ở bộ máy bài tiết hay không. Kết quả cho thấy phần lớn các cháu nhỏ chưa thành thói quen điều khiển một cách chủ động sự bài tiết ra ngoài.

    Có cháu bé đã thôi đái dầm một thời gian rồi lại bị lại, do những yếu tố tâm lý. Thấy bạn hoặc em bị chế giễu, cháu bé lo sợ cho mình, luôn nghĩ tới vấn đề đó và ban đêm lại đái dầm như để giải phóng khỏi sự ức chế ban ngày.

    Trong khi săn sóc trẻ em, người lớn nên thông cảm với nỗi khổ tâm này của các cháu, vì chúng không muốn như thế. Không nên mắng hoặc chế giễu chúng chóng mà chỉ nên an ủi, động viên để hỗ trợ cho chúng chóng có được một trạng thái tâm lý và tinh thần mạnh khỏe và chủ động.


    14. Tiểu đường.

    [​IMG]

    Bệnh tiểu đường là bệnh của cơ thể không hấp thụ được chất đường glucose từ thực phẩm
    . Nguyên nhân bệnh là do thiếu insulin- một loại hoócmôn do tụy tạng sinh ra.

    Người bệnh có các triệu chứng: cảm thấy đói, khát liên tục, người sút cân mau chóng, đi tiểu luôn và tiểu nhiều. Nếu không được chữa trị, nước tiểu sẽ có chất axêtôn và có thể bị hôn mê.

    Bệnh tiểu đường dễ phát hiện bằng xét nghiệm để thấy: nước tiểu có glucô và tỷ lệ glucô trong máu cao.

    Trẻ em bị bệnh tiểu đường cần phải chữa tri thật chu đáo: bác sĩ có thể chích insulin cho các cháu hàng ngày. Tiểu đường là một bệnh gia truyền. Nếu gia đình, họ hàng có người bị bệnh, cần phải đặc biệt chú ý và cho bác sĩ biết để xét nghiệm đề phòng.


    (theo Everycare for Everymum)​
     
    monalisa09 thích bài này.

Chia sẻ trang này