Cùng đọc báo dinh dưỡng với các mẹ

Thảo luận trong 'Dinh dưỡng' bởi phongkhamdinhduonghn, 3/9/2013.

  1. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ CÁC BIẾN CHỨNG
    [​IMG]

    Cháu 25 tuổi, đang mang thai lần đầu được 5 tháng, cháu lên cân khá nhanh, cháu nghe nói lên cân nhanh dễ bị tiểu đường thai kỳ, cháu thấy lo lắng, không hiểu tiểu đường thai kỳ là thế nào, làm thế nào để biết, nó có những biến chứng gì và có nguy hiểm cho em bé không? Xin bác sĩ tư vấn giúp cháu?

    Bạn có thể tham khảo bài viết sau:

    Theo thống kê hiện tại có khoảng gần 5% bà mẹ mang thai mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). ĐTĐ thai kỳ thường không có biểu hiện rõ ràng, nhưng nếu không được kiểm soát tốt, ĐTĐ thai kỳ sẽ gây những biến chứng cho cả mẹ và thai nhi.

    Trong suốt quá trình mang thai, nhau tạo ra nội tiết tố đặc biệt để giúp thai nhi lớn và phát triển. Nhưng những nội tiết tố này cũng sẽ gây một số rủi ro đến tính năng hữu ích của insulin của người mẹ. Đây có thể được coi như là “kháng insulin”. Sẽ là điều tốt khi mức insulin và đường huyết cùng đạt chuẩn để duy trì mức độ đường trong máu an toàn. Nhưng trong trường hợp mắc bệnh ĐTĐ thai kỳ thì lượng đường máu không còn được insulin kiểm soát, do đó, phải hoặc là giảm lượng đường hoặc là tăng lượng insulin hoặc là giảm cả hai động tác đó.

    Nhóm thai phụ có nguy cơ mắc ĐTĐ cao

    Thai phụ có nguy cơ mắc ĐTĐ cao nếu: Thừa cân (chỉ số khối cơ thể BMI vượt quá 30); từng bị ĐTĐ trong lần mang thai trước; có đường trong nước tiểu; gia đình có tiền sử ĐTĐ.

    Bác sĩ có thể khuyên bạn làm xét nghiệm chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ sớm nếu có kèm các yếu tố như: Từng sinh con thừa cân (quá 4 kg); bị thai lưu không rõ nguyên nhân; từng sinh con dị tật; người mẹ bị tăng huyết áp hoặc mang thai khi đã trên 35 tuổi.

    Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa tăng cân quá nhanh (nhất là trong quý 1) với chứng ĐTĐ thai kỳ.

    ĐTĐ thai kỳ được phát hiện khi nào?

    Vào khoảng tuần thứ 20 của thai kỳ, quá trình và hoạt động liên quan đến việc sản sinh insulin đều bị ảnh hưởng bởi nội tiết tố sinh sản. Đây là nguyên nhân tại sao việc kiểm tra sàng lọc bệnh ĐTĐ thai kỳ được yêu cầu theo định kỳ đối với phụ nữ mang thai dù họ có tiền sử hay không. Thời điểm xuất hiện bệnh thông thường từ tuần mang thai thứ 24 -28, mặc dù vẫn có thể có những triệu chứng vài tuần trước hoặc sau giai đoạn này.

    Triệu chứng của ĐTĐ thai kỳ

    Thai phụ có thể không biết bị ĐTĐ cho đến khi kiểm tra nước tiểu và lượng đường. Nhiều trường hợp có những triệu chứng tương tự như sau khi bị ĐTĐ typ 1 hoặc typ 2: Thường xuyên khát nước; thức giấc giữa đêm để uống nước thật nhiều; đi tiểu nhiều và có nhu cầu nhiều lần hơn so với các phụ nữ mang thai bình thường khác; vùng kín bị nhiễm nấm và không thể làm vệ sinh sạch sẽ bằng các dung dịch chống khuẩn thông thường, các vết thương trầy xước hoặc vết đau khó lành; sụt cân nặng và mệt mỏi, thiếu năng lượng và kiệt sức.

    ĐTĐ thai kỳ có nguy hiểm không?

    Nếu bệnh ĐTĐ thai kỳ được kiểm soát và giám sát bởi người bệnh và bác sĩ thì rủi ro sẽ được giảm rất nhiều. Mục đích chính trong việc điều trị bệnh ĐTĐ là giảm lượng đường huyết trong máu đến mức bình thường và sản sinh lượng insulin phù hợp so với nhu cầu cần thiết của từng cá thể. Phải mất thời gian để ước lượng cân bằng lượng lượng insulin cần thiết trong ngày.

    Phụ nữ mang thai bị bệnh ĐTĐ thai kỳ cần được giám sát suốt quá trình mang thai và sinh đẻ.

    Các biến chứng có thể gặp do ĐTĐ thai kỳ

    Trước khi sử dụng liệu pháp insulin , các biến chứng của bệnh ĐTĐ cho cả mẹ và thai nhi rất cao. Mặc dù hiện nay việc điều trị bằng insulin đã giảm nguy cơ biến chứng, ở phụ nữ mang thai bị ĐTĐ vẫn còn liên kết với một số nguy cơ gia tăng các yếu tố bất lợi như: tiền sản giật, bệnh ĐTĐ ketoacidocis, bệnh thận nặng lên, bệnh võng mạc nặng lên, đa ối, nguy cơ phải mổ lấy thai, xuất huyết sau sinh, nguy cơ tử vong.

    Bà mẹ mang thai bị ĐTĐ cũng có thể gặp biến chứng cho thai: sẩy thai; thai chết lưu không rõ nguyên nhân; tử vong chu sinh 2-5% (thấp hơn đáng kể khoảng 65% trước khi điều trị bằng insulin); dị tật bẩm sinh, bao gồm hội chứng suy hô hấp, hạ đường huyết, hạ canxi máu, chứng tăng hồng cầu và tăng bilirubin máu.

    Người mẹ bị bệnh ĐTĐ trong thời kỳ mang thai có các nguy cơ: gia tăng nguy cơ thai to; gia tăng nguy cơ tiền sản giật; tăng tỷ lệ thai chết lưu, nếu không kiểm soát được đường huyết.

    Nếu không kiểm soát, lượng đường thừa trong máu sẽ làm thai nhi phát triển khá to. Do phải tương thích với lượng đường tăng qua nhau thai đến nguồn cung cấp máu, thai nhi sẽ tăng tiết lượng insukin để tiêu thụ lượng đường này và dự trữ năng lượng dưới lớp mỡ của thai nhi. Con của các bà mẹ bị bệnh ĐTĐ có thể nặng 4kg hoặc hơn nữa khi sinh. Vì vậy khi bé mới sinh mà có cân quá nặng, bác sĩ sẽ nghi ngờ người mẹ mắc ĐTĐ thai kỳ ngay cả khi đã được chẩn đoán là không có bệnh trước khi sinh.

    Em bé sau khi sinh cần được theo dõi đường huyết. Thông thường, khi được “cho ăn” thì lượng đường huyết tự cân đối và bé không bị ảnh hưởng xấu. Mối lo ngại lớn nhất là trong 4 – 8 tiếng đồng hồ sau khi sinh là bé dễ bị chứng hymoglycaemia (hiện tượng giảm đường huyết). Do đó, bé cần phải thường xuyên được xét nghiệm sau khi sinh cho đến khi lượng đường huyết (BSL) được ổn định và tiếp tục đều đặn trong suốt 24 tiếng đầu tiên.

    Để phát hiện sớm, có biện pháp điều trị và phòng ngừa các biến chứng do ĐTĐ thai kỳ, thai phụ cần đi khám thai định kỳ, mỗi lần khám nên làm các xét nghiệm máu và nước tiểu. Khi thấy cơ thể có các dấu hiệu khác lạ, thai phụ nên đi khám ngay để được phát hiện bệnh sớm nhất có thể.

    BSCKII. Mai Thị Lệ Tịch
     
    Đang tải...


  2. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Mùa đông là thời điểm thích hợp nhất để bổ sung Vitamin D cho trẻ
    [​IMG]

    Đây là vấn đề rất quan trọng mà các chuyên gia dinh dưỡng muốn các bậc cha mẹ nên biết để có kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.

    1. Trẻ sinh vào mùa đông thường phát triển thể chất tốt hơn.

    Đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định mối liên quan giữa mùa sinh và tình trạng thể chất tinh thần trong quá trình phát triển của trẻ. Kết quả cho thấy: Các bé sinh ra trong khoảng từ tháng 10 đến tháng 4 (mùa đông) thường cao hơn so với các bé sinh từ tháng 5 đến tháng 9 ( mùa hè) từ 2-3 cm, trọng lượng cũng nặng hơn 2-3 kg.

    - Nguyên nhân: người mẹ mang thai vào mùa hè và sinh con vào mùa đông thường được tiêp xúc với ánh nắng mặt trời, do đó hấp thu Vitamin D tốt hơn các mẹ mang thai vào mùa đông và sinh con vào mùa hè. Sự hấp thu Vitamin D khác nhau này đã ảnh hưởng đến lượng canxi của các tế bào phôi thai, khiến chiều cao của trẻ sơ sinh khi chào đời có sự khác biệt.

    2. Nên bổ sung canxi cho trẻ vào mùa đông

    - Mùa đông, thời tiết lạnh, mát mẻ hơn trẻ sẽ giảm được nguy cơ táo bón do uống canxi gây ra.

    - Trong giai đoạn mùa đông, thiếu ánh nắng mặt trời nên trẻ sẽ không tổng hợp đủ Vitamin D, một dẫn xuất quan trọng giúp hấp thu canxi, dứt khoát phải bổ sung đồng thời vitamin D từ ngoài vào.

    3. Vai trò của canxi, vitamin D và MK7 (vitamin K2)

    - Canxi là thành phần quan trọng nhất của xương, 99% lượng canxi của cơ thể nằm trong xương và răng. Cung cấp canxi hàng ngày nhằm đảm bảo cho tổng hợp tế bào xương mới, rất cần cho trẻ em. Tuy nhiên, nếu chỉ bổ sung canxi mà thiếu vitamin D thì cơ thể chỉ hấp thu được khoảng 10% lượng canxi được cung cấp.

    - Cơ thể được cung cấp đủ Vitamin D cũng chỉ giúp cơ thể hấp thu tối đa được 40% canxi vào xương, phần canxi dư thừa còn lại sẽ tồn tại trong ruột gây táo bón, sỏi thận hoặc tồn tại trong máu gây xơ vữa mạch máu, vôi hóa mô mềm và ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ.

    - MK7 (Vitamin K2)

    Là yếu tố cần thiết để kích hoạt protein Osteo Calcin từ dạng bất hoạt sang dạng hoạt động giúp cho việc sắp xếp canxi vào đúng vị trí cơ thể cần (là xương) và “kéo” canxi ra khỏi chỗ nguy hại là thành mạch, các mô mềm.

    Tóm lại: Sự kết hợp không thể tách rời của canxi, vitamin D, vitamin K2 (MK7) sẽ đảm bảo cho hệ xương tăng trưởng nhanh, bền vững, giúp trẻ cao lớn và khỏe mạnh.

    4. Bổ sung canxi cho trẻ vào mùa đông như thế nào ?.

    Lượng canxi hấp thu vào cơ thể trong một ngày khác nhau theo giới tính, độ tuổi. Giai đoạn vàng để bổ sung canxi vào lúc trẻ đang dậy thì ( bé gái 10-13 tuổi, bé trai 13-17 tuổi). Bé sẽ phát triển nhảy vọt về chiều cao có thể tăng 8-10 cm trong 1 năm.

    Nhu cầu canxi cho trẻ

    Nữ thiếu niên: 8-11 tuổi : 900mg

    12-15 tuổi :1000mg

    16-18 tuổi: 800mg

    Nam thiếu niên: 8-11 tuổi : 800mg

    12-15 tuổi :1200mg

    16-18 tuổi: 1000mg

    Để trẻ đạt được chiều cao tối đa, cha mẹ cần chú ý cung cấp đủ lượng canxi cần thiết qua chế độ ăn uống hàng ngày của bé sử dụng những thực phẩm giàu canxi như: Tôm, cua, trứng, sữa, các loại đậu, bông cải xanh…Hoặc bổ sung thêm chế phẩm có chứa Vitamin C. Với công nghệ bào chế hiện đại để tránh các tác dụng phụ và cho hiệu quả hấp thu cao, canxi dạng nano có kích thước siêu nhỏ giúp canxi thẩm thấu vào mạch máu tốt hơn hấp 200 lần loại thông thường. Do đó, các phân tử canxi dễ dàng tìm đến vị trí cần bổ sung sẽ tránh được các tác dụng phụ như táo bón, sỏi thận, rối loạn tiêu hóa…

    Lưu ý: Nên chọn sản phẩm chứa canxi nano kết hợp với vitamin D3 và Mk7 để bổ xung cho trẻ theo chu kỳ 2 đợt/ năm hoặc theo chỉ định của bác sỹ, đồng thời nên hoạt động ngoài trời 30 phút/ngày để giúp trẻ đạt chiều cao tối đa.

    BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  3. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    MK7 ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ CON NGƯỜI
    [​IMG]

    Khi phát hiện ra vitamin K, người ta nhận thấy nó có tác dụng ngăn ngừa xuất huyết và chảy máu, đến mức nó được gọi là vitamin đông máu. Sau đó các nghiên cứu phát hiện ra vitamin K có vai trò rất quan trọng với sức khỏe của xương (trong đó phải kể đến vai trò phát triển chiều cao ở trẻ em nói riêng và sức khoẻ con người nói chung), đặc biệt khi nó ở dạng MK7. Vậy MK7 là gì? Lợi ích thực sự của nó đối với sức khoẻ con người như thế nào?

    1. Mk7 là gì?

    MK-7 (menaquinone-7) là dạng vitamin K2 chuỗi dài, được tìm thấy trong thực phẩm lên men. Có nhiều dạng vitamin k2 chuỗi dài nhưng MK-7 là phổ biến nhất và có sẵn dưới dạng thực phẩm bổ sung. MK-7 được tổng hợp nhờ lợi khuẩn sản xuất vitamin K2 thông qua quá trình lên men. MK-7 có thể lưu lại trong cơ thể rất lâu, do đó bạn chỉ cần sử dụng 1 lần/ ngày với liều lượng phù hợp.

    2. MK7 khác gì so với MK4?

    Vitamin K2 được chia làm nhiều phân nhóm, thường dùng là MK4 (Menaquinone - 4) và MK7 (Menaquinone -7):

    - MK4 được tồng hợp từ vitamin K1, có thời gian bán hủy ngắn nên mỗi ngày phải dùng nhiều lần và khôngduy trì được tác dụng lâu dài, nên ít được sử dụng hơn.

    - MK7 (Menaquinone - 7) có chu kỳ bán hủy dài trong cơ thể, thậm chí tới 72 giờ sau khi uống. Liều bổ sung qua chế độ ăn uống có hiệu quả trong việc làm giảm loãng xương do tuổi và do mãn kinh, giảm mất xương, giảm vôi hóa động mạch

    3. Lợi ích do MK7 đem lại

    - Dự phòng và giúp điều trị loãng xương, còi xương, gãy xương, giúp xây dựng và bảo vệ xương khỏe mạnh, làm chậm quá trình mất xương do tuổi, cải thiện chất lượng xương trong nhiều nguyên nhân bệnh lý như mãn kinh, do dùng thuốc (như corticoid), bệnh Parkinson, xơ gan, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh tiêu hóa, v.v…

    - Bảo vệ sức khỏe hệ tim mạch (động mạch, tĩnh mạch) và thúc đẩy trái tim khỏe mạnh, chống xơ vữa động mạch, chống tắc nghẽn mạch, tránh nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực

    - Bảo vệ các tế bào và làn da chống lại quá trình lão hóa.

    4. MK7 đối với sự phát triển chiều cao ở trẻ

    Trong khi vitamin D là chất dẫn truyền giúp đưa Canxi từ ruột vào máu, nó giúp tăng hấp thu Canxi bằng cách kích thích cơ thể sản xuất ra Osteocalcin (tham gia vào việc cấu tạo xương bằng cách vận chuyển Canxi vào mô xương). Tuy nhiên, khi đó, dưới tác động của Vitamin D thì mới tạo ra được các Osteocalcin dưới dạng bất hoạt và chưa thể vận chuyển được Canxi vào tới mô xương, khi này cần tới vai trò của MK7.

    - MK7 có vai trò: Làm cho Osteocalcin trở thành dạng hoạt động

    + Khi Osteocalcin ở dạng hoạt động, sẽ gắn với Canxi và vận chuyển Canxi từ máu vào tận xương, đồng thời không cho Canxi đi tới những chỗ không cần thiết, thậm chí là chỗ nguy hiểm như mạch máu, mô mềm.

    + Nếu cơ thể không đủ MK7 thì Canxi sẽ đi lung tung. Khi đó Canxi thích gắn vào mô mềm, vào mạch máu (như động mạch vành tim, thận, tĩnh mạch) hơn là gắn vào mô xương, và có thể gây bệnh nguy hiểm.

    + Nếu MK7 được bổ sung đủ, nó sẽ không chỉ giúp vận chuyển tối đa Canxi từ máu vào xương, giúp xương trẻ dài nhanh và chắc khỏe mà còn giúp lấy Canxi ở chỗ thừa, đưa đến chỗ thiếu, giúp ngăn các tác dụng phụ do Canxi gây ra.

    5. Thực phẩm giàu MK7

    Các loại thức ăn đã được lên men như phomat chín, sữa đông, đậu nành lên men nhờ Bacillus subtilis (là nguồn tự nhiên giàu MK7 nhất), các món ăn truyền thống của người Nhật.

    6. Sử dụng MK7 bao nhiêu mỗi ngày để tốt cho sức khoẻ?

    Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với người trưởng thành, nên sử dụng từ 45-100mcg MK7 mỗi ngày để đạt hiệu quả chăm sóc, bảo vệ sức khỏe tốt nhất.

    BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  4. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Chế độ dinh dưỡng cho trẻ dậy thì
    [​IMG]

    Dậy thì là giai đoạn trẻ phát triển mạnh , nhanh về thể lực, bên cạnh đó là những thay đổi của hệ thần kinh, nội tiết mà biểu hiện rõ rệt nhất là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên gây ra các biến đổi về hình thức và sự tăng trưởng của cơ thể trẻ. Lúc này, ngoài sự phát triển và hoàn thiện cơ thể cũng là lúc trẻ hoạt động nhiều nhất nên cần có một chế độ dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ, cụ thể:

    1. Chất đạm ( protein)

    Tron giai đoạn dậy thì, cơ bắp của trẻ phát triển mạnh nên lượng đạm cần cao hơn người trưởng thành. Chất đạm chiếm 14-15% tổng số năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày tương đương với 70-80g/ngày. Lượng đạm chủ yếu lấy từ thực phẩm như thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa…trong đó đạm động vật là tốt nhất vì có chứa nhiều sắt ( có vai trò quan trọng trong việc tạo máu). Ngoài ra, trẻ ở lứa tuổi này có nhiều hoạt động tiếp xúc với ngoại cảnh và môi trường sống nên cần nhiều đạm để tham gia vào hệ miễn dịch nhằm tăng sức đề kháng.

    2. Chất béo ( Lipid)

    Rất cần thiết cho trẻ. Dầu, mỡ không chỉ giúp trẻ ăn ngon miệng mà còn là nguồn cung cấp năng lượng tốt, giúp cơ thể hấp thu các Vitamin tan trong chất béo như Vitamin A, D, E, K. Ở giai đoạn này cần cả chất béo NO có trong thức ăn chứa dầu ăn và cá. Vì thế nên cho trẻ ăn cả mỡ động vật và dầu thực vật, khoảng 40-50g/ngày.

    3. Chất bột (glucid)

    Là chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể chiếm 60-70% năng lượng có trong gạo, bột mỳ và sản phẩm chế biến khoai, củ…Nên chọn loại bột đường thô để cung cấp chất xơ tốt cho đường tiêu hóa và phòng chống béo phì.

    4. Canxi

    Rất cần thiết cho tuổi dậy thì, giúp xương chắc khỏe và độ đậm xương đạt mức tối đa giúp trẻ phát triển chiều cao và phòng bệnh loãng xương sau này. Trẻ cần 1000-1200mg/ngày. Canxi có nhiều trong sữa bò, sữa đậu nành, các loại thủy sản, xương cá ( nên kho nhừ cá để có thể ăn cả xương). Nên uống 400-500ml sữa/ngày.

    5. Chất sắt

    Trong giai đoạn dậy thì, bé gái cần lượng sắt nhiều hơn bé trai ( do mất máu trong chu kỳ kinh nguyệt). Nên bé trai ( cần 12-18mg sắt/ngày) trong khi đó bé gái ( cần 20mg sắt/ngày). Chất sắt có nhiều trong phủ tạng động vật, gan, tim, bầu dục…lòng đỏ trứng gà, đậu đỗ, rau xanh có nhiều vitamin C giúp hấp thụ sắt tốt hơn…Nếu thiếu sắt, trẻ sẽ bị thiếu máu gây ra các triệu chứng mệt mỏi, hay quên, buồn ngủ, da xanh…

    6. Các vitamin

    Là những vi chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa, chậm phát triển chiều cao. Khi thiếu vitamin C, quá trình tổng hợp collagen gặp trở ngại, làm giảm quá trình hình thành tế bào ở các thành mạch, mô liên kết, xương, răng, giảm sức đề kháng.

    Lưu ý: Ngoài bổ sung các thành phần dinh dương trên, trẻ đang ở giai đoạn dậy thì cần phải:

    - Uống đủ nước (1.5-2 lít nước/ngày) để giúp cho hoạt động chuyển hóa của cơ thể.

    - Hướng dẫn trẻ kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm giúp trẻ lựa chọn thức ăn đảm bảo vệ sinh, không cho trẻ ăn thức ăn đường phố.

    - Trong giai đoạn dậy thì, vận động thể dục thể thao rất quan trọng vì đậy là giai đoạn cuối cùng để trẻ tăng tốc chiều cao, sau dậy thì trẻ cao rất chậm, thậm chí không tăng chiều cao. Các môn thể thao tăng chiều cao: bơi, chạy, đạp xe…Trẻ tăng chiều cao tốt còn ngăn thừa cân béo phì giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh chuyển hóa về sau.

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  5. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Tật mút tay ở trẻ và biện pháp khắc phục
    [​IMG]

    I. Nguyên nhân trẻ nhỏ hay mút ngón tay

    - Tật mút ngón tay rất hay bắt gặp ở trẻ nhỏ, biểu lộ trẻ đang cần được sự trợ giúp để tìm được cảm giác bình yên, nhất là khi không có mẹ ở bên cạnh. Hiện tượng này là một “ sở thích bình thường”, được coi như một trò chơi thú vị đối với bé trong những năm tháng đầu đời của trẻ, mang lại sự thích thú, sảng khoái giúp trẻ khôn lớn từng ngày.

    - Hầu hết trẻ nhỏ (sơ sinh) khi đói sẽ mút ngón tay. Ngậm, mút ngón tay ở giai đoạn này là một trong những biểu hiện của việc trẻ đói và có nhu cầu được bú sữa. Mút ngón tay làm cho trẻ cảm thấy dễ chịu và được kích thích như tìm thấy cảm giác của bầu sữa mẹ. Đây là sự tiếp nối phản xạ tự nhiên của trẻ ngay khi còn trong bụng mẹ. Lâu dài về sau, thói quen này sẽ tiếp tục ngay cả khi trẻ không đói thậm chí đã lớn và thôi bú.

    - Đa số trẻ sẽ bỏ thói quen mút ngón tay khi được 1-2 tuổi, có khoảng 15% vẫn tiếp tục mút ngón tay cho tới 4 tuổi. Một số trẻ thích mút ngón tay vào ban đêm, khi bị căng thẳng tinh thần quá nhiều dù đã lớn, vì mút ngón tay là phản xạ tự nhiên để trẻ dễ chịu khi mệt mỏi, buồn chán, đói hoặc cần thư giãn. Các mẹ yên tâm mặc dù có tới 70-90% số trẻ em có thói quen mút ngón tay cái nhưng hầu hết các trẻ này sẽ tự động bỏ mút ngón tay lúc được 3-5 tuổi.

    II. Tác hại của thói quen mút tay ở trẻ.

    - Ngậm mút tay khi bàn tay trẻ chưa được rửa sạch là yếu tố thuận lợi để trẻ bị lây các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm qua đường tay- miệng như: bệnh tay-chân-miệng, cúm, thủy đậu, các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm giun. Trẻ ngậm ngón tay quá sâu khiên trẻ dễ bị nôn, nhất là sau khi bú, ăn.

    - Những trẻ có động tác mút mạnh liên tục thậm chí nhai hoặc dùng lưỡi đẩy có thể gây ra một số tổn thương ở da ngón tay như bị nứt đi nứt lại, lở loét, sẽ tạo điều kiện cho vi trùng bên ngoài xâm nhập vào dưới da gây viêm da mủ. Mút tay nhiều, thời gian dài còn gây biến dạng ngón tay, tạo hình dạng ngón tay bất thường.

    - Trẻ 5-6 tuổi đang trong thời kỳ thay răng vĩnh viễn, tật ngậm mút tay có thể gây tổn thương ở răng và hàm dẫn đến tình trạng biến dạng răng như hàm bị hô, móm, lệch khớp cắn, khó phát âm. Về mặt tâm lý, mút ngón tay khiến trẻ bị xấu hổ, thiếu tự tin và bị các bạn trêu ghẹo, gây mặc cảm cho trẻ khi đến trường.



    III. Biện pháp giúp trẻ từ bỏ thói quen mút tay.

    - Điều khiển để bé chú ý đến đồ vật khác

    Ngay lúc bé định đưa ngón tay lên miệng, đánh lạc hướng bé bằng cách động viên bé tham gia trò chơi mà bé phải sử dụng cả hai tay. Trước giờ ngủ mẹ nên để bé dùng tay giữ sách trong khi bạn đọc sách cho bé nghe. Lúc xem tivi…hãy giữ đôi tay của bé bằng cách cho bé ôm gối bông.

    - Nhờ sự hỗ trợ của mọi người. Luôn quan tâm, để ý, nhắc nhở khi thấy bé mút tay, dần dần bé sẽ tự động từ bỏ thói quen này.

    - Chăm lo, nhắc nhở hành vi mút tay của bé, không nên la mắng mà thay vào đó là giảng giải cho bé biết khi bé đã lớn với kết luận “ con lớn rồi nên sẽ không mút tay nữa”

    - Thường xuyên cho bé xem các hình ảnh về vi khuẩn và giải thích cho bé hiểu vi khuẩn sống nhiều trên bàn tay và theo vào miệng của bé làm răng bị đau, bụng của bé cũng bị đau…

    - Khen ngợi sự thay đổi của bé ( đúng lúc) là cách tốt nhất để thúc đẩy sự cố gắng của bé.

    - Phụ huynh lưu ý thói quen vệ sinh cần thiết cho trẻ như nhắc bé rửa tay sạch, cắt móng tay, vệ sinh da…để tránh lây bệnh. Đồ chơi thường ngày và nơi vui chơi của bé phải đảm bảo vệ sinh thật tốt.

    Lưu ý: Nếu tất cả cố gắng của bố mẹ đều không cải thiện được tật mút tay của bé, hãy đưa bé đến gặp bác sĩ chuyên gia tâm lý để có biện pháp khắc phục hiệu quả hơn.

    BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  6. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    NHỮNG BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HẤP THU CANXI CHO CƠ THỂ
    [​IMG]

    Canxi là một loại khoáng chất rất quan trọng. Thiếu canxi sẽ dẫn đến tình trạng loãng xương ở người lớn và còi xương ở trẻ nhỏ, vì thế mọi người cần phải chú ý để luôn cung cấp đầy đủ canxi cho cơ thể. Tuy nhiên bổ xung canxi như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất thì không phải ai cũng biết. Bác sỹ ở phòng khám dinh dưỡng - 70 Nguyễn Chí Thanh sẽ chia sẻ một vài thông tin với các bậc cha mẹ về những biện pháp giúp tăng cường hấp thu canxi để nó phát huy công dụng một cách tốt nhất.

    1. Bổ xung Vitamin và khoáng chất

    Dù rất quan trong nhưng vitamin sẽ trở thành vô dụng nếu không có sự hỗ trợ của khoáng chất.

    1.1. MK7 (menaquinone-7):

    Đây là vitamin K2 tự nhiên thuộc nhóm vitamin K giúp protein osteocalcin chuyển từ dạng bất hoạt sang dạng hoạt động, khi đó mới có khả năng vận chuyển canxi từ máu vào tận khung xương, giúp thúc đẩy chiều cao ở trẻ, đồng thời giúp cho xương chắc khỏe dẻo dai ở người lớn, đồng thời tránh được những tác dụng phụ không đáng có trong quá trình bổ sung canxi.

    1.2. Vitamin D3:

    Đây là một yếu tố rất cần cho quá trình tổng hợp một loại protein (osteocalcin) có chức năng gắn canxi vào xương, giúp tăng khả năng hấp thu canxi từ ruột vào máu. Tuy vậy, nếu không có MK7 thì protein này sẽ không hoạt động.

    1.3. Vitamin C:

    Các loại quả chứa nhiều vitamin C như bưởi, quýt, cam, chanh…cũng giúp canxi được hấp thụ tốt hơn trong cơ thể.

    1.4. Magiê (Mg):

    - Canxi và Mg được ví như anh em song sinh, thường đi cùng nhau. Với khoáng chất này sẽ tạo chất căn bản và tạo khoáng xương, giữ trạng thái tốt của sụn. Khoảng 60% Magie trong cơ thể nằm ở xương. Mg giúp tăng hấp thu Canxi do Mg chuyển vitamin D thành dạng có hoạt tính. Tuy nhiên, việc hấp thụ canxi của cơ thể sẽ thuận lợi hơn với tỉ lệ canxi:magiê là 2:1. Các thực phẩm chứa hàm lượng Mg cao: lạc, hạnh nhân, hạt dẻ, hạt bí đỏ, hạt hướng dương, kê, đại mạch, tép, cá ngừ…

    - Điều trị các trường hợp thiếu Mg nặng, riêng biệt hay kết hợp khi có thiếu canxi đi kèm thì trong đa số trường hợp phải bù Mg trước khi bù canxi.

    1.5. Kẽm:

    Kẽm giúp tạo xương nhờ và làm tăng khả năng hỗ trợ tăng chiều cao của vitamin D3. Kẽm có nhiệm vụ vận chuyển canxi vào não (trong khi đó canxi là một trong những chất giúp ổn định hệ thần kinh). Vì vậy, nếu thiếu kẽm, quá trình này sẽ không thể diễn ra nên trẻ thường có dấu hiệu rối loạn tinh thần như hay nổi cáu, khóc nhè, ngủ không yên giấc.

    2. Các biện pháp khác

    2.1. Tích cực vận động

    Sự vận động cơ bắp sẽ kích thích, đẩy mạnh quá trình chuyển hóa năng lượng, trao đổi chất, giúp giảm khả năng bị mất dần canxi, làm chậm quá trình lão hóa, thúc đẩy tăng trưởng cơ thể, tăng cường lượng canxi vào mô xương giúp xương vững chắc hơn và phát triển tốt hơn.

    2.2. Thường xuyên tắm nắng: Đây là biện pháp tổng hợp vitamin D rất hiệu quả. Tuy nhiên đừng tắm nắng quá nhiều và lúc nắng gắt, điều này có sẽ dẫn đến ung thư da.

    2.3. Tăng cường bữa ăn bằng các thực phẩm giàu canxi

    - Sữa và các chế phẩm từ sữa: sữa bò, sữa dê, pho mát, sữa chua…

    - Hải sản: tôm, tép, cua, rong biển, hải sâm, ốc, trai, cá chép…

    - Đậu và các chế phẩm từ đậu: đậu nành, đậu phụ, đậu hà lan, đậu nhật…

    - Các loại rau: rau cần, cà rốt, vừng, mộc nhĩ, nấm, rau mùi, củ cải đỏ…

    BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  7. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Nguyên nhân trẻ bị đầy bụng khó tiêu và phương pháp điều trị
    [​IMG]

    I. Nguyên nhân

    1. Do bé bị mất điện giải nhiều qua phân ( điển hình là Kali) dẫn đến chèn ép cơ hoành, gây nôn ói và mất điện giải, làm bụng trướng lên.

    2. Táo bón: gây ứ phân nên vi khuẩn sẽ sinh hơi trong đại tràng làm bụng bé hay bị trướng. Cần đưa bé đến khám bác sĩ để có hướng điều trị thích hợp hợp tránh nguy hiểm.

    3. Trào ngược dạ dày:

    Hơi bị tống xuất theo chiều ngược với bình thường nên bé hay bị trướng bụng, ợ hơi dễ nôn ói. Cha mẹ nên đưa bé đi khám sớm để kịp điều trị. Phương pháp điều trị đơn giản nhất là để bé nằm đầu cao hơn, nằm nghiêng, tránh hít sặc khi bé nôn, cho bé uống thuốc điều trị triệu chứng.

    4. Ăn uống không hợp lý:

    Bé ăn dặm bột, cháo quá sớm là nguyên nhân dẫn đến tinh bột, glycoprotein không được tiêu hóa tốt trong hệ tiêu hóa còn non nớt của bé sẽ sinh ứ hơi nhiều trong ruột, gây trướng bụng, rất khó chịu và gây hậu quả nghiêm trọng về lâu dài là bé sẽ chậm tăng cân, hay bị bệnh về đường tiêu hóa. Ngoài ra, một số loại thực phẩm họ đậu, đường glucose, surbitol trong trái cây cũng gây sinh hơi nhiều nên khi sử dụng dạng thực phẩm này cũng gây trướng bụng cho một số trẻ -trường hợp này, nên đưa bé đến bác sĩ dinh dưỡng để được tư vấn chế độ ăn thích hợp.

    5. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột.

    Bé nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng gây bụng căng trướng. Phòng ngừa là cần cho bé ( lớn hơn 2 tuổi) tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần.

    6. Bệnh về đường ruột

    - Hội chứng đại tràng kích thích

    - Bệnh giảm nhu động ruột làm hơi chứa lâu trong ruột gây trướng.

    - Phình đại tràng bẩm sinh

    7. Bất dung nạp Lactose, tinh bột.

    Bé ở tình trạng này sẽ bị trướng bụng khi ăn thực phẩm này.

    8. Nguyên nhân khác.

    Cụ thể: Viêm ruột thừa cấp tính, lồng ruột, tắc ruột…cần đưa bé kịp thời tới bệnh viện để can thiệp, tránh gây nguy hiểm đến tính mạng.

    II. Phương pháp điều trị

    · Giúp bé xì hơi

    Xì hơi giúp bé bớt khó chịu khi bị đầy bụng. Để giúp bé xì hơi mẹ có thể làm một vài động tác sau:

    - Cử động chân bé giống như đạp xe: đặt bé nằm ngửa sau đó lấy một chân bé kéo ngược lên tới ngực, sau đó đẩy xuống đồng thời đẩy chân bên kia lên ( giống như đạp xe đạp). Nó khiến bé thích thú lại có thể làm giảm khí trong bụng. ( Lưu ý: không thực hiện động tác này khi bé ăn no).

    - Làm cho bé đưa hơi từ dạ dày ra bằng cách vuốt lưng cho bé. Bé không tự làm được và mẹ phải giúp bé.

    - Trị đầy hơi bằng củ hành, củ tỏi

    Nướng một củ hành ( tỏi), bỏ vào 1 miếng gạc rồi đặt lên rốn của trẻ bị đầy bụng. Lưu ý: Không đặt trực tiếp hành, tỏi lên da bé có thể gây bỏng. Một lát bé sẽ xì hơi được và đỡ đầy bụng. Với bé lớn hơn có thể phi thơm một lát tỏi và nêm vào cháo cho bé.

    - Massage cho bụng

    Nhẹ nhàng dùng các ngón tay của mẹ xoay tròn theo chiều kim đồng hồ từ rốn ra ngoài bụng của bé ( không nên massage ngay sau khi trẻ ăn no).

    - Chườm nóng: Dùng hai chiếc khăn tay và làm ấm chúng ( không nên để quá nóng) bạn có thể nhúng nước nóng và vắt khô, dùng gói chườm nóng để chườm vùng bụng cho bé.

    Lưu ý: Kiểm tra độ nóng bằng cách chườm lên tay bạn. Sau đó, gấp một chiếc khăn lại thành gối và đặt lên bụng của bé. Lấy chiếc khăn thứ 2 và quấn xung quanh bụng bé để cố định chiếc khăn số 1, cần cẩn thận không quấn quá chặt, không quá nóng.

    - Bổ sung men vi sinh

    Men vi sinh có tác dụng hỗ trợ điều trị bé bị tiêu chảy, táo bón, chướng bụng, đầy hơi do rối loạn khuẩn ruột, nhiễm khuẩn ruột, dùng kháng sinh…

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  8. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị viêm phế quản phổi
    [​IMG]

    I. Định nghĩa

    Viêm phế quản- phổi là một dạng viêm nhiễm hay sưng viêm ở những đường thở lớn trong phổi. Khi trẻ nhỏ mắc phải những chứng ho, đau họng, cúm, viêm xoang do virus gây nên, nếu không được điều trị kịp thời, dứt điểm sẽ gây nên chứng viêm phế quản- phổi.

    II. Cách phát hiện trẻ bị viêm phế quản-phổi.

    1. Bé ho khan liên tục, sốt cao, quấy khóc, bỏ ăn, khó thở, cánh mũi phập phồng, co rút lồng ngực…cần phải nghĩ ngay đến bệnh viêm phế quản phổi và đưa bé đi khám càng sớm càng tốt.

    2. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 03 tuổi vào mùa đông, nhất là trẻ dưới 01 tuổi, suy dinh dưỡng, cơ địa dị ứng, mắc các bệnh mãn tính.

    3. Biểu hiện ban đầu của bệnh viêm phế quản phổi không đặc trưng và hay bị nhầm với các triệu chứng của bệnh viêm đường hô hấp khác nên hầu hết các trẻ bị viêm phế quản phổi được phát hiện vào giai đoạn bệnh đã toàn phát nên điều trị khá vất vả.



    III. Triệu chứng của viêm phế quản phổi (chia làm hai giai đoạn).

    1. Giai đoạn khởi phát: có 02 dạng

    - Khởi phát từ từ: khó phát hiện, hay nhầm sáng các triệu chứng của bệnh viêm đường hô hấp khác. Trẻ thường có biểu hiện sốt nhẹ ( làm các mẹ hay chủ quan), ho khan, hắt hơi, ngạt mũi và quấy khóc.

    - Khởi phát đột ngột: triệu chứng khá rõ ràng, trẻ sốt cao, khó thở, tím tái và kèm theo một số rối loạn tiêu hóa, chán ăn, nôn trớ, chướng bụng…

    2. Giai đoạn toàn phát

    - Trẻ sốt cao ( rất cao), thậm chí tới 40ᵒ C, ít đáp ứng với thuốc hạ sốt ( lâu hạ sốt, nhiệt độ tăng trở lại sau 2-3 giờ dùng thuốc hạ sốt), có thể li bì, co giật, thậm chí hôn mê nếu không kịp hạ sốt kịp thời.

    - Ho: Ho dữ dội, liên tục, ho co thắt, có thể xuất tiết đờm, chảy mũi đặc và vàng.

    - Khó thở: Cánh mũi phập phồng, co thắt lồng ngực.

    - Tím tái: gặp ở trẻ bệnh nặng, tím tái quanh môi, đầu chi, lưỡi hoặc thân.

    - Các triệu chứng kèm theo: Rối loạn tiêu hóa, bỏ ăn, chán ăn, chướng bụng, nôn trớ, tiêu chảy.

    Lưu ý: Trong các trường hợp trẻ viêm phế quản phổi, các mẹ phải mau chóng đưa bé đi khám và điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.



    IV. Chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị viêm phế quản phổi

    1. Những thực phẩm không nên cho trẻ ăn

    - Tránh hoặc hạn chế tối đa các món rán, xào, khoai tây, chiên, bánh rán, thịt rán…, không ăn các món ăn giàu chất béo kể cả sữa có chứa hàm lượng chất béo cao, calo cao cũng không nên cho bệnh nhân viêm phế quản sử dụng bởi sẽ làm tăng triệu chứng khó thở.

    - Hạn chế lượng muối trong chế độ ăn hàng ngày. Lý do: thừa muối sẽ dẫn tới cơ thể tích lũy chất lỏng, các mô phế quản cùng hấp thụ chất lỏng, dẫn tới tình trạng viêm phế quản tăng, quá trình sản xuất chất nhầy cùng tăng theo. Muối có nhiều trong các loại đồ ăn nhanh, đồ hộp, đông lạnh…Vì thế bệnh viêm phế quản không nên sử dụng loại thức ăn nhanh, đông lạnh, chế biến sẵn.

    - Giảm lượng đường tinh luyện trong chế độ ăn cụ thể: Hạn chế bánh kẹo, nước ngọt…gây tình trạng thừa đường tinh luyện trong cơ thể làm gia tăng hiện tượng khó thở.

    - Kiêng ăn đồ cay nóng ( ớt, hạt tiêu…)gây kích thích niêm mạc phế quản gây hiện tượng ho.

    - Tránh các loại hoa quả chua chát: mận, táo chua…các loại này khó gây long đờm.

    - Không nên uống rượu: làm gia tăng tình trạng viêm phế quản, uống trước khi đi ngủ dễ làm liệt trung khu hô hấp, gây loạn nhịp thở…rất nguy hiểm đến tính mạng.

    2. Các loại thực phẩm cần thiết cho trẻ bị viêm phế quản.

    - Ăn nhiều trái cây, rau xanh ( nhiều vitamin A.C-E): Dâu tây, các loại quả mọng, bông cải xanh, carot…

    - Ăn thực phẩm giàu dinh dưỡng, dễ tiêu: gạo, bột, mì, ngũ cốc, sữa bò, sữa đậu nành, đậu phụ, trứng gà…

    - Các sản phẩm từ sữa rất giàu vitamin D, canxi, protein. Lưu ý: nên tiêu thụ các sản phẩm từ sữa có hàm lượng chất béo thấp, tốt nhất nên ăn nhiều sữa chua.

    - Uống nhiều nước: giúp cơ thể đào thải độc tố dễ dàng hơn, làm giảm tình trạng viêm, khô họng của bệnh nhân.

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  9. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Vai trò của Acid béo Omega 3 và Omega 6 đối với cơ thể
    [​IMG]

    I. Acid béo Omega-3.

    1. Vai trò

    - Acid béo Omega-3 là tiền chất của DHA và EPA. Não người được cấu tạo bởi trên 60% là acid béo trong đó DHA ( 25%). Do đó, não rất cần acid béo omega-3 ( nhất là DHA) để phát triển và duy trì hoạt động. Trong cơ thể, EPA là acid béo thiết yếu để chuyển hóa thành các chất sinh học quan trọng ( prostagladin, leucotrien) có tác dụng “dọn sạch” tác nhân gây viêm nhiễm. Ngoài ra DHA còn có tác dụng kìm hãm sự lão hóa, ngăn ngừa sự giảm trí nhớ, phát triển kỹ năng vận động ở trẻ nhỏ, giảm lượng Triglyceride, giảm loạn nhịp tim, giảm tỷ lệ bệnh động mạch vành, giảm chứng nhồi máu cơ tim.

    - Nhóm Acid béo Omega-3 có vai trò quan trọng trong cấu trúc da, ngăn ngừa hiện tượng mất nước giữa các lớp da do đó giúp da mềm mại, tươi trẻ.

    - Acid béo Omega-3 rất cần thiết cho phát triển hoàn thiện chức năng nhìn của mắt, giảm nguy cơ đái tháo đường, giảm triệu chứng viêm khớp, chống trầm cảm…

    2. Nguồn cung cấp Acid béo Omega-3

    - Acid béo Omega-3 có nhiều trong mỡ cá ở vùng biển lạnh và sâu ( cá thu, cá mòi, cá chình, cá trích, cá hồi…) hoặc trong các thực phẩm khác như các loại rau xanh ( đậu, bắp cải, dầu cải, dầu hướng dương, vừng, bí ngô, quả óc chó.

    - Ngoài ra Omega-3 còn có trong một số loại bơ thực vật, sữa, trứng, đậu phụ, sữa chua.

    Lưu ý: Không nên quá lạm dụng mà cần phải sử dụng Omega-3 hợp lý, cân đối với các thành phần khác, các acid béo khác trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày.

    3. Vai trò của DHA, ARA với trẻ nhỏ.

    - DHA là acid béo không no, có vai trò quan trọng trong thành phần cấu trúc màng tế bào thần kinh, có thể ví DHA là “ gạch xây cho não bộ con người”.

    - DHA chiếm tỷ lệ cao trong chất xám tạo ra sự thông minh…của vỏ não và trong võng mạc. DHA tạo ra độ nhạy của các Neuron thần kinh, giúp tăng cường hoạt động trí não.

    - ARA thuộc nhóm acid béo không no, cũng như DHA, ARA cần thiết cho sự phát triển não bộ của trẻ sơ sinh, đóng vai trò quan trọng trong miễn dịch, đông máu và một số chức năng khác của cơ thể.

    4. Giai đoạn nào cần cung cấp DHA, ARA, cho bé.

    - Trong thời kỳ mang thai: khoảng tháng thứ 5 ( não và cơ quan thị giác thai nhi phát triển). Vì vậy, cần cung cấp đủ DHA, ARA cho bé ngay trong giai đoạn mang thai.

    - Bé 2-3 tuổi, nhu cầu DHA, ARA rất cao đó là thời kỳ hệ thần kinh trung ương phát triển nhất. Sữa mẹ là thức ăn có hàm lượng DHA, ARA tốt nhất cho trẻ trong 06 tháng đầu đời. Sau 06 tháng, trong bữa ăn bổ sung của trẻ cần có đủ thực phẩm giàu DHA, ARA như : cá thu, cá mòi, cá chình, cá hồi, các loại dầu ( ngô, mè, đậu nành…), trứng gà, mỡ.

    - Trẻ sinh non, nhu cầu DHA,ARA cao hơn để giúp cho não, thị giác phát triển tốt và đuổi kịp trẻ bình thường

    - Trẻ sinh đủ tháng nhu cầu DHA ( 20mg/kg/ngày) và ARA ( 40mg/kg/ngày)

    - Trẻ dưới 06 tháng tuổi như cầu tối thiểu DHA ( 17mg/kg/ngày), ARA ( 24mg/kg/ngày).

    II.Acid béo Omega-6

    1. Vai trò

    - Acid béo Omega-6 nằm trong nhóm các acid béo không bão hòa, có trong hầu hết các loại dầu thực vật có vai trò chuyển thành chất chống viêm nhiễm cho cơ thể.

    - Ngăn ngừa các bệnh tim mạch.

    - Giúp phát triển hệ thần kinh

    2. Nguồn cung cấp Omega-6

    - Có trong các loại dầu thực vật như dầu bắp (ngô), dầu mè, đậu nành, trứng gà, mỡ.

    III. Sử dụng Omega-3 và Omega-6 hợp lý

    1. Cả 2 loại acid béo này đều giữ vai trò quan trọng

    2. Sử dụng nhiều Omega-6 không tốt cho sức khỏe làm gia tăng sự giữ nước trong cơ thể, kéo theo tăng áp xuất mạch máu, tăng nguy cơ máu bị vón cục trong mạch.

    3. Tỷ lệ tiêu thụ Oemga-3 và Omega-6 rất quan trọng và cần phải hợp lý:

    - Quá thấp: ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe.

    - Nếu Omega-6 quá nhiều: sẽ chiếm hết vitamin và enzyme cần thiết khiến Omega-3 không thể hoạt động một cách hoàn hảo được.

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  10. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Bệnh viêm não mô cầu
    [​IMG]

    I. Tổng quan về bệnh viêm não mô cầu

    - Bệnh viêm não mô cầu (VNMC) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn Neisseria meningtidis gây ra. Hoàn toàn khác biệt với các bệnh viêm màng não do virus khác, bệnh viêm màng não mô cầu có thể lấy đi sinh mạng của người đang khỏe mạnh chỉ trong vòng 24 giờ sau những triệu chứng đầu tiên xuất hiện.

    - Vi khuẩn Neisseria meningtidis cư trú ở vùng hầu họng con người ( ổ chứa duy nhất)

    - Vi khuẩn gây bệnh phần lớn do type A, B, C, W135 và Y.

    - Tất cả mọi người khỏe mạnh ở các lứa tuổi khác nhau đều có thể mắc bệnh VNMC, nhưng hay gặp nhất ở trẻ nhỏ từ 3 tháng đến 05 tuổi và nhóm thanh thiếu niên từ 14-20 tuổi.

    - Bệnh có thể xảy ra ở khắp nơi, dễ lây lan và gây thành dịch

    - Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em dưới 02 tuổi rất cao ( 50%), ở người lớn (25%).

    - Bệnh thường xảy ra ở những nơi đông người, điều kiện sống kém vệ sinh, chật chội, thường vào những tháng mùa lạnh và lúc giao mùa.

    - Ở Việt Nam, bệnh VNMC xuất hiện quanh năm, thời điểm thuận lợi có nguy cơ xảy ra dịch thường vào mùa thu, đông và xuân.

    II.Nguyên nhân và đường lây truyền VNMC

    - Vi khuẩn não mô cầu là nguyên nhân chính của bệnh viêm màng não do vi khuẩn ở trẻ, là nguyên nhân hàng đầu của bệnh viêm màng não do vi khuẩn ở người lớn ( khác với viêm màng não do virus)

    - Ổ chứa vi khuẩn não mô cầu là ở người, nguồn lây bệnh chủ yếu là bệnh nhân viêm não mô cầu và người lành mang vi khuẩn. Vi trùng thường cư trú ở vùng họng, mũi.

    - Bệnh lây qua đường hô hấp do hít phải các giọt bắn ra của dịch tiết hô hấp có chứa mầm bệnh của người bị nhiễm trùng ở giai đoạn ủ bệnh hay phát bệnh. Bệnh cũng có thể lây gián tiếp qua tiếp xúc trên da, qua đồ dùng, dụng cụ sử dụng hàng ngày.

    - Những người trong cùng gia đình, bạn cùng phòng…bất cứ ai có liên hệ trực tiếp với các chất dịch của bệnh nhân sẽ được coi là có nguy cơ bị nhiễm khuẩn.

    - Môi trường sống ở các khu tập thể, khu cắm trại, trường học nhà trẻ, mẫu giáo là nơi có nguy cơ lây truyền cao.

    III. Triệu chứng viêm não mô cầu.

    Triệu chứng viêm não mô cầu xuất hiện đột ngột và phổ biến nhất là:

    - Bị cứng cổ

    - Sốt cao

    - Nhạy cảm với ánh sáng ( sợ ánh sáng)

    - Đau đầu

    - Nôn mửa

    Triệu chứng của bệnh VNMC có thể xuất hiện một cách nhanh chóng hoặc trong vài ngày ( thông thường trong 3-7 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn lây). Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có triệu chứng điển hình là sốt cao, nhức đầu, cứng cổ, biếng ăn và bỏ ăn. Ở trẻ nhỏ, thóp phồng hoặc phản xạ bất thường cũng là dấu hiệu của bệnh VNMC. Triệu chứng nghiêm trọng là co giật, hôn mê.

    - Trong trường hợp bệnh được chuẩn đoán phát hiện sớm và điều trị thích hợp ngay từ đầu có 5%-10% bệnh nhân bị tử vong ( thông thường trong vòng 24-48 giờ sau khi khởi phát triệu chứng).

    IV. Biến chứng và hậu quả do vi khuẩn não mô cầu gây ra.

    - Người bị nhiễm vi khuẩn não mô cầu có thể nhiễm khuẩn đường huyết. Bệnh nhân sốt cao tới 40-41ᵒC. Sốt kéo dài, liên tục kèm theo rét run, đau đầu, đau cơ khớp toàn thân. Sau đó có thể bị xuất huyết, thậm chí xung huyết từng vùng làm hoại tử da, bong da…

    - Biến chứng nặng nhất là viêm màng não, tình trạng này thường xảy ra khi người nhiễm bệnh đã bị viêm vùng mũi họng, nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn.

    - Một số trường hợp ngay sau khi khởi phát bệnh đã có ngay triệu chứng của viêm màng não như sốt cao đột ngột, mệt mỏi, đau đầu, nôn mửa, lú lẫn, hoảng loạn, co giật và hôn mê.

    - Bệnh VNMC tiến triển rất nhanh, khó phát hiện trong giai đoạn sớm vì triệu chứng dễ lẫn với các bệnh viêm màng não do virus.

    - Người bệnh sống sót dễ mang theo các di chứng như phải cắt bỏ các chi, tổn thương não, giảm thính lực, tổn thương thận và các vấn đề tâm lý.

    V. Chuẩn đoán, điều trị

    - Quan trọng nhất là chuẩn đoán điều trị sớm, nếu nghi ngờ bệnh nhân mắc VNMC phải được xét nghiệm máu, dịch não tủy ngay.

    - Bệnh VNMC được điều trị kháng sinh nhưng vẫn 10%-15% người bệnh có thể tử vong, 11%-19% người sống sót bị khuyết tật lâu dài.

    - Thuốc kháng sinh được sử dụng: Penicillin, ampicillin, chloramphanicol…

    VI. Cách phòng bệnh

    - Phòng để không hít phải các chất tiết đường hô hấp của người khác bằng cách đeo khẩu trang tự bảo vệ.

    - Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân: rửa tay xà phòng, súc miệng, họng bằng các dung dịch sát khuẩn 3 lần/ngày

    - Vệ sinh nơi ở, làm việc.

    - Chủ động tiêm phòng vaccin phòng bệnh VNMC tại các cơ sở tiêm chủng.

    Tiến sĩ: Nguyễn Công Tảo.
     
  11. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Tại sao trẻ ăn nhiều vẫn bị chậm phát triển ( còi)
    [​IMG]

    Tình trạng này bắt gặp rất nhiều trong xã hội hiện tại. Để tránh hiện tượng này, các mẹ hãy không ham cho con ăn nhiều mà hãy học cách cho con ăn những gì, mỗi loại thức ăn, chất bổ dưỡng…bao nhiêu là đủ.

    Để nuôi dưỡng con trẻ phát triển tốt, trong các bữa ăn hàng ngày các mẹ ( hoặc người trực tiếp chăm sóc bé: ông bà, người giúp việc, cô nuôi trẻ ở lớp phải là người có kiến thức ( hoặc đã từng được nghe các bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng tư vấn) để theo dõi, giám sát trẻ ăn được bao nhiêu, ăn những gì và hấp thu bao nhiêu thể hiện qua sự phát triển của trẻ về chiều cao, cân nặng. Rất nhiều bà mẹ đã than thở khi đưa con tới khám tại phòng khám- tư vấn dinh dưỡng rằng bé ăn khỏe, không kén ăn thậm chí còn háu ăn nhưng mẹ đã chăm đủ cách mà con vẫn còm nhom, ốm yếu. Một bữa con ăn tới 2 lưng bát cơm, trong tủ lạnh luôn trữ sữa tươi, hoa quả cho con ăn uống tùy thích, mẹ luôn có đủ 2 bữa bữa ăn phụ sẵn cho con: bánh bông lan, bánh giò, xôi, xúc xích…vậy mà bắt đầu vào lớp một con mới chỉ được 16 kg.

    Trả lời các thắc mắc, lo âu của các mẹ, chuyên gia dinh dưỡng cho biết:

    Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân cụ thể:

    - Bé ăn nhiều nhưng không cân bằng các dưỡng chất

    - Trẻ hấp thu kém

    - Trẻ bị rối loạn tiêu hóa

    - Trẻ quá hiếu động

    - Trẻ mắc chứng bệnh nào đó ảnh hưởng đến sức khỏe

    - Sai lầm của cha mẹ: thấy con ăn nhiều thì tưởng là con ăn đã đủ.

    Thực chất, chế độ ăn cân bằng các dưỡng chất mới quyết định sự tăng trưởng. Trẻ ăn nhiều nhưng thừa dưỡng chất này, thiếu dưỡng chất khác sẽ vẫn suy dinh dưỡng và ảnh hưởng đến cân nặng, chiều cao. Mặt khác, trẻ hấp thụ kém nên dù có ăn nhiều cũng vẫn còi cọc. Tình trạng này để lâu có thể dẫn đến những chuyển biến nguy hiểm hơn như rối loạn tiêu hóa kéo dài, thiếu dinh dưỡng, thiếu máu…trẻ quá hiếu động dẫn đến lượng calo bị đốt cháy quá nhiều nên khó tăng cân.

    Để con trẻ ăn, uống có hiệu quả cho sự phát triển, các bậc cha mẹ khi phát hiện con ăn nhiều mà không lên cân nên đưa bé tới khám dinh dưỡng, không nên ép con ăn nhiều hơn nữa…các bác sĩ dinh dưỡng cần biết về chế độ ăn uống thường nhật của bé, thăm khám, xét nghiệm…mới kết luận được nguyên nhân khiến bé “ tiêu tốn thực phẩm” mà không lên cân. Trẻ kém hấp thu sẽ được bổ sung men tiêu hóa, men vi sinh và các vi khoáng.

    Trong trường hợp trẻ ăn nhiều nhưng mất cân đối về dinh dưỡng các bác sĩ sẽ giúp cha mẹ chọn lựa, kết hợp thực phẩm hợp lý, cụ thể:

    - Cho trẻ uống sữa, (500-800ml/ngày), nếu trẻ ăn tốt nên cho bé dùng thêm các chế phẩm từ sữa ( sữa chua, phomai…).

    - Cho trẻ ăn no vào bữa sáng để đảm bảo năng lượng hoạt động, hạn chế ăn quà vặt vỉa hè, bánh kẹo, nước giải khát nhiều đường.

    - Tăng cường cho trẻ ăn rau, củ, quả để cân bằng vi chất, tránh táo bón, kích thích tăng cân.

    - Cho trẻ ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, tránh ăn 1 loại nhất định sẽ làm trẻ bị thiếu hụt những dưỡng chất cần thiết.

    - Uống nhiều nước lọc sẽ giúp tiêu hóa, vận chuyển dinh dưỡng tốt hơn, giúp bé lên cân.

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  12. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Các mẹ cần biết sự khác biệt giữa sữa thanh trùng và sữa tiệt trùng.
    [​IMG]

    -----
    Trên thị trường có 02 dòng sữa chính : sữa bột và sữa nước. Trong sữa nước bao gồm: sữa thanh trùng, sữa tiệt trùng và sữa hoàn nguyên.
    1. Sữa hoàn nguyên: là loại sữa thu được khi hòa nước với sữa bột, được bổ sung thêm một số chất khác tương tự như sữa tươi, đường, vị hoa quả, dầu dừa, vitamin, khoáng chất…các loại sữa được quảng cáo là sữa trên thị trường hiện nay đa số đều là sữa hoàn nguyên.
    2. Sữa thanh trùng và sữa tiệt trùng.
    Hai loại sữa này khác nhau có thể ví von như mực tươi mới đánh bắt so với mực một nắng, trái cây tươi hái trong vườn so với trái cây khô đóng gói.

    Sự khác biệt giữa sữa thanh trùng và sữa tiệt trùng.
    + Chỉ tiêu/ Sữa thanh trùng/ Sữa tiệt trùng:
    + Nguyên liệu:
    Sữa tươi mới vắt / Sữa tươi các chất dinh dưỡng bổ sung, hương liệu, dầu, socola…
    + Phương pháp xử lý:
    Đưa sữa lên 82ᵒC trong vòng 30s rồi làm lạnh xuống ngay lập tức/ Tiệt trùng từ 140ᵒC-150ᵒC trong 3.5 giây.
    + Bảo quản:
    Tối đa 7-10 ngày, giữ liên tục ở 3ᵒC-Bao bì, hộp giấy, chai nhựa./ Có thể giữ 6 tháng -1 năm ở nhiệt độ thường, không cần giữ lạnh. Bao bì, hộp giấy.
    + Hàm lượng dinh dưỡng:
    Vitamin tự nhiên trong sữa cao, Lớp váng sữa tự nhiên có nhiều khoáng chất ( Ca, NA, K…) protein canxi, vitamin A, E, B1, B2, C, PP / Vitamin tự nhiên thấp, Có thể bổ sung nhiều loại vi chất khác nhau DHA, Selen. Có nhiều hương vị.

    + Điểm mạnh:
    Tự nhiên, Nguyên lành, Dinh dưỡng trọn vẹn/ Bảo quản liên tục, Hương vị đa dạng, Sản xuất số lượng lớn nên giá thành rẻ.

    + Điểm yếu:
    Thời gian sử dụng ngắn,Điều kiện nguyên liệu sữa đầu vào đòi hỏi cao,Điều kiện bảo quản phải giữ lạnh liên tục, Giá thành cao
    Không an toàn vệ sinh thực phẩm và giữ nguyên vẹn dinh dưỡng nếu không có quy trình, máy móc đúng chuẩn./
    Ít chất dinh dưỡng tự nhiên, Đòi hỏi vốn đầu tư lớn cho nhà máy, công nghệ, Dễ bị biến tướng, không còn từ sữa tươi nữa mà là sữa bột pha với nước và hương liệu.

    3. Lưu ý khi sử dụng sữa
    - Không uống sữa tươi vào lúc bụng đói cồn cào. Tốt nhất hãy ăn nhẹ trước khi uống sữa tránh để canxi trong sữa kết hợp với acid trong dạ dày sẽ kết tủa thành muối không tan gây đau bụng.

    - Không cho trẻ dưới 12 tháng tuổi uống sữa tươi, do hệ thống tiêu hóa chưa hoàn chỉnh nên khó hấp thu. Phụ nữ có thai, người già, trẻ nhỏ nên uống ít trước rồi tăng dần lên.

    - Nên uống sữa sau khi ăn nhẹ buổi sáng, sau bữa trưa 02 tiếng, trước khi đi ngủ 30 phút.

    - Có thể làm ấm sữa bằng cách ngâm vào cốc nước nóng, máy hâm nóng, lò vi sóng ( 15 giây).

    - Nếu tự thanh trùng sữa sống tại nhà:

    · Không nên thanh trùng bằng nhiệt độ thấp, thời gian lâu

    · Không nên cho đường vào lúc sữa đang nóng vì sẽ xảy ra phản ứng của lysine ở nhiệt độ cao sinh ra lysine gốc glucose có hại cho cơ thể. Chính xác nhất là để sữa ở 50ᵒ C mới cho đường.
    BS. Hoàng Ngọc Anh
     
  13. gaubongmauxam

    gaubongmauxam Thành viên tích cực

    Tham gia:
    2/12/2016
    Bài viết:
    592
    Đã được thích:
    91
    Điểm thành tích:
    28
    cảm ơn các mẹ nhiều nhé ....kiến thức rất bổ ích....
     
  14. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Bệnh viêm xoang-các mẹ cần biết trong giai đoạn thời tiết giao mùa
    [​IMG]

    I. Viêm xoang là gì?

    Viêm xoang là tình trạng màng niêm mạc lót trong lòng các hốc xoang cạnh mũi bị nhiễm trùng, siêu vi trùng hay dị ứng dẫn tới phù nề làm thu hẹp đường kính các lỗ xoang viêm, giai đoạn này mủ và dịch viêm sẽ ứ đọng trong xoang do không thoát ra ngoài được.

    II. Triệu chứng bệnh viêm xoang.

    Viêm xoang thường có biểu hiện như đau nhức, chảy dịch, nghẹt mũi, điếc mũi. Khi bệnh trở nặng thường có những biểu hiện cụ thể sau:

    1. Cảm giác đau nhức vùng bị viêm xoang.

    - Xoang hàm: nhức ở vùng má

    - Xoang trán: đau nhức vùng giữa lông mày ( vào giờ nhất định thường là 10h sáng).

    - Xoang sàng trước: nhức giữa 2 mắt

    - Xoang sàng sau, xoang bướm: nhức trong sâu, nhức vùng gáy.

    2. Hiện tượng chảy dịch:

    Tùy theo vị trí xoang bị viêm mà dịch nhày chảy ra phía mũi hoặc xuống họng

    - Viêm xoang trước: chảy ra mũi trước

    - Viêm xoang sau: dịch chảy vào họng

    Tùy theo phát triển của bệnh mà dịch sẽ có màu trắng, đục, vàng nhạt, xanh và có mùi hôi, khẳn.

    3. Ngạt mũi:

    Là biểu hiện không thể thiếu được có thể bị nghẹt một bên hoặc cả 2 bên. Có cảm giác khó thở, rất khó chịu và mệt mỏi.

    4. Điếc mũi

    Viêm xoang giai đoạn nặng thường gây phù nề nhiều, nghĩ không biết mùi do mùi đó không len lỏi đến thần kinh khứu giác được.

    5. Các biểu hiện khác:

    - Đau đầu

    - Sốt nhẹ hoặc sốt cao

    - Có cảm giác chóng mặt, choáng váng.

    - Vùng quanh mắt đau nhức từng cơn.

    - Viêm xoang, do răng số 5, 6,7 hàm trên sẽ thấy bị áp xe quanh răng.

    - Khi bệnh nhân hắt xì hơi mạnh gây đau nhức, có khi có cả tia máu.

    - Ăn uống không ngon, ngủ không yên giấc, không tập trung làm việc được.

    - Một số bệnh nhân còn bị mờ mắt do viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu.

    III. Nguyên nhân viêm xoang.

    1. Ứ đọng chất nhầy do cản trở luồng không khí vào khiến chất dịch thoát ra không kip, lỗ thông xoang tắc nghẽn làm môi trường cho vi khuẩn, nấm phát triển trong các xoang.

    2. Hóa chất, thức ăn biến chất làm cho niêm mạc mũi phù nề gây bít tắc lỗ thông xoang và nhiễm trùng.

    3. Sức đề kháng của cơ thể kém, hệ miễn dịch suy giảm hệ thần kinh bị rối loạn không đủ sức chống lại vi khuẩn.

    4. Tuyến nhầy của viêm mạc xoang hoạt động quá nhiều

    5. Hệ thống lông chuyển có chức năng vận chuyển các chất nhầy trong xoang ra ngoài hoạt động kém.

    6. Hiện tượng viêm mũi sau nhiễm siêu vi trùng, hiện tượng bội nhiễm, viêm mũi dị ứng kéo dài, tình trạng vẹo vách ngăn, sâu răng, nhiễm trùng răng…cũng gây viêm xoang.

    7. Sau chấn thương có tổn thương niêm mạc xoang.

    IV. Điều trị

    Tùy theo giai đoạn, tổn thương nguyên nhân gây bệnh để điều trị bằng phương pháp tây y, đông y hoặc kết hợp cả 02 phương pháp.

    1. Điều trị tây y: Hiện trên thị trường có rất nhiều loại thuốc điều trị viêm xoang, viêm mũi dị ứng…việc lựa chọn thuốc phải cẩn thận và theo hướng dẫn của bác sĩ.

    2. Điều trị dân gian

    - Lá xông ( trong đó có bạc hà): nấu, xông cả người hoặc múc ra bát lớn xông tỏa hơi, hít hơi nóng bốc lên ( phủ tấm khăn lớn lên đầu).

    - Rửa hốc mũi bằng nước muối sinh lý ( 0,9%) hoặc pha một thìa cà phê muối vào hai tách nước ấm kèm theo 1 nhúm Bicarbonat. Rót nước muối vào một bát rộng, ngửa đầu ra sau, bịt một bên lỗ mũi, hít nước vào lỗ mũi bên kia rồi nhẹ nhàng hỉ mũi ra, đôi bên và làm tương tự.

    3. Điều trị bằng phẫu thuật: chỉ sử dụng khi có biến chứng lan vào mắt và khi điều trị nội khoa gặp thất bại.

    V. Các biện pháp phòng ngừa bệnh viêm xoang

    1. Đeo khẩu trang ( tránh bụi), nên sử dụng khẩu trang y tế. Dọn dẹp môi trường xung quanh sạch sẽ, tránh xa khói bụi, chất thải.

    2. Khi bị tắc, nghẹt mũi, không nên dùng các loại tinh dầu quế, hồi để xoa cho trẻ sẽ gây kích thích, xung huyết da, niêm mạc đường hô hấp của trẻ.

    3. Đối với người mẫn cảm cần tránh xa các dị nguyên gây dị ứng. Không nên cho tay vào ngoáy mũi vì dễ dàng cho vi trùng vào bên trong khiến bệnh trở nên nghiêm trọng.

    4. Cần biết cách để nước thoát ra khỏi tai, mũi sau khi tắm, bơi.

    5. Không dùng chung vật dụng với người bị viêm xoang

    6. Khi có các triệu chứng ban đầu của viêm xoang cần phải đến cơ sở y tế thăm khám và điều trị kịp thời.

    VI. Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân viêm xoang

    Bệnh viêm xoang là một bệnh mãn tính, việc điều trị bệnh lâu dài, phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố dinh dưỡng cũng góp phần không nhỏ, ăn uống hợp lý cũng là một cách để chữa trị bệnh viêm xoang.

    1. Bệnh nhân viêm xoang nên uống nhiều nước ( đun sôi để nguội, có tác dụng làm loãng chất nhầy, bong lớp mũi đặc và tạo rãnh thông thoáng, dễ khạc đờm, tống bụi bẩn ra ngoài.

    2. Tăng cường ăn các loại thực phẩm có chất béo, omega-3 có tác dụng ngăn chặn các phản ứng viêm tấy trên đường hô hấp như: cá hồi, cá nục, cá mòi…

    3. Bổ sung nhiều vitamin C để tăng cường sức đề kháng của cơ thể: cà rốt, ớt chuông, bưởi, cóc, sơ ri, khế…

    4. Nên ăn các loại thức ăn có tính ấm như gừng, tỏi, hành…chứa nhiều chất kháng sinh có tác dụng phòng chống viêm xoang.

    5. Tăng cường ăn các thực phẩm từ đậu nành giúp cung cấp canxi, khoáng tố cần thiết cho chống dị ứng.

    6. Sử dụng các loại thức ăn bổ phế âm như gạo nếp, củ từ, táo tàu, nhãn, đường đỏ, sữa chua…

    7. Chế độ ăn uống không tốt cho bệnh nhân viêm xoang.

    - Không uống nước đá, nước để trong tủ lạnh sẽ tạo kích thích với niêm mạc đường hô hấp.

    - Không ăn các thức ăn mà cơ thể dị ứng như cua, tôm, nghêu, sò.

    - Hạn chế dùng sữa và sản phẩm từ bơ, sữa.

    - Không uống cafe, bia, rượu vì sẽ làm dịch nhầy đặc lại, kích thích đào thải nước dẫn đến cơ thể thiếu nước ảnh hưởng xấu đến việc đẩy dịch nhớt ứ động trong xoang.

    - Không sử dụng nước soda, không ăn khuya vì gây ợ nóng dẫn tới trào ngược, không tốt cho người viêm xoang.

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  15. gavang9x

    gavang9x Thành viên nổi tiếng

    Tham gia:
    23/9/2016
    Bài viết:
    4,234
    Đã được thích:
    909
    Điểm thành tích:
    823
    mùa đông lạnh nên trẻ nhỏ dễ mắc bệnh nên bv bé yêu tốt hơn,
     
  16. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Bệnh tiểu dắt ở trẻ em.
    [​IMG]

    Ở trẻ trong độ tuổi từ 5-9 tuổi rất hay gặp phải căn bệnh đó là bệnh tiểu dắt ở trẻ em. Tuy là hiện tượng thường gặp nhưng nếu phụ huynh không chú ý và cho bé điều trị sớm thì bệnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ.

    1. Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh.

    Nếu trẻ có hiện tượng đòi đi tiểu liên tục, cứ khỏang 15 phút một lần. Nước tiểu không trong mà có màu vàng đục. Mỗi lần đi tiểu, lượng nước tiểu rất ít. Bé có kèm theo hiện tượng mệt mỏi, sốt cao và quấy khóc, chứng tỏ bé mắc phải bệnh đái dắt ở trẻ em…các bà, mẹ hãy đưa bé đi khám bởi đây là những biểu hiện của rối loạn đường tiểu.

    Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này có thể là do các vấn đề về sinh lý và tâm lý. Tiểu dắt ở trẻ em có thể do thân nhiệt trong cơ thể trẻ cao, trẻ bị nóng trong người hoặc có thể do các bệnh nguy hiểm như: nhiễm trùng nước tiểu, viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm thận, suy thận.

    Bệnh ảnh hưởng đến tâm lý và sinh hoạt của trẻ khi trẻ liên tục đòi đi vệ sinh, tiếp đó là gây hại tới sức khỏe gây nên tình trạng mệt mỏi, ốm sốt, giảm cân…ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ khiến trẻ không phát triển bình thường. Do đó, khi phát hiện trẻ bị tiểu dắt, phụ huynh cần cho con đi khám bệnh để có hướng điều trị bệnh sớm.

    2. Cho bé đi khám và điều trị tại cơ sở y tế.

    · Cần cho bé đi khám trong các trường hợp sau:

    - Trẻ bị đái dắt kéo dài.

    - Trẻ có hiện tượng ốm , sốt cao, mệt mỏi.

    - Khóc khi đi tiểu.

    Lúc này cần phải cho trẻ đi thăm khám để xác định chính xác nguyên nhân gây ra tiểu dắt. Sau đó bác sĩ sẽ chỉ định các loại thuốc điều trị phù hợp, an toàn cho trẻ. Phụ huynh cần tránh tự ý cho trẻ uống thuốc sẽ rất nguy hiểm và có thể khiến bệnh nặng hơn.

    3. Những bài thuốc dân gian có tác dụng chữa bệnh tiểu dắt.

    Để chữa khỏi bệnh tiểu dắt, các mẹ hãy tham khảo một số bài thuốc dân gian có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Nguyên liệu của các bài thuốc này lấy từ tự nhiên nên rất an toàn cho trẻ, không gây tác dụng phụ như các loại thuốc tây y.

    - Cho bé uống nước bột sắn dây có hòa với chút đường.

    - Phơi râu ngô, bông mã đề, ngọn tre non để sắc cho bé uống hàng ngày.

    - Râu ngô, rễ cỏ tranh, đậu đen, bông mã đề, củ sả phơi khô sắc cho bé uống ngày 2 lần.

    Những bài thuốc này có tác dụng làm thanh nhiệt cơ thể, lợi tiểu, giải độc…rất an toàn cho bé. Tuy nhiên, phụ huynh chỉ nên áp dụng các bài thuốc này khi bé mới bị đi tiểu dắt và chưa có hiện tượng ốm sốt. Sau khi dùng một thời gian mà không có hiệu quả cần thực hiện biện pháp khác.

    BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  17. Nhớ Chết Liền

    Nhớ Chết Liền Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    19/11/2016
    Bài viết:
    74
    Đã được thích:
    10
    Điểm thành tích:
    8
    trẻ em cần đạm là chủ yếu nhỉ
     
  18. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Những điều các mẹ phải biết trong giai đoạn cho con bú.
    [​IMG]

    I. Phải cho bé bú mẹ sớm sau khi sinh.

    Các mẹ nên cho bé bú sớm ( trong vòng một giờ đầu sau sinh) và cho trẻ bú sữa non ( không vắt bỏ sữa non). Cho bé bú sớm sẽ kích thích tuyến yên ( tiết ra prolactin và oxytocin) có tác dụng kích thích tế bào tuyến sữa tạo sữa và giúp làm co các cơ biểu mô xung quanh tuyến vú giúp dẫn sữa từ các nang sữa chảy vào ống dẫn sữa ra đầu vú vào miệng trẻ. Như vậy, cho trẻ bú sớm sẽ kích thích bài tiết sữa sớm.

    - Tác dụng có lợi của việc cho trẻ bú sớm :

    Giúp cầm máu cho mẹ và co hồi tử cung.

    - Việc tiếp xúc giữa mẹ và con : Da kề da, ôm ấp vuốt ve con, âu yếm…cũng giúp cho sữa xuống nhanh.

    II.Dấu hiệu chứng tỏ trẻ không bú đủ sữa mẹ

    Lý do khiến các bà mẹ ngừng cho con bú, cho bé bú bình là bà mẹ nghĩ bản thân không đủ sữa. Các dấu hiệu nhận biết trẻ không nhận đủ sữa mẹ bao gồm:

    - Tăng cân kém ( dưới 500g/1 tháng).

    - Nhẹ cân hơn lúc đẻ sau 02 tuần vì trong tuần đầu trẻ có hiện tượng sụt cân sinh lý.

    - Đi tiểu ít ( dưới 06 lần/ ngày), nước tiểu cô đặc, màu vàng, nặng mùi.

    - Trẻ không hài lòng sau bú, hay cằn nhằn.

    - Trẻ khóc thường xuyên, ngủ không đầy giấc.

    - Các bữa bú quá ngắn hoặc quá dài.

    - Trẻ đi ngoài phân rắn.

    - Không có sữa khi bà mẹ cố vắt sữa và sữa không xuống sau đẻ.

    III. Các mẹ phải làm gì khi trẻ không chịu bú

    Trẻ không chịu bú mẹ là do nhiều nguyên nhân:

    - Do trẻ ốm đau: trẻ bị ốm thường bú kém, thậm chí không chịu bú mẹ thì cần tập trung vào điều trị bệnh, thời gian này phải vắt sữa mẹ, cho bé ăn bằng thìa, tập dần cho bé bú mẹ.

    - Do bé bị đau ở da cơ xương do phải can thiệp lúc đẻ ( forcep, giác hút). Các bà mẹ nên thay đổi tư thế cho con bú, tìm cách bế trẻ thích hợp để không chạm vào chỗ đau của bé.

    - Trẻ khó bú do bị tưa miệng, cần phải đánh tưa cho bé bằng mật ong, nước ép rau ngót hoặc nystatin. Nếu trẻ tắc, ngạt mũi cần hút sạch mũi thì trẻ mới bú được.

    - Do cách cho bú: Nếu mẹ cho con bú bình sẽ cản trở việc bắt bú, dần dần sẽ để trẻ bỏ bú mẹ. Vì vậy, trong giai đoạn trẻ bú mẹ không nên cho bé bú bình, nếu cần ăn thêm sữa thì cho con ăn bằng thìa, tập dần xen kẽ các bữa bú mẹ.

    - Ngậm bắt vú kém là nguyên nhân cơ bản làm trẻ không chịu bú mẹ, cần giúp trẻ cách ngậm, bắt vú đúng để bú có hiệu quả. Một sốt trường hợp mẹ tạo sữa quá nhiều, trẻ bú dễ sặc và sợ bú, vì vậy trước khi cho bú mẹ nên vắt bớt sữa, giữ vú theo tư thế gọng kìm để sữa chảy chậm hơn.

    - Do một số thay đổi trong sinh hoạt của trẻ.

    Trẻ phải xa mẹ ( khi đi làm)

    Thay người chăm sóc.

    Mùi của mẹ khi dùng nước hoa, ăn hành tỏi…Tất cả 03 nguyên nhân trên cũng có thể làm cho bé khó chịu và bỏ bú.

    IV. Các mẹ phải làm gì để đủ sữa nuôi con.

    - Việc tăng tiết sữa của các bà mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cách cho trẻ bú, chế độ ăn uống nghỉ ngơi, tinh thần thoải mái. Nếu ở trẻ bú nhiều thì sẽ kích thích vú bài tiết nhiều sữa. Phần lớn vú của các mẹ không chỉ tiết đủ lượng sữa để nuôi một đứa trẻ mà thậm chí đủ cho cả hai trẻ sinh đôi. Nhưng nếu bé không bú thì vú cũng ngừng tạo sữa. Sự tiết sữa còn chịu ảnh hưởng bởi cơ chế thần kinh, nếu mẹ thấy thoải mái, hài lòng, yêu thương trẻ, tin tưởng vào nguồn sữa của mình…thì vú sẽ chảy nhiều sữa, nhưng nếu mẹ lo lắng buồn phiền sẽ ức chế sự xuống sữa.

    - Ăn uống bồi dưỡng là rất cần thiết đối với những bà mẹ cho con bú để sữa có chất lượng tốt. Năng lượng cho khẩu phần ăn hàng ngày của bà mẹ cho con bú là 2750kgcal cao hơn phụ nữ có thai ( 2550kgcal). Thức ăn có tác dụng cho lợi sữa: móng giò heo hầm với đậu đen, gạo nếp đậu xanh. Gà ác tiềm thuốc bắc, rau lang nấu với thịt bò, canh đu đủ xanh nấu với thịt gà… các thức ăn trên khi sử dụng sẽ thúc đẩy sự xuống sữa nhanh, nhiều hơn.

    V.Cho trẻ bú thế nào khi mẹ đi làm.

    - Trước khi trở lại đi làm ( 2-4 ngày) mẹ nên dành thời gian để hướng dẫn người thân ( người giúp việc).

    - Mẹ nên tranh thủ cho bé bú vào ban đêm, sáng sớm và bất cứ lúc nào để duy trì nguồn sữa mẹ. Như vậy, trẻ vẫn nhận được sữa mẹ ngay cả khi bắt đầu ăn bổ sung.

    - Vắt sữa trước khi mẹ đi làm và để lại cho người chăm trẻ cho bé uống bằng thìa.

    - Thu xếp thời gian để vắt sữa ( đậy sớm hơn 30p) để kịp vắt sữa cho con bú.

    - Sữa mẹ sau khi vắt nếu để ở nhiệt độ 26ᵒC thì chỉ dùng an toàn trong 4-6 giờ, bảo quản ở 22ᵒC ( dùng trong 6-8 giờ). Sữa mẹ để trong ngăn mát tủ lạnh có thể sử dụng trong vòng 24 giờ.

    - Không cần thiết phải hâm nóng sữa trước khi cho bé uống. Nếu sữa quá lạnh chỉ cần ngâm cốc sữa vào nước nóng cho ấm dần lên.

    BS. Hoàng Ngọc Anh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  19. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể
    [​IMG]

    Trong quá trình sống chúng ta ăn, uống đủ các loại thức ăn như chất đạm, đường, mỡ, các loại vitamin muối khoáng…vậy thức ăn được tiêu hóa như thế nào?. Hiểu biết về quá trình tiêu hóa, hấp thụ thức ăn của cơ thể sẽ giúp cho con người biết cách ăn uống hợp lý giúp cho quá trình tiêu hóa được tốt hơn.

    Hệ thống cơ quan tiêu hóa ở con người bao gồm miệng-thực quản-dạ dày- ruột ( non-đại tràng-trực tràng)-hậu môn. Bên cạnh đó là các loại dịch tiêu hóa, men tiêu hóa ( enzyme) có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tiêu hóa thức ăn.

    I. Miệng

    Miệng có chức năng tiếp nhận thức ăn, nghiền xé, nhào trộn thức ăn với nước bọt để tạo thành viên nuốt. Phản xạ muối là tự động nên khi ăn phải nhai kỹ để khỏi bị nghẹn. Dịch tiêu hóa ở miệng là nước bọt, do các tuyến nước bọt tiết ra gồm men amylase, chất nhầy ( mucine), men khử khuẩn lysozym và rất ít men maltase. Trong nước bọt không có men tiêu hóa lipid và protid. Men amylase có tác dụng biến tinh bột chín thành đường dextrin, maltriose và maltose. Men maltase trong nước bọt biến maltose thành glucose. Kết quả tiêu hóa ở khoang miệng các chất protid, lipid chưa được phân giải chỉ có một phần tinh bột chín được phân giải thành đường maltoza. Tuy vậy, thời gian thức ăn lưu ở khoang miệng rất ngắn ( 15-18 giây) nên sự phân giải đó không đáng kể và chưa có hiện tượng hấp thu.

    II.Dạ dày

    Trong dạ dày có nhiều loại men tiêu hóa: men pepsin tiêu hóa protid, remin ( chymosin, presure) có tác dụng chuyển chất caseinogen thành casein và kết hợp với canxi tạo thành chất như váng sữa. Men này có tác dụng với trẻ em. Men lipase tiêu hóa lipid, men này hoạt động tốt ở môi trường kiềm, nhưng ở dạ dày hoạt động yếu, chỉ có tác dụng thủy phân những lipid đã nhũ tương hóa ( lipid của sữa, lòng đỏ trứng) biến chúng thành acid béo, monoglycerid, glycerol. Ở người lớn men này có tác dụng không đáng kể. Tác dụng của acid HCL dạ dày là hoạt hóa men pepsin, làm trương protid tạo điều kiện cho việc phân giải dễ dàng, kích thích nhu động dạ dày, tham gia vào cơ chế đóng tâm vị và đóng mở tâm vị, có tác dụng sát khuẩn chống lên men thối ở dạ dày, tham gia điều hòa bài tiết dịch vị, dịch tụy, dịch mật và dịch ruột thông qua sự kích thích bài tiết các loại men tiêu hóa của dạ dày, ruột. Dạ dày có 2 loại chất nhầy hòa tan trong dịch vị và không hòa tan cùng bicarbonat tạo nên một màng dai phủ kín toàn bộ niêm mạc dạ dày và hành tá tràng. Cả hai loại chất nhầy cùng bicarbonat có tác dụng trung hòa dịch acid, che chở bảo vệ niêm mạc dạ dày không bị phá hủy. Khi sự bài tiết chất nhầy và bicarbonat bị rối loạn, khả năng bảo vệ niêm mạc bị giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho viêm loét dạ dày. Tá tràng phát triển đặc biệt là do xoắn khuẩn Helicobacteur lylori. Để tránh tác hại này không nên ăn rau sống, thức ăn tái, sống vì xoắn khuẩn sẽ xâm nhập qua thức ăn vào dạ dày gây loét. Một số loại thuốc aspirin, salyxilat, corticoid cũng dễ làm tổn thương niêm mạc dạ dày gây loét ( bệnh thiếu máu ác tính). Kết quả tiêu hóa ở dạ dày là thức ăn được biến thành một chất nhuyễn trong đó protid ( 10-20%) được phân giải thành các poly peptid ngắn hơn. Một phần lipid được nhũ hóa, phân giải thành mono glycerid và acid béo. Còn glucid hầu như chưa được tiêu hóa vì ở dạ dày không có men tiêu hóa glucid.

    III. Ruột non

    Tiêu hóa ở ruột non là giai đoạn quan trọng nhất. Ở ruột non, các chất thức ăn được phân giải tới mức đơn giản nhất nhờ tác dụng của các dịch tiêu hóa ( dịch tụy, dịch ruột, dịch mật). Dịch tụy tiêu hóa protid, lipid, glucid trong đó thủy phân tới trên 80% lượng glucid thức ăn.

    Thiếu dịch tụy sẽ gây rối loạn tiêu hóa và suy dinh dưỡng. Các acid mật , tồn tại dưới dạng muối mật ( với natri, kali) làm nhũ hóa lipid giúp tiêu hóa lipid. Dịch ruột có đủ các loại men tiêu hóa protid, glucid. Các men này thực hiện giai đoạn cuối cùng của quá trình tiêu hóa, biến các chất dinh dưỡng còn lại ở ruột non thành các phần tử đơn giản và hấp thu chúng. Sau quá trình tiêu hóa ở ruột non, thức ăn được biến thành dạng chất đặc sền sệt gọi là dưỡng chất trong đó protid biến thành acid béo, glycerol và một số chất khác, glucid ( hơn 90%) thủy phân thành glucose, fructose… Tất cả các chất này có thể hấp thu được vào cơ thể. Còn lại các chất xơ…( xellulose) và một phần nhỏ các chất chưa được tiêu hóa sẽ được đưa xuống ruột già và thải ra ngoài cơ thể.

    Lưu ý: Khi cơ thể khỏe mạnh, trạng thái hưng phấn, lạc quan, vui vẻ… các loại dịch, men tiết ra nhiều, tiêu hóa tốt hơn. Ngược lại khi ốm đau, lo lắng sợ hãi… mọi dịch tiết và men tiêu hóa đều suy giam, quá trình tiêu hóa sẽ chậm và kém hơn.

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     
  20. phongkhamdinhduonghn

    phongkhamdinhduonghn Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    22/4/2013
    Bài viết:
    1,517
    Đã được thích:
    130
    Điểm thành tích:
    103
    Phát triển chiều cao của trẻ

    [​IMG]

    Chiều cao của trẻ là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ. Trong các giai đoạn phát triển của trẻ, để tăng trọng lượng cho bé là vấn đề không khó chỉ cần đảm bảo chế độ chăm sóc về dinh dưỡng, khẩu phần ăn uống và chăm sóc y tế…thật tốt là khắc phục được tình trạng gầy yếu của trẻ. Thậm chí, chăm sóc quá đà còn có thể dẫn tới tình trạng thừa cân béo phì cho trẻ.

    Các yếu tố ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ bao gồm: Di truyền, dinh dưỡng, môi trường và một sốt yếu tố khác. Trong đó dinh dưỡng (31%-32%), di truyền (23%), rèn luyện thể lực (20%), môi trường sống, bệnh tật (25%-26%). Ngoại trừ yếu tố di truyền, con trẻ không thể cao lớn dược nếu thiếu dinh dưỡng, sống trong môi trường ô nhiễm ( khói thuốc lá, bụi, khói xe, than…) cũng như thường xuyên bị ốm đau và suốt ngày nhốt trong nhà.

    Sự tăng trưởng chiều cao của trẻ có 03 giai đoạn quan trọng nhất:

    • Giai đoạn trong bào thai
    • Giai đoạn dưới 02 tuổi
    • Giai đoạn tiền dậy thì ( bé trai 13-16 tuổi), bé gái ( 10-13 tuổi).
    Nếu trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai khi sinh ra nhẹ cân thiếu chiều cao thì sau này cũng rất khó cao được. Giai đoạn dưới 02 tuổi, trẻ bị suy dinh dưỡng nhất là suy dinh dưỡng thể thấp còi thì nguy cơ thấp lùn cũng rất lớn vì chiều cao lúc trẻ 02 tuổi bằng ½ chiều cao của trẻ lúc trưởng thành.

    Giai đoạn dậy thì rất quan trọng, ở giai đoạn này trẻ có thể cao được 10-15cm/ năm. Nếu trẻ được quan tâm chăm sóc dinh dưỡng tốt, tập các môn thể dục thể thao thích hợp ( chạy, bơi, tập xà….) thì có thể cải thiện đáng kể về chiều cao. Sữa là nguồn cung cấp canxi quan trọng, nhất là trẻ được nuôi đủ bằng sữa mẹ thì có cơ hội cao lớn hơn trẻ không có sữa mẹ vì canxi trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn trong sữa bò, dê…Khi đã cai sữa mẹ, trẻ cần được bổ sung các loại sữa bột công thức theo tuổi hoặc uống sữa tươi khi bé đã lớn hơn 1 tuổi. Trẻ cần phải có chế độ dinh dưỡng hợp lý: ăn đủ năng lượng, đủ 04 nhóm với đa dạng các loại thực phẩm, cân đối thành phần các chất dinh dưỡng, cung cấp đủ các vitamin, khoáng chất nhất là các vi chất dinh dưỡng có liên quan đến phát triển chiều cao ( vitamin A, D, lysin, canxi, sắt, kẽm, iod…). Trẻ cần được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường sống sạch sẽ, trong lành, thoáng mát, thực phẩm sạch không bị ô nhiễm, hạn chế ốm đau, bệnh tật. Để xương phát triển tốt, cần cho bé tắm nắng hàng ngày, giúp da tổng hợp vitamin D giúp chuyển hóa canxi tạo điều kiện cho hormone tăng trưởng hoạt động tốt.

    Ths. Đỗ Hữu Hanh, Phòng khám tư vấn dinh dưỡng chất lượng cao, Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội - 70 Nguyễn Chí Thanh
     

Chia sẻ trang này