Đau Bụng Cấp Tính Và Kinh Niên

Thảo luận trong 'MỸ PHẨM, LÀM ĐẸP' bởi khambenhdaday, 11/11/2019.

  1. khambenhdaday

    khambenhdaday Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    2/10/2019
    Bài viết:
    65
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Đau bụng là 1 trong những triệu chứng
    đau bụng dưới
    chính trong những bệnh khác nhau. Trong rộng rãi trường hợp, giả dụ Đó là ngắn hạn, nó không phải là tín hiệu của một bệnh lý nguy hiểm.
    có 1 số chiếc đau bụng.
    • Đau tổng quát (nói chung) có thể xảy ra ở 1 nửa bụng hoặc tất cả. Thường nhật nó dẫn đến rối loàn tiêu hóa, nhiễm trùng các con phố ruột gây viêm ruột (viêm ruột non). Trong những trường hợp tương tự, không có mối doạ dọa hiểm nguy đối với sức khỏe và điều trị tại nhà sở hữu thể làm giảm bớt trạng thái này.
    Ít phổ thông hơn, cơn đau tương tự chỉ ra 1 căn bệnh nguy hiểm (ví dụ, tắc nghẽn con đường ruột). Đồng thời, cường độ của nó mang thể tăng lên trong vài giờ.
    • Đau cục bộ xảy ra ở một khu vực cụ thể của bụng. Đau cấp tính, đột ngột ở một khu vực thường là triệu chứng của một bệnh hiểm nguy, chả hạn như thủng loét bao tử, trong Đó các nội dung trong khoảng dạ dày đi vào khoang bụng, gây viêm phúc mạc (viêm phúc mạc).
      đau bụng bên trái
      trạng thái của bệnh nhân xấu đi nhanh chóng và cần giải phẫu nguy cấp.
    • các cơn đau co cứng được biểu lộ bằng các cơn co giật trong chậm tiến độ chúng mang thể tăng theo sóng, sau Đó suy yếu. Chuột rút xảy ra do nâng cao co thắt cơ ruột. Thông thường sau khi xả khí hoặc phân, cường độ của cơn đau giảm. Ở một số nữ giới, họ được Nhìn vào trong giai đoạn kinh nguyệt.
    thời kì đau bụng được chia thành cấp tính và kinh niên. Mạn tính kéo dài hơn 3 tháng.
    từ đồng nghĩa tiếng Nga
    bao tử.
    từ đồng nghĩa tiếng anh
    Đau bụng cấp tính và mạn tính.
    đau bụng dưới bên trái
    Triệu chứng
    mang những bệnh khác nhau của các cơ quan bụng, có thể sở hữu các cơn đau có thuộc tính sau đây:
    • sắc, cắt;
    • vẽ;
    • ngu ngốc;
    • trầm trọng hơn do ho, đi lại;
    • co cứng;
    • liên quan đến ăn uống ("cơn đói").
    các triệu chứng này và các triệu chứng khác sở hữu thể đi kèm mang cơn đau:
    • chán ăn
    • găng, đầy hơi;
    • điểm yếu chung;
    • sốt;
    • đau bụng trái
    • phân và khí chậm trễ;
    • khát
    • 1 hỗn tạp máu trong phân;
    • vàng da của mắt, da;
    • giảm cân.
    thông báo chung về bệnh
    Đau bụng là một triệu chứng khá phổ thông, trong phổ thông trường hợp không
    đau bên trái bụng
    phải là dấu hiệu của 1 bệnh lý nguy hiểm. Song song, cơn đau dữ dội cấp tính là biểu đạt của một bệnh cần can thiệp phẫu thuật khẩn cấp (ví dụ, thủng ruột mang thể lớn mạnh trong vòng 6 giờ sau lúc vi phạm cung cấp máu các con phố ruột).
    Trong bệnh lý phẫu thuật cấp tính trong khoang bụng, người ta đã tiêu dùng một khái niệm như bụng bụng cấp tính - 1 hội tụ những triệu chứng cho thấy 1 bệnh nghiêm trọng (hoặc tổn thương) của những cơ quan bụng, đi kèm sở hữu sự kích thích của màng bao phủ các thành bên trong của khoang bụng và những cơ quan nội tạng (phúc mạc). Với đau bụng dữ dội và căng cơ ở thành bụng.
    khi nội dung của con đường tiêu hóa xâm nhập vào khoang bụng (ví dụ, trong khi thủng loét dạ dày), máu (bị vỡ vạc những cơ quan nội tạng), những bệnh viêm ( viêm ruột thừa ) và vì một số lý do khác, hiện trạng bắt nạt dọa tính mệnh có thể phát triển - viêm phúc mạc. Viêm phúc mạc đi kèm với việc giải phóng 1 lượng lớn chất lỏng và chất điện giải vào khoang bụng , nhiễm độc nguy hiểm xảy ra, công việc của hệ thống tim mạch, thận và gan bị đứt quãng. Trong tình huống này, điều trị nâng cao cường là thiết yếu, bao gồm giải phẫu, coi ngó hăng hái tiếp theo.
    Tùy thuộc vào nội địa hóa của cơn đau, bệnh lý của một cơ quan nhất mực với thể được giả thiết.
    đau bên hông trái
    Đau bụng trên bên phải:
    • viêm túi mật;
    • viêm gan;
    • áp xe (hạn chế tích tụ mủ) của gan;
    • thủng loét tá tràng;
    • trong trường hợp hãn hữu gặp, viêm ruột thừa.
    Đau ở bụng trên bên trái:
    Đau bụng dưới bên trái:
    • viêm ruột thừa.
    Ở bụng dưới bên phải:
    • viêm túi thừa (viêm những phần nhô ra của thành ruột - túi thừa) của đại tràng sigma.
    Đau bụng tràn (không có nội địa hóa rõ ràng):
    • viêm tụy cấp tính;
    • (có thể lớn mạnh sở hữu nhiễm trùng tuyến đường ruột);
    • tắc nghẽn các con phố ruột - tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn của lòng ruột,
      đau bụng từng cơn
      dẫn tới sự đứt quãng của nội dung tuyến phố ruột; một trong những khởi thủy của nó là khối u ruột.
    Đau bụng mạn tính cũng có thể đi kèm sở hữu các bệnh chức năng của dạ dày, ruột (trong ngừng thi côngĐây không với thay đổi cấu trúc trong những cơ quan). Theo các nhà nghiên cứu, những bệnh tương tự tăng trưởng do sự đảo lộn trong công tác của các phòng ban của hệ thống tâm thần kiểm soát hoạt động của các cơ quan này. 1 Ví dụ về bệnh chức năng là hội chứng ruột kích thích (đau mạn tính, đầy tương đối, táo bón hoặc tiêu chảy có thể xảy ra), chứng khó tiêu ko loét (đặc trưng bởi cảm giác hot rát, ợ khá, buồn nôn, nặng bụng).
    nguyên cớ của đau mãn tính mang thể là các bệnh kinh niên của trục đường tiêu hóa, khối u và những bệnh lý khác:
    đau bụng bên trái là bị gì
    • viêm túi mật mãn tính
    • viêm ruột thừa mạn tính
    • viêm tụy mãn
    • loét dạ dày
    • viêm gan kinh niên
    • ung thư dạ dày, tuyến tụy, ruột
    • viêm loét đại tràng - viêm ruột có sự hình thành các vết loét trên bề mặt bên trong của nó
    • bệnh trào ngược bao tử thực quản - ném nội dung của bao tử vào thực quản.
      đau bụng trái dưới
    Trong đau bụng mạn tính, các triệu chứng lo âu sau đây là:
    • sốt
    • giảm cân
    • chán ăn
    • đau dữ dội
    • đốm trong phân, nước đái
    • vàng da
    • phù nằn nì
    • đầy hơi
      đau bụng trớ trêu rốn
    ai sở hữu nguy cơ?
    nhóm rủi ro bao gồm:
    • người mắc bệnh kinh niên các con phố tiêu hóa
    • những người sở hữu họ hàng gần bị ung thư hệ tiêu hóa
    • người mắc những bệnh bẩm sinh của hệ thống tiêu hóa
    • người lạm dụng thuốc lá, rượu
    • tư nhân sử dụng 1 số mẫu thuốc (ví dụ: thuốc chống viêm không steroid)
    • các người thường xuyên gặp phải tình huống căng thẳng
      đau bụng bên trái là bệnh gì
    • người ăn uống không đều
    Chẩn đoán
    Để thiết lập những cội nguồn gây đau bụng cấp tính hoặc mạn tính, 1 số nghiên cứu chẩn đoán và xét nghiệm trong phòng thử nghiệm được bắt buộc.
    Tùy thuộc vào tình hình lâm sàng, các thể nghiệm này và những xét nghiệm khác mang thể được thực hiện:
    • Xét nghiệm máu tổng quát. Cho phép bạn xác định số lượng hồng cầu, huyết sắc tố, tiểu cầu, bạch cầu. Trong những giai đoạn viêm (ví dụ viêm ruột thừa), số lượng bạch huyết cầu trong máu sẽ nâng cao lên. Giảm chừng độ của những tế bào hồng huyết cầu và huyết sắc tố được Quan sát thấy mang thiếu máu, có thể được gây ra bởi chảy máu trong (ví dụ, sở hữu vỡ lẽ của lá lách).
      đau bụng pải dưới
    • Tốc độ lắng của hồng cầu (ESR). 1 Chỉ số ko đặc hiệu phản chiếu mức độ nghiêm trọng của những quá trình bệnh lý khác nhau trong thân thể, chính yếu sở hữu thuộc tính gây viêm. Theo chừng độ tăng ESR, người ta có thể giám định tính năng động của giai đoạn bệnh lý.
    • Xét nghiệm nước giải có kính hiển vi trầm tích. Nghiên cứu cho phép bạn xác định các thuộc tính cơ bản của nước tiểu: màu sắc, mật độ, hàm lượng nước tiểu của protein, glucose, hồng huyết cầu, bạch huyết cầu và các thành phần khác. Sự hiện diện của những tế bào hồng huyết cầu trong nước giải, 1 hẩu lốn muối của urate hoặc oxalate trong trầm tích mang thể được ghi nhận sở hữu sỏi tiết niệu. Một cơn đau dữ dội ở lưng dưới, bên, bụng dưới) có bệnh này được gọi là đau bụng.
    • Xét nghiệm máu kì bí trong phân. Nghiên cứu nhằm xác định chảy máu tối thiểu từ những phòng ban khác nhau của đường tiêu hóa, có thể lớn mạnh sở hữu loét dạ dày, khối u của con đường tiêu hóa và các bệnh lý khác.
    • Tổng số amylase trong huyết thanh. Amylase là 1 enzyme được cung ứng bởi tuyến tụy. Chức năng của nó là sự phân hủy carbohydrate. Phân tích được tiêu dùng để chẩn đoán những bệnh về tuyến tụy (ví dụ, viêm tụy), trong Đó mức độ của enzyme này tăng lên. Một trong những triệu chứng của viêm tụy là đau bụng dữ dội.
    • Lipase một enzyme được cung cấp bởi các tế bào tuyến tụy. Nó là cần phải có cho sự phân hủy chất béo. Lúc các tế bào tuyến tụy bị thương tổn, chừng độ của enzyme này trong máu nâng cao mạnh.
    • Alanine aminotransferase (ALT). Enzyme này được tậu thấy chủ yếu trong các tế bào gan. Khi các tế bào gan bị thương tổn, chừng độ của enzyme này trong máu tăng mạnh, đây là 1 chỉ tiêu chẩn đoán cho các bệnh về gan.
      đau giữa bụng
    • Bilirubin là đa dạng. Bilirubin là 1 sản phẩm phân hủy của huyết sắc tố. Tổng lượng bilirubin là tổng của nồng độ bilirubin trực tiếp và gián tiếp trong máu. Ở gan, axit glucuronic gắn sở hữu bilirubin gián tiếp, và nó phát triển thành bilirubin liên hiệp (trực tiếp). Sau chậm tiến độ, bilirubin trực tiếp đi vào cộng sở hữu mật vào ruột. Có thương tổn gan, sự gia tăng tổng số bilirubin do chức năng gan bị suy yếu với thể xảy ra. Nếu với cạnh tranh trong việc tiết mật vào ruột gan dày tá tràng (ví dụ, sỏi túi mật), cũng sẽ với sự gia nâng cao chừng độ của tổng số bilirubin.
    • Bilirubin là trực tiếp. Sự chuyển đổi của bilirubin gián tiếp sang trực tiếp xảy ra ở gan. Với thương tổn tế bào gan (ví dụ, có viêm gan), chừng độ bilirubin trực tiếp trong máu tăng lên, vì nó thâm nhập vào máu trong khoảng các tế bào gan bị thương tổn.
    Nghiên cứu:
    • thăm dò X quang quẻ khoang bụng. 1 Nghiên cứu đơn giản và tất cả thông báo để chẩn đoán 1 số tình trạng phẫu thuật nguy cấp (tắc ruột, thủng loét). Nó cho phép phát hiện đầy khá của ruột có tắc nghẽn ruột và sự hiện diện của không khí trong khoang bụng trong công đoạn thủng 1 cơ quan rỗng (ví dụ, thủng loét dạ dày).
    • Khám siêu thanh (siêu âm). Nguyên lý của bí quyết dựa trên những tính chất của siêu âm. Nó cho phép bạn tưởng tượng các cơ quan nội tạng, xác định thiệt hại của chúng (ví dụ, tan vỡ thận), khối u, u nang, áp xe và những hình thành bệnh lý khác.
    • Chụp cắt lớp vi tính bản chất của phương pháp là sự truyền tia X qua các mô sở hữu mật độ khác nhau, ghi lại thông báo bằng các cảm biến đặc thù, sau chậm triển khai là xử lý máy tính của nó. Nhờ vậy, hình ảnh phân lớp nhiều thông báo của các cơ quan nội tạng thu được, sản xuất hỗ trợ không thể thiếu trong chẩn đoán.
    • Nội soi thực quản. Kiểm tra dạ dày và tá tràng sử dụng máy nội soi linh động, được thiết bị hệ thống quang đãng học, máy ảnh và bộ công cụ chẩn đoán (ví dụ, sinh thiết) và điều trị (ví dụ, cái bỏ polyp). Cho phép bạn mường tưởng thành bên trong của bao tử, tá tràng.
    • Nội soi đại tràng Khám nội soi đại tràng. Nguyên tắc của phương pháp tương tự như nội soi thực quản. 1 Ống nội soi cởi mở được đưa vào qua hậu môn.
    Điều trị
    Điều trị sở hữu thể được thủ cựu và kịp thời. Trong 1 số trường hợp, cần phải can thiệp giải phẫu nguy cấp (ví dụ, có tắc ruột, viêm ruột thừa) để cứu sống bệnh nhân.
    Phòng chống
    những biện pháp dự phòng chung được giảm xuống theo các nguyên tắc sau:
    • ăn thường xuyên
    • ăn thực phẩm giàu chất xơ
    • nhai thức ăn phải chăng
    • uống phổ quát nước (khoảng 8 ly nước mỗi ngày)
    • không lạm dụng rượu, hút thuốc
    • chuyển động phổ thông hơn, tập thể dục
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi khambenhdaday

Chia sẻ trang này