Địa chỉ khám sức khỏe Hà Nội

Thảo luận trong 'Sức khỏe gia đình' bởi BookingCare, 7/7/2015.

  1. be rom nep

    be rom nep 0979 163 066

    Tham gia:
    22/2/2013
    Bài viết:
    7,536
    Đã được thích:
    875
    Điểm thành tích:
    773
  2. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Ít người biết rằng, đậu rồng, một loại quả dễ trồng cho năng suất cao, lại có tác dụng với việc chữa bệnh đau dạ dày cực kỳ hiệu nghiệm.

    Đậu rồng hay còn gọi là đậu khế, là loại thực phẩm quen thuộc với người dân miền Trung và miền Nam. Tuy đậu rồng ít xuất hiện ở miền Bắc nhưng loại cây này không hề khó kiếm.



    - Lợi ích sức khỏe tuyệt vời của đậu rồng

    Trong đậu rồng rất dồi dào chất folate (vitamin B12), cứ 100g đậu rồng có khoảng 66mg folate, tương đương 16,5% nhu cầu folate mỗi ngày. Đậu rồng cũng là loại thực phẩm rất tốt cho xương vì rất giàu canxi. Lượng calo trong đậu rồng ít (49 calo/100g đậu rồng) trong khi protein lại rất cao (11,6g protein/100g đậu rồng), cao hơn 1,36 g/100g hàm lượng protein trong khoai tây. Trong đậu rồng còn có chất sắt giúp phòng chống thiếu máu, nhiều men tiêu hóa thiên nhiên rất tốt cho sức khỏe.

    Đậu rồng có thể chấm mắm tôm, mắm kho quẹt, nước tôm rim hay đơn giản là ăn sống chấm muối, là món ăn khoái khẩu của người dân Nam Bộ.

    Thực ra, toàn cây đậu rồng đều sử dụng được chứ không riêng gì quả. Lá đậu rồng dùng làm rau ăn, hoa dùng trong các món bánh, rễ như khoai tây nhưng lại giạu dinh dưỡng hơn, hạt có mùi giống măng tây nên phơi khô đem rang sẽ chế được loại thức uống có hương vị rất ngon.

    - Bài thuốc trị dứt điểm đau dạ dày từ đậu rồng

    Lấy hạt đậu rồng già, rang với muối cho vàng thơm (lưu ý: Không được để đậu cháy). Sau khi rang xay hoặc giã nhuyễn.

    Mỗi lần ăn bạn lấy một thìa cà phê bột đậu rồng đã xay nhuyễn, nhai khoảng 20 lần rồi nuốt từ từ. Uống vào buổi sáng trước khi ăn liên tục trong vòng 15 ngày bệnh sẽ nhanh khỏi. Trường hợp người bệnh nặng thì phải uống trong thời gian lâu hơn.

    Hoặc đơn giản hơn, nếu bạn muốn trị bệnh dạ dày trong lâu dài, hãy ăn loại quả đậu rồng này thường xuyên. Trước khi ăn bạn cần rửa sạch dưới vòi nước, để ráo, cắt bỏ cuống. Muốn bảo quản dùng dần thì nên cho vào túi ni lông gói kín, để trong tủ lạnh nhưng tối đa chỉ nên giữ trong 2 ngày.


    Nguồn Sức khỏe đời sống
     
  3. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Những món thực phẩm dưới đây rất quen thuộc và bổ dưỡng. Nhưng nếu ăn không đúng cách thì hậu quả mà chúng đem lại cũng khôn lường.

    Cà chua xanh

    Cà chua xanh có chứa chất độc Solanine. Do đó, khi ăn cà chua xanh, khoang miệng có cảm giác đắng chát; sau khi ăn có thể xuất hiện các triệu chứng ngộ độc như chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa… Giới khoa học còn cảnh báo ăn cà chua xanh sống càng nguy hiểm.


    Dưa muối chưa kĩ

    Nếu không biết sử dụng đúng cách thì dưa muối đôi khi lại trở thành thứ gây hại.Bởi vì trong một vài ngày đầu muối dưa, vi sinh vật sẽ chuyển hóa nitrat trong các nguyên liệu thành nitric, làm hàm lượng nitric tăng cao, độ pH giảm dần (có nghĩa là độ chua tăng dần lên).Ăn dưa ở giai đoạn này thì có vị cay, hăng, hơi đắng vì chưa đạt yêu cầu. Loại dưa này chứa nhiều nitrate, ăn vào rất có hại cho cơ thể.

    Gừng dập

    Gừng tươi là thực phẩm không nên để lâu bởi sau một vài ngày nó sẽ bị mềm, tóp đi và hỏng dần ở các nhánh nhỏ và các vết cắt, nếu vì tiếc rẻ mà cố cắt bỏ phần hỏng và dùng tiếp phần nguyên vẹn của củ gừng thì bạn nên biết rằng, theo một số nghiên cứu thấy rằng do quá trình dập nát, cũ hỏng mà bên trong củ gừng đã xảy ra một chất độc hại có tên là shikimol. Chất này nằm trong cả củ gừng chứ không phải chỉ ở phần giập nát nên không thể cắt bỏ hết.Đây là hoạt chất với độc tính rất cao có thể gây sự biến đổi tế bào gan của một người đang khoẻ mạnh, cho dù lượng chất này có thể bị hấp thụ rất ít.

    Khoai tây mọc mầm

    Nếu để lâu khoai tây sẽ mọc mầm.Khi đó sẽ sinh chất độc solamine, chất này kích thích tương đối mạnh đến niêm mạc dạ dày, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. Nếu ăn khoai tây mọc mầm có nguy cơ bị đau bụng, ỉa chảy, nôn mửa, thậm chí bị suy hô hấp.


    Chè bị mốc

    Nếu phát hiện chè bị mốc tức là nó đã nhiễm penicillin và aspergillus.Nếu uống trà bị mốc, nhẹ cũng cảm thấy chóng mặt, tiêu chảy.

    Đậu xanh không nấu chín

    Đậu xanh có chứa saponin và lectins, saponin, một chất gây kích thích mạnh mẽ đối với đường tiêu hóa của con người, có thể gây ra viêm xuất huyết, giải thể các tế bào máu đỏ.Trong đậu cũng chứa hemagglu tin in với tập hợp tế bào máu đỏ gây ra ngộ độc sau khi ăn. Vì vậy nếu ăn đậu xanh chưa nấu chín dễ bị ngộ độc.

    Bắp cải thối

    Trong bắp cải thối có chứa nitrite, chất này đóng vai trò trong sự hình thành methemoglobin trong máu người, khiến máu mất các chức năng oxy, làm cho ngộ độc oxy, chóng mặt, đánh trống ngực, nôn mửa, tím môi… bị nặng có thể gây bất tỉnh, co giật, khó thở, không kịp thời cứu hộ có thể đe dọa tính mạng.

    Trứng gà sống

    Lòng trắng trứng gà sống khi ăn vào cơ thể rất khó hấp thu. Trong trứng gà sống có các chất làm cản trở sự hấp thu dinh dưỡng cơ thể và phá hoại công năng tiêu hóa của tụy tạng. Ngoài ra, ăn trứng gà sống rất mất vệ sinh, dễ đưa các vi khuẩn vào cơ thể, gây bệnh.


    Bí ngô để lâu

    Bí ngô già để lâu: Bí ngô chứa hàm lượng đường cao, hơn nữa, do lưu trữ thời gian dài, khiến bên trong bí ngô xảy ra quá trình hô hấp kỵ khí – lên men, và biến chất, vì vậy khi ăn sẽ gây nguy hiểm tới sức khỏe.

    Mộc nhĩ tươi

    Mộc nhĩ tươi chứa chất nhạy cảm với ánh sáng - chất Porphyrin. Sau khi ăn, với sự chiếu rọi của ánh nắng mặt trời, chúng ta rất dễ bị viêm da, xuất hiện trạng thái ngứa, chứng phù thủng, đau nhức; có người bị phù nề thanh quản sẽ dễ gây nên tình trạng khó thở. Vì vậy, chỉ nên ăn mộc nhĩ khô, ngâm trong nước nấu lên thì mới an toàn.

    Rau cải nấu chín để qua đêm

    Trong rau cải chứa nhiều chất nitrat. Nếu để rau cải qua đêm, do tác dụng của vi khuẩn, muối nitrat chuyển thành muối nitrit, sau khi ăn có thể làm cho tổ chức trong cơ thể thiếu ôxy, xuất hiện triệu chứng trúng độc, đau đầu, chóng mặt, nôn mửa. Ngoài ra, chất nitrit có nguy cơ cao gây ung thư đường ruột.




    Theo Soha/Tri thức trẻ
     
  4. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Theo y học cổ truyền cây chua ngút có vị chua, tính mát; vào kinh can; có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát khuẩn, chỉ khát... dùng chữa ăn uống không tiêu, bụng đầy trướng, chữa mụn nhọt, lở ngứa ngoài da.


    Cây chua ngút có tên khác là cây lá thùn mùn chua khan, dây cao su hồng. Là loại dây leo, sống lâu năm, có thể dài tới 50m. Thân mềm, nhẵn, cành non màu xanh lục nhạt; cành già màu nâu sẫm. Lá hình trứng, mọc đối, gốc tròn, đầu nhọn, mép nguyên, gân phụ lá so le, gốc gân phụ lá có tuyến; lá có vị chua ăn được. Hoa nhỏ màu phớt hồng, mọc thành chùm.Hạt có chùm lông ở đỉnh.Cây ra hoa tháng 2-4, có quả tháng 3-10. Cây mọc hoang phổ biến ở những nơi có nhiều ánh sáng, ven rừng hoặc trên đồi đất hoang ở khắp nước ta nhất là vùng Nam bộ.

    Bộ phận dùng làm thuốc là quả, rễ và lá. Thu hái quả vào mùa thu khi quả chín, hái về xát vỏ phơi khô lấy hạt, khi dùng sao vàng tán nhỏ. Rễ lấy về rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô.Lá dùng tươi làm rau ăn.Lá chua ngút cùng với các nguyên liệu thịt, cá dùng để nấu canh chua trong thực đơn hàng ngày của mọi gia đình.

    Một số bài thuốc dân gian

    Bài 1: Chữa đau nhức xương khớp do thay đổi thời tiết: Rễ chua ngút tươi 40g (khô 20g), rửa sạch, cho vào ấm đổ 500ml nước sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày, tùy vào cơ địa nhiệt hay hàn mà có thể kết hợp thêm với các vị thuốc.
    Bài 2: Chữa ăn không tiêu, bụng trướng đầy: Lá chua ngút 30 - 50g, rửa sạch, đổ 550ml nước sắc còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày, uống sau ăn 30 phút. Dùng liên tục 5 ngày.
    Bài 3: Chữa nước tiểu sẻn đỏ do nóng: Lá chua ngút nấu canh chua với cá hay thịt gà. Ngoài ra, lá chua ngút nấu canh chua có tác dụng làm giảm khả năng gây dị ứng của hải sản và thịt gia cầm gia súc do có tác dụng thanh nhiệt giải độc.
    Bài 4: Hỗ trợ trị sỏi đường tiết niệu: Lá chua ngút 100 - 200g, rửa sạch, đổ 550ml nước sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liên tục 15 ngày.
    Bài 5: Chữa mụn nhọt, lở ngứa ngoài da, vết thương (vết thương nhỏ, hẹp): Lá tươi rửa sạch, giã nát, đắp lên vết thương ngày 2 lần. 2 giờ thay băng, dùng liền 3 ngày.

    Lương y Hữu Đức (Theo Sức khỏe và Đời sống)
     
  5. gia1612

    gia1612

    Tham gia:
    7/10/2013
    Bài viết:
    13,644
    Đã được thích:
    2,410
    Điểm thành tích:
    863
    sao cây này m thấy lạ quá, chứ dùng bao giờ
     
  6. dauphunhp

    dauphunhp Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    17/7/2012
    Bài viết:
    1,958
    Đã được thích:
    176
    Điểm thành tích:
    103
    em chưa biết cây này :)
     
  7. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    KĐS - BSCK II Hoàng Đình Lân, Phó Chủ tịch Hội hậu môn trực tràng Việt Nam đã đưa ra những lời khuyên hữu ích giúp bạn chủ động phòng ngừa bệnh trĩ - vốn được coi là căn bệnh "khó nói".


    Người xưa có câu "Thập nhân cửu trĩ" - 10 người thì có đến 9 người mắc trĩ cho thấy bệnh trĩ có thể gặp ở bất cứ ai.
    Theo BSCK II Hoàng Đình Lân, bệnh trĩ là tình trạng giãn quá mức đám tĩnh mạch ở vùng hậu môn- trực tràng.Chỉ cần có chèn ép, cản trở lâu dài sự lưu thông mạch máu ở đây là bệnh trĩ có thể xuất hiện. Bệnh thường biểu hiện qua các triệu chứng như đau rát, chảy máu, sa búi trĩ và ngứa hậu môn.

    Một số triệu chứng thường gặp và gây khó chịu cho người bị bệnh trĩ như:
    - Đại tiện ra máu đỏ tươi.Đây là triệu chứng sớm nhất và cũng là triệu chứng thường gặp. Lúc đầu chảy máu kín đáo, về sau máu chảy thành giọt hoặc phun thành tia như cắt tiết gà.
    - Đau vùng hậu môn, cũng có thể không đau hoặc đau nhẹ.Đau nhiều khi có tắc mạch hoặc nứt hậu môn.
    - Sưng nề vùng hậu môn: Khi có đợt cấp hoặc khi trĩ sa ra ngoài, có thể búi trĩ sưng khá to.
    - Rỉ nước và ngứa vùng hậu môn do viêm ống hậu môn.
    Do đó, khi thấy các triệu chứng như mô tả ở trên, bạn cần khám chuyên khoa hậu môn - trực tràng hoặc ngoại tiêu hóa để có thông tin chính xác bệnh tình và có hướng điều trị thích hợp.

    Theo BS. Lân, nguyên nhân gây bệnh thường do tư thế làm việc đứng hoặc ngồi quá lâu, rối loạn nhu động ruột (táo bón, ỉa chảy, mót rặn), bệnh có tính chất gia đình, có những bệnh phối hợp như tăng áp lực tĩnh mạch trĩ, bệnh đường sinh dục, tiết niệu, hoặc những thay đổi nội tiết theo chu kỳ sinh dục của phụ nữ như mang thai, sinh đẻ hoặc trước chu kỳ kinh nguyệt. Trong số đó, táo bón là tác nhân gây bệnh trĩ nhiều nhất và cũng mang lại nhiều phiền toái nhất làm ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh.
    Chính vì thế, với người chưa mắc bệnh hoặc với bệnh nhân đã điều trị trĩ, cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh trĩ, phòng trĩ tái phát như:
    1 - Chế độ ăn nhiều rau xanh quả tươi, uống đủ nước (>1.5 lít nước/ngày), hạn chế đồ ăn cay, nóng như rượu bia, cà phê, ớt, hạt tiêu để tránh táo bón và suy mạch.
    2 - Vận động cơ thể hàng ngày khoảng 30 phút như đi bộ, bơi lội,….Tránh đứng nhiều, ngồi lâu hoặc ngồi xổm.
    3 - Tập thói quen đi cầu hàng ngày bằng cách xoa bụng vòng theo khung đại tràng vào một giờ nhất định.
    4 - Vệ sinh bằng nước ấm hoặc sau mỗi lần đi cầu.

    Để chữa trĩ, BS.Lân khuyến cáo nên kết hợp bằng YHCT kết hợp y học hiện đại.Ngoài ra, có thể lựa chọn các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược có tác dụng hỗ trợ chống táo bón, bền tĩnh mạch trĩ, phòng trĩ tái phát hiệu quả… nhưng phải có tư vấn của thầy thuốc chuyên khoa hậu môn trực tràng. Không nên dùng thuốc theo mách bảo, không rõ nguồn gốc tránh những biến chứng đáng tiếc xảy ra.


    D.Hải (Theo Sức khỏe&Đời sống)
     
  8. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Khi tắm hoa, nước ấm cùng với màu sắc và hương thơm tự nhiên của các loài hoa sẽ khiến bạn có được một cảm giác hết sức dễ chịu và sảng khoái.

    Nếu bây giờ bạn đến một trung tâm chăm sóc sức khỏe và làm đẹp nào đó, sau khi xông hơi và xoa bóp, bạn có thể được đắm mình trong những bồn nước có thả đầy hoa. Nước ấm cùng với màu sắc và hương thơm tự nhiên của các loài hoa sẽ khiến bạn có được một cảm giác hết sức dễ chịu và sảng khoái. Lúc này, có thể bạn sẽ tự hỏi rằng: liệu pháp tắm hoa có tự bao giờ và công dụng của nó ra sao?
    Thực ra, phương thức dùng hoa thả vào bồn nước tắm đã có một lịch sử rất lâu đời, ít nhất là hơn 3.000 năm nay. Y thư cổ gọi đó là “hương thang” và được xếp vào phạm vi “dược dục liệu pháp” (phương pháp điều trị bằng tắm thuốc), ngày nay người ta gọi là “tắm hoa”.
    Công dụng của liệu pháp tắm hoa, trước hết là tạo nên tâm lý vui tươi, giải tỏa căng thẳng thần kinh và làm thỏa mãn lòng yêu hoa và yêu cái đẹp của con người.Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt trong thời buổi hiện nay khi con người luôn bị cuốn mình bởi sức ép của công việc và nhịp sống ngày càng trở nên căng thẳng và sôi động.
    Tác dụng của nước, khi tắm ngâm, nước tác động lên cơ thể bởi ba yếu tố: (1) áp lực của nước có khả năng xoa bóp toàn thân, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, nâng cao năng lực hoạt động của tim và phổi, giảm đau, chống co thắt, phục hồi hoạt động của cơ khớp, giảm phù nề và chống viêm tích cực; (2) độ ấm của nước có tác dụng làm giãn mạch, hạ huyết áp, điều tiết quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh, làm giãn cơ, giảm đau, nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể, phục hồi hoạt động của cơ khớp... (3) nước tẩy rửa các chất cặn bã, làm ẩm da, khiến cho da được sạch sẽ và nhu nhuận.

    Tác dụng của các hoạt chất có trong thành phần của hoa hòa tan trong nước và thẩm thấu qua da vào cơ thể hoặc là tác dụng của các chất thơm từ hoa tỏa ra rồi tác dụng lên cơ thể thông qua khứu giác. Chất thơm của hoa, ví như tinh dầu chanh, tinh dầu quế, tinh dầu hoa hồng..., trong đó có chứa alcohol, xeton, este có tác dụng sát khuẩn, điều hòa chức năng trung khu thần kinh và hạn chế tác hại của vi sinh vật gây bệnh. Theo dược học cổ truyền, mùi thơm của hoa có công dụng lưu thông khí huyết, tỉnh tỳ trợ khí, dưỡng tâm an thần, góp phần điều tiết công năng của các tạng phủ, từ đó mà đạt được mục đích phục hồi sức khỏe và phòng chống bệnh tật.
    Tuy nhiên, hoạt chất và tinh dầu thơm của mỗi loại hoa khác nhau thì công dụng cũng không giống nhau. Ví như, hương thơm của hoa thiên trúc làm người ta trấn tĩnh, xóa hết căng thẳng, mệt mỏi và đi vào giấc ngủ nhanh hơn; hương thơm của hoa cúc trắng làm hạ huyết áp; hương thơm của hoa đinh hương và xuyên khung có tác dụng giảm đau; hương thơm của hoa dương tú cầu làm giãn cơ trơn các phế quản giúp phòng ngừa bệnh hen suyễn; hương thơm của hoa quế có công dụng hóa đờm, giảm ho, bình suyễn, giúp phòng chống bệnh viêm phế quản mạn tính; tắm bằng hoa cúc và hoa sắn dây có thể giảm cảm sốt; tắm bằng hoa kim ngân và hoa kiều mạch dại giúp chữa bệnh da liễu; tắm bằng hồng hoa và hoa lăng tiêu có tác dụng làm giảm độ kết dính tiểu cầu, phòng ngừa các bệnh lý huyết khối; tắm bằng hoa cà độc dược có thể chữa ho, viêm khí phế quản; tắm bằng hoa hồng và hoa nhài có khả năng giúp cho người bị viêm họng, viêm amydal cảm thấy dễ chịu...
    Ngoài ra, người ta còn nhận thấy một điều thú vị là: màu sắc của hoa khác nhau thì công dụng cũng khác nhau. Hoa màu tím có thể làm cho phụ nữ có thai trở nên điềm tĩnh; hoa màu hồng khiến bệnh nhân ăn ngon miệng hơn; hoa màu đỏ sẫm có thể làm tăng huyết áp...
    Theo quan niệm của y học cổ truyền, mỗi loại hoa đều có tính, vị khác nhau và có khả năng đi vào các đường kinh không giống nhau, tạo nên công dụng trị liệu có tính đặc thù. Cụ thể: (1) Tác dụng sơ phong tán nhiệt, chuyên dùng để chữa các chứng bệnh vùng đầu mặt, ví dụ cúc hoa, kim ngân hoa, tân di hoa, mật mông hoa, chi tử hoa, cát căn hoa... (2) Tác dụng hóa đàm chỉ khái, chuyên chữa các bệnh đường hô hấp, ví như khoản đông hoa, dương kim hoa, đỗ quyên hoa, hoa hublông... (3) Tác dụng thanh nhiệt lý khí, chuyên dùng chữa bệnh đường tiêu hóa, ví như tuyền phúc hoa, kim ngân hoa, phù dung hoa, biển đậu hoa, thạch lựu hoa, hòe hoa... (4) Tác dụng hoạt huyết hóa ứ, chuyên trị các bệnh tim mạch, ví như kê quan hoa, hồng hoa, cúc hoa, dã cúc hoa, dương kim hoa... (5) Tác dụng hành huyết chỉ đới chuyên chữa các bệnh phụ khoa, ví như nguyệt lý hoa, linh lăng hoa, hồng hoa, kê quan hoa, biển đậu hoa... (6) Tác dụng lương huyết giải độc, chuyên trị các bệnh da liễu, ví như đào hoa, hạnh hoa, liên hoa, đinh hương hoa, dương kim hoa, kim ngân hoa... (7) Tác dụng giải uất, trấn tĩnh, chuyên dùng cho các bệnh thần kinh, ví như dương kim hoa, hoàng nguyên hoa, thiên lý hoa, liên hoa...
    Tắm hoa không chỉ đơn thuần mang tính thẩm mỹ mà còn mang đậm tính khoa học y học nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người. Bởi vậy, có người cho rằng: cùng với dược hoa, trà hoa, thực phẩm hoa, gối hoa..., tắm hoa là một bộ phận trong “Hương hoa liệu pháp”, một phương thức trị liệu và làm đẹp độc đáo đang ngày càng phát triển.
    Tuy nhiên, thật khó có thể kể hết tên của các loài hoa và mỗi loài hoa có những tính năng, tác dụng khác nhau, nhất là khi chúng được kết hợp với nhau trong cùng một công thức.Bởi vậy, để đảm bảo phát huy triệt để hiệu quả của “tắm hoa liệu pháp” và dự phòng những tác dụng không mong muốn, người ta phải nắm vững đặc tính, công năng của từng loại và thực hành kỹ thuật chuẩn xác. Ví như: có thể chọn hoa tươi hoặc hoa khô, nếu là hoa tươi thì lượng phải lớn hơn. Thông thường, nếu tắm ngâm toàn thân thì cần khoảng 500g hoa tươi (lượng dùng của hoa khô ước khoảng 1/3 lượng dùng của hoa tươi).Nhiệt độ của nước chừng 40oC là vừa, thời gian tắm ngâm ít nhất phải trên 10 phút. Khi tắm ngâm phải hít thở thật sâu và sau đó không cần dùng nước sạch tráng lại để tận dụng triệt để “hương hoa” tự nhiên nhằm đạt được mục đích làm đẹp và giữ gìn sức khỏe.

    BS. Hoàng Xuân Mai (Theo Sức khỏe và Đời sống)
     
  9. mehiuhiu

    mehiuhiu Thành viên nổi tiếng

    Tham gia:
    17/7/2012
    Bài viết:
    4,336
    Đã được thích:
    576
    Điểm thành tích:
    773
    Hnao mình tắm thử mới được :)
     
  10. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Bồ công anh tên khác hoàng hoa địa đinh, cây mũi mác. Lá bồ công anh có vị ngọt, đắng, tính hàn, vào các kinh

    Bồ công anh tên khác hoàng hoa địa đinh, cây mũi mác. Lá bồ công anh có vị ngọt, đắng, tính hàn, vào các kinh: tỳ, vị, thận, đại tràng, tiểu tràng, bàng quang, can đởm. Có tác dụng: thanh nhiệt, giải độc, trị chứng ủng tắc, tán nhiệt kết, tiêu viêm, điều trị các chứng bệnh như: phụ nữ sưng vú đau, ung nhọt vú, đau ngực do can khí uất, các đinh độc ngoài da. Chứng nhiệt lâm sáp thống (viêm đường tiết niệu do bàng quang nhiệt). Chứng đởm khí uất (viêm tắc túi mật không do sỏi), chứng loa lịch (quai bị), viêm họng, chứng mục xích (đau mắt đỏ), chứng phế ung (áp-xe phổi) chứng viêm loét hang vị dạ dày... Liều dùng: ngày uống 8-30g lá khô. Dùng lá tươi giã nhỏ đắp ngoài trị một số bệnh ngoài da như ung nhọt ở vú của phụ nữ khi mới phát, hậu bối mới phát... Thuốc đã phơi khô để vào thùng hoặc lọ, hộp đậy kín tránh mốc mọt, thời gian sử dụng trong 3 tháng, quá thời hạn trên dùng kém tác dụng.Khi dùng để chữa bệnh phải phối hợp với các vị thuốc khác mới có tác dụng.
    Trị viêm phổi: bồ công anh 30g, bại tướng thảo 40g, hoàng cầm 12g, tiền hồ 12g. Sắc uống ngày một thang.
    Chữa phụ nữ vú sưng đau: bồ công anh 120g, sài đất 80g, thông thảo 12g, quả chộp phơi khô (vương bất lưu hành) 30g, gai bồ kết 20g. Sắc uống.
    Trị viêm hang vị dạ dày: bồ công anh 30g, hoàng cầm 8g, bạch thược 12g, uất kim 12g, cam thảo 6g. Sắc uống.

    Chú ý: Bệnh nhân không mắc chứng khí trệ, không sưng nóng thì không được dùng bồ công anh. Người cơ thể gầy còm, già yếu tân dịch kém, trẻ em dưới 6 tuổi khi dùng phải cân nhắc liều lượng.
    Kiêng kỵ: Khi đang dùng bồ công anh để chữa bệnh: không ăn rau muống, đỗ xanh, cay, rượu, bia làm mất tác dụng của thuốc hoặc phản tác dụng.

    TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng (Theo Sức khỏe & Đời sống)
     
  11. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    upload_2015-9-20_21-24-10.png

    Cây cứt lợn - Ageratum conyzoides



    1. Nhân dân thường dùng cây hoa cứt lợn làm thuốc chữa bệnh phụ nữ bị rong huyết sau khi sinh nở: hái chừng 30-50g cây tươi, đem về rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước và uống trong ngày. Uống trong 3-4 ngày.

    2. Tác dụng chữa viêm xoang mũi dị ứng: hái cây tươi về rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước tẩm vào bông. Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau. Hiện nay đã có một số nơi chế thành thuốc sắc sẵn.

    3. Phối hợp với nước bồ kết nấu nước gội đầu vừa thơm vừa sạch gầu trơn tóc.


    Chú ý: đừng nhầm cây cứt lợn với cây bông ổi (ngũ sắc) và cây hy thiêm nhiều nơi cũng gọi là cây cứt lợn. Dùng không đúng cây sẽ cho tác dụng không mong muốn.


    Theo GS Đỗ Tất Lợi (Những Cây thuốc &Vị thuốc VN)
     
  12. snow_rainbow

    snow_rainbow

    Tham gia:
    6/8/2010
    Bài viết:
    21,915
    Đã được thích:
    3,958
    Điểm thành tích:
    2,113
    Cây này đúng là k phải cây cứt lợn mình vẫn biết
     
    viet1986 thích bài này.
  13. thanthuong1992

    thanthuong1992 Thành viên chính thức

    Tham gia:
    21/6/2015
    Bài viết:
    214
    Đã được thích:
    50
    Điểm thành tích:
    28
    em nghe về cây này đã lâu nhuwg k biết là nó chữa bệnh
     
  14. mengocxinh

    mengocxinh Thành viên chính thức

    Tham gia:
    10/11/2010
    Bài viết:
    247
    Đã được thích:
    37
    Điểm thành tích:
    28
    Chữa đi ngoài nữa, giã lá ra cho ít muối uống!
     
  15. nguyenngahvkt

    nguyenngahvkt Thành viên chính thức

    Tham gia:
    26/10/2014
    Bài viết:
    195
    Đã được thích:
    12
    Điểm thành tích:
    18
    Cách phòng tránh bệnh trĩ tốt nhất là thực hiện chế độ ăn uống nghỉ ngơi hợp lý; Ăn nhiều rau củ quả, uống đủ nước, hạn chế sử dụng rượu bia, và những đồ ăn cay nóng....
     
  16. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Đậu ván trắng mát, bổ và giải độc cơ thể
    upload_2015-9-21_21-24-40.png


    Đậu ván trắng là cây trồng lâu đời và phổ biến ở nước ta từ đồng bằng, trung du đến miền núi. Nhân dân trồng đậu ván trắng xen với ngô để khi ngô được thu hoạch thì thân cây ngô lúc này là giá để cho đậu ván trắng leo.

    Đậu ván trắng là cây trồng lâu đời và phổ biến ở nước ta từ đồng bằng, trung du đến miền núi. Nhân dân trồng đậu ván trắng xen với ngô để khi ngô được thu hoạch thì thân cây ngô lúc này là giá để cho đậu ván trắng leo.


    Đó là một nguồn nguyên liệu có giá trị dinh dưỡng cao. Hạt đậu ván trắng chứa 22,7% protid trong đó có các acid amin như arginin, lysin, tryptophan, tyrosin; 57% tinh bột; 1,8% chất béo; các vitamin A, B1, B2, C; đường, các men tiêu hóa.


    Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu của đậu ván trắng là hạt, thu hái vào tháng 8-10, lúc trời khô ráo ở quả chín già, vỏ ngoài có màu vàng, đem về, bóc vỏ lấy hạt, phơi hoặc sấy khô. Hạt tốt phải to, mẩy, hình trứng tròn, màu trắng nhạt hoặc vàng ngà, nhẵn hơi bóng, có khi có chấm đen, ở mép hạt có u lồi màu trắng; chất cứng chắc; không dùng hạt màu tía (đậu ván tía). Khi dùng, để uống hoặc sao qua, sao vàng.

    Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, hạt đậu ván trắng, tên thuốc là bạch biển đậu hay bạch đậu, có vị ngọt, hơi tanh, mùi thơm dịu (khi sao), tính hơi ôn, có tác dụng mát, thanh nhiệt, bổ dưỡng, giải độc, trừ thấp.

    Thuốc mát


    Hạt đậu ván trắng 20g, sao; lá hương nhu 16g; vỏ thân cây hậu phác 12g; sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Chữa cảm sốt, nôn mửa, đầy bụng, tiêu chảy.

    Hạt đậu ván trắng, vỏ quả dưa hấu, thân rễ cây trúc diệp sâm, lá sen, lượng mỗi thứ 12g, cắt nhỏ, phơi khô, sắc uống ngày một thang. Chữa cơ thể nóng hầm hập, nhức đầu, khô cổ, bứt rứt, khó ngủ.

    Thuốc bổ (đặc biệt tốt cho trẻ em)

    Hạt đậu ván trắng, ý dĩ, hoài sơn, hạt sen, đảng sâm, mỗi 100g; nhục đậu khấu, mạch nha, mỗi vị 30g; sa nhân, trần bì, mỗi vị 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, tán rây thành bột mịn, trộn với mật ong làm thành dạng cốm hoặc viên.Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8-10g.Chữa cam tích trẻ em, gầy còm, xanh xao, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa kéo dài, tiêu chảy thất thường.

    Hạt đậu ván trắng, ý dĩ, gạo nếp, mỗi vị 100g; dầu gấc 10ml; sirô vừa đủ. Ba loại hạt sao vàng, tán nhỏ, rây bột mịn, rồi nhào với dầu gấc và sirô để thành một khối bột dẻo, không dính tay. Đem cán mỏng, cắt thành từng bánh, sấy khô. Ngày dùng 25-50g chia làm 3 lần, uống trước bữa ăn.

    Thuốc bổ dưỡng trẻ em, có thể thay cho viên đa sinh tố (poly vitamin).

    Hạt đậu ván trắng (sao), sơn tra, mạch nha, thần khúc, đương quy, phục linh, mỗi vị 45g; hoài sơn (sao) 60g; bạch truật (sao), trần bì, sử quân tử, mỗi vị 20g; hoàng liên, cam thảo, mỗi vị 10g. Tất cả phơi khô, tán bột, rây mịn, trộn với mật làm viên bằng hạt đỗ xanh.Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 3-5g. Thuốc kiện tỳ, tiêu thực, dùng cho trẻ em gầy yếu (Phì nhi hoàn).

    Ngoài ra, hạt đậu ván trắng còn được chế biến thành bột bổ dinh dưỡng dùng cho trẻ rất tốt.

    Thuốc giải độc

    Trong trường hợp bị ngộ độc, để sơ cứu kịp thời, có thể giã nát 20g hạt đậu ván trắng để sống, thêm nước, gạn uống.

    Đậu ván trắng (lá hoặc hạt) phối hợp với lá khế, lá lốt, lượng mỗi thứ 30-50g, để tươi, rửa sạch, vò nát, vắt lấy nước uống, chữa say nấm độc.

    Hạt đậu ván trắng, hà thủ ô đỏ, quế chi, bối mẫu, mỗi vị 10g; bán hạ, bạch chỉ, mỗi vị 6g; hùng hoàng, xuyên sơn giáp, ngũ linh chi, mỗi vị 5g. Tất cả giã nhỏ, ngâm với nửa lít cồn 90o và một lít nước cất. Khi dùng, uống 5-10ml trong một ngày.“Rượu hội”, thuốc chữa rắn cắn cổ điển.

    Ngoài những tác dụng trên, hạt đậu ván trắng 12g, phối hợp với rau má 100g; sa nhân, hoắc hương, hương phụ, hạt mã đề, mỗi vị 8g; gừng 2g; sắc uống còn chữa đau bụng, sôi bụng, tiêu chảy, tiểu tiện ít. Hoặc hạt đậu ván trắng 8g sao vàng, vỏ cây vối 8g, hạt mạch nha 6g, nấu với nước, uống hằng ngày thay nước chè để phòng chứng tiêu chảy ở trẻ em.

    Lá đậu ván trắng và lá hương nhu phơi khô, lượng bằng nhau khoảng 8-10g, nấu nước uống để chữa cảm nắng, mệt nhọc, khát nước, nhất là sau khi làm việc dưới trời nắng nóng. Lá đậu ván trắng để tươi 50g, rửa sạch, vò nát, vắt lấy nước, trộn với mật vịt trắng 1 cái, cho uống làm 2 lần trong ngày, chữa trẻ em sốt cao, co giật.

    DS. Hữu Bảo (Theo Sức khỏe & Đời sống)
     
  17. dauphunhp

    dauphunhp Thành viên rất tích cực

    Tham gia:
    17/7/2012
    Bài viết:
    1,958
    Đã được thích:
    176
    Điểm thành tích:
    103
    Em dân văn phòng sợ bệnh này lắm :(
     
  18. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Lá cây này đun clas sả, lá bưởi, hương nhu, bồ kết gội đầu rất thích, sạch gầu và mượt tóc lắm
     
  19. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Ðể trị chứng mất ngủ, bên cạnh việc điều chỉnh chế độ sinh hoạt, giảm bớt các kích thích căng thẳng, ăn uống, vận động hợp lý,


    Ðể trị chứng mất ngủ, bên cạnh việc điều chỉnh chế độ sinh hoạt, giảm bớt các kích thích căng thẳng, ăn uống, vận động hợp lý, điều độ, hạn chế dùng các chất kích thích... bạn có thể áp dụng một số động tác xoa bóp bấm huyệt vùng bàn tay và bàn chân.
    Xoa bóp tay:
    Ðộng tác 1: Người xoa bóp xát hai bàn tay vào nhau cho nóng lên. Tay trái nắm tay người bệnh, dùng phần gốc bàn tay của tay phải xát lên xuống khoảng 10 đến 20 lần tới khi nóng đỏ lên. Nếu tự xoa bóp thì dùng phần gốc bàn tay này xát lòng bàn tay kia. Lòng bàn tay là nơi tập trung những vùng phản xạ tương ứng với những tạng quan trọng trong cơ thể như tim, thận, dạ dày.
    Ðộng tác 2: Dùng đầu ngón tay cái bấm các huyệt thần môn, trung xung, mỗi huyệt liên tục trong 10 đến 20 giây. Huyệt thần môn nằm ở khe giữa đầu dưới xương trụ và xương đậu, huyệt trung xung ở ngay giữa đầu ngón tay giữa.
    Ðộng tác 3: Dùng đầu ngón cái day ấn vùng phản xạ đầu thống, dùng ngón cái và ngón trỏ day ấn vùng thất miên, mỗi vùng day ấn từ 1 đến 3 phút. Vùng phản xạ đầu thống là nằm ở đầu ngón tay cái, phần lòng bàn tay, để điều trị những bệnh thuộc hệ thần kinh. Vùng phản xạ thất miên là vùng ngay sát gốc ngón trỏ bàn tay về phía lòng bàn tay, để điều trị mất ngủ, ngủ hay mê.
    Ðộng tác 4: Một tay nắm cố định vùng cổ tay người được xoa bóp, tay kia nắm giữa các khớp đốt ngón 1-2 ngón tay, xoay vòng ngược chiều kim đồng hồ vài vòng rồi giật nhẹ một cái. Mỗi ngón tay làm khoảng 20-30 lần, làm cả hai tay.
    Xoa bóp chân:
    Ðộng tác 1: Một tay nắm cố định bàn chân, tay kia uốn cong ngón trỏ, dùng phần khớp nối giữa các đốt ngón day vùng phản xạ hốc trán, vùng phản xạ đại não và vùng thùy chẩm ở bàn chân. Vùng phản xạ hốc não là vùng đầu các ngón chân, có thể điều trị các chứng đau đầu mất ngủ, các bệnh tai - mũi - họng... Vùng phản xạ đại não là vùng lòng ngón chân cái, để điều trị các bệnh đau đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh... Vùng phản xạ thùy chẩm là điểm chính giữa lòng ngón chân cái, điều trị các chứng hay quên, giảm trí nhớ, rối loạn thần kinh thực vật....
    Ðộng tác 2: Một tay cố định phần gót, một tay nắm khum lại, dùng gờ mặt trong ngón tay trỏ miết dọc vùng phản xạ phía ngoài xương gót. Ðây là một vùng chạy dọc bờ sau ngoài gót chân, giới hạn từ đỉnh mắt cá chiếu sang ngang và chiếu thẳng xuống dưới. Hay dùng để điều trị các chứng đau gót chân, đau đầu...
    Ðộng tác 3: Một tay nắm cố định vùng gót chân, dùng đầu ngón tay cái bàn tay kia day theo chiều kim đồng hồ 10 lần, ngược lại 10 lần, toàn bộ thiết diện vùng phản xạ thần kinh ổ bụng. Vùng phản xạ này nằm giữa đoạn nối 1/3 trước và 2/3 sau lòng bàn chân dùng điều trị những trường hợp bệnh thần kinh cơ năng, mất ngủ có biểu hiện rối loạn chức năng tiêu hóa.
    Ðây là những động tác đơn giản có thể dùng để xoa bóp cho người khác hoặc tự xoa bóp cho mình. Trước khi tiến hành xoa bóp tay chân phải rửa sạch sẽ, cắt ngắn móng tay chân, làm từ nhẹ đến mạnh để tránh tổn thương da. Có thể phối hợp với các bài tập xoa bóp vùng đầu mặt để tăng hiệu quả.

    Bác sĩ Trần Văn Thuấn(Nguồn Sức Khỏe & Đời sống)
     
  20. BookingCare

    BookingCare Thành viên chính thức

    Tham gia:
    6/7/2015
    Bài viết:
    169
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    18
    Cá chạch (Misgurnus anguillicaudatus Cantor) thuộc họ cá chạch (Cobitidae), tên khác là cá chạch bùn, cá chạch đồng,
    Cá chạch là loài cá nước ngọt. Thân tròn, dẹt bên, nhất là gần đuôi, dài khoảng 150mm. Đầu nhỏ, hơi tròn, mắt bé, miệng thấp có râu. Da mỏng, dưới da có nhiều tuyến tiết chất nhờn, nên rất trơn nhẵn. Vảy nhỏ, lẫn sâu dưới da nên khó thấy. Vây lưng không có gai cứng, vây ngực và vây bụng ngắn, vây đuôi rộng. Cá có màu vàng, nâu hoặc xám đen. Lưng sẫm hơn bụng. Trên thân có nhiều chấm, mỗi chấm do rất nhiều chấm nhỏ hợp thành. Ở gốc vây đuôi, có một chấm to màu đen, trên vây có nhiều sọc đen song song.

    Cá chạch suối (Noemacheilus pulches) cũng được sử dụng.

    Bộ phận dùng làm thuốc của cá chạch là thịt. Trong 100g thịt cá có 9,6g protid, 3,7g lipid, 2,5g carbohydrat, 28mg Ca, 72mg phosphor, 0,9mg sắt; các vitamin A, B1, B2 và acid nicotinic.

    Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, cá chạch được dùng với tên thuốc là thu ngư hay du ngư, nê thu. Sách Dược tính chỉ nam ghi: thu ngư rang hay nấu đều ăn rất ngon, nấu với bột gạo thành cháo mà ăn có tác dụng điều trung, ích khí, chữa được chứng trĩ, lại giải được chứng háo khát và làm cho những người say rượu tỉnh ngay.

    Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) và Hải Thượng Lãn Ông (Lĩnh nam bản thảo) cũng ghi dược liệu thu ngư (cá chạch) có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng mạnh dương, bổ khí huyết, tiêu khát, giải rượu, sát khuẩn, chữa nóng trong, khát nước, liệt dương, viêm gan, trĩ, ghẻ lở.

    Dạng dùng thông thường là thức ăn - vị thuốc được chế biến như sau: làm sạch cá, rửa cho hết nhớt, cắt bỏ đầu và đuôi, chặt từng khúc rồi nấu cháo hoặc làm canh ăn đều hằng ngày. Có thể đem cá sấy khô, tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g với nước ấm.

    DS. Hữu Bảo ( Theo Sức khỏe & Đời Sống)
     

Chia sẻ trang này