Điều Trị Phục Hồi Di Chứng Tai Biến Mạch Máu Não

Thảo luận trong 'Sức khỏe gia đình' bởi Trần Vinh Hiếu, 19/7/2018.

  1. Trần Vinh Hiếu

    Trần Vinh Hiếu Thành viên tập sự

    Tham gia:
    16/7/2018
    Bài viết:
    1
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

    Theo Tổ chức Y tế thế giới (1993) tai biến mạch máu não (TBMN) hay đột quỵ là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chỉ đứng sau bệnh tim mạch và ung thư. Hàng năm, tại Mỹ có khoảng 730000 ca đột quỵ, tỷ lệ tử vong chiếm tới 27%. Tại Viện Tim mạch Việt nam (19962000) tính trung bình cứ 2 ngày có một bệnh nhân vào viện vì TBMN. Tử vong do TBMN chiếm 1/4 tỷ lệ tử vong chung tại Viện Tim mạch. Ngay tại các nước phát triển, TBMN vẫn là một biến chứng nặng, dễ tử vong, ảnh hởng lớn tới sức khoẻ, tâm thần và đời sống ngời bệnh, các di chứng tàn phế trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội.
    TBMN gặp ở nam nhiều hơn nữ giới, hay gặp ở lứa tuổi trung niên (> 40 tuổi). Tuổi của những bệnh nhân TBMN có liên quan đến tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim hay xơ vữa động mạch thờng lớn hơn bệnh nhân TBMN có liên quan đến bệnh van tim hay viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. TBMN xảy ra ở bất kỳ giờ nào trong ngày và bất cứ mùa nào trong năm, song thờng xảy ra 110 giờ sáng và vào các tháng nóng nhất (tháng 7, 8) hay lạnh nhất (tháng 12,1 theo thống kê của Viện Tim mạch Việt nam).

    [​IMG]

    Tai biến mạch máu não là hậu quả của những bệnh tim mạch như tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, rối loạn nhịp tim trong các bệnh về van tim.

    Nhiều năm trước đây, người ta cho rằng “tai biến mạch máu não là cách kết thúc cuộc đời người già”. Ngày nay, với phương tiện chẩn đoán hiện đại và nhiều loại thuốc mới có hiệu quả là những lý do giúp cho dự phòng và điều trị có hiệu quả tai biến mạch máu não.

    Tai biến mạch máu não là hậu quả của những bệnh tim mạch như tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, rối loạn nhịp tim trong các bệnh về van tim. Tai biến mạch máu não gồm 3 loại: Cơn thiếu máu thoáng qua; nhũn não; xuất huyết não.

    1. Di chứng tai biến mạch máu não

    - Liệt nửa người (Bán thân bất toại)

    [​IMG]

    - Rối loạn ngôn ngữ (Thất ngôn)

    [​IMG]

    - Rối loạn chức năng cơ tròn: Tiểu tiện không tự chủ, đại tiện không tự chủ

    - Chóng mặt ù tai

    - Sa sút trí tuệ

    2. Các phương pháp điều trị

    2.1. Điều trị phục hồi di chứng

    2.1.1. Phương pháp điều trị không dùng thuốc

    - YHCT:

    + Châm cứu: Châm cứu liệu pháp bao gồm cả 2 bộ pháp: châm và cứu. Đối với trúng phong đều có hiệu quả rõ rệt. Giai đoạn nào của bệnh cũng có thể sử dụng châm cứu.

    (1) Điều trị di chứng Liệt mặt trung ương (Khẩu nhãn khẩu oa tà): châm tại các huyệt: Phong trì, Thái dương, Hạ quan, Địa thương, Giáp xa, Hợp cốc bên lành, Thượng tinh, Bách hội, Phong trì, ấn đường, Kim tân, Ngọc dịch, Thiên trụ, Liêm tuyền, Thông lý

    (2) Điểu trị di chứng Liệt ½ người:

    Liệt chi trên: châm tại các huyệt: Phong trì, Cực tuyền, Xích trạch, Hợp cốc, Bát tà, Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan.

    Liệt chi dưới: châm tại các huyệt: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Ủy trung, am âm giao, Côn lôn.

    Đau khớp vai: châm tại các huyệt: Kiên ngung, Nhân trung, Kiên trinh, Kiên trung du, Kiên ngoại du, Điền khẩu, a thị huyệt.

    + Các biện pháp châm cứu khác thường dùng các huyệt như Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc, Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Huyết hải, Thái xung. Về đường kinh nên lấy thủ túc dương mình làm kinh chủ. Mỗi lần chọn 2-3 cặp huyệt, châm đắc khí rồi cho thông điện. Tùy theo bệnh trạng hư thực mà điều chỉnh tần số, cường độ và thời gian kích thích cho phù hợp.

    (1) Thủy châm: Thường dùng các huyệt như Giáp tích tương ứng với chi liệt , Kiên ngung, Thủ tam lý, Thừa sơn, Dương lăng tuyền, Giải khê. Thuốc thủy châm là sinh tố nhóm B, ATP.

    (2) Đầu châm: lựa chọn vị trí châm ở da đầu tương ứng với vùng vận động, vùng cảm giác, vùng ngôn ngữ.. trên vỏ não bên đối diện với chi liệt. Ví dụ chân phải liệt châm 1/5 trên vùng vận động bên trái, tay trái rối loạn cảm giác châm 2/5 giữa vùng cảm giác bên phải…

    (3) Nhĩ châm: Chọn các huyệt trên loa tai như tuyến thượng thận, tâm, can, não, dưới vỏ, thần môn, hư chứng thì già kim, thực chứng thì dùng kích thích mạnh như xung điện không xuyên qua da, điện châm, thủy châm, chích huyết…

    (4) Cấy chỉ: Thường chọn các huyệt như Túc tam lý, Dương lăng tuyền, Thừa sơn, Tam âm giao… Mỗi lần cấy 1-3 huyệt bằng chỉ Catgut. Chủ yếu chỉ định trong giai đoạn di chứng.

    + Xoa bóp bấm huyệt và tập luyện

    Có công dụng thúc đẩy khí huyết vận hành, điều hòa kinh mạch và công năng các tạng phủ rất có lợi cho sự phục hồi chức năng của chi có thể bị liệt.

    Bộ vị cần xoa bóp là vùng đầu mặt lưng và các chi, trọng tâm là bên liệt. Các huyệt nên chú ý day khi xoa bóp là Phong trì, Kiên tỉnh, Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Thủ tam lý (chi trên), Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Huyết hải, Phong thị, Ủy trung, Thừa sơn, Côn lôn, Giải khê (chi dưới), Thái dương, Toản trúc, Ế phong, Giáp xa, Địa thương ( mặt).

    Tiến hành cho bệnh nhân tập sớm từ thụ động đến chủ động tùy theo tình trạng của bệnh nhân.

    - PHCN:

    + Một số điểm cần lưu ý:

    Cần loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não: hút thuốc, căng thẳng, thói quen ăn mặn..

    Điều trị các bệnh có thể trực tiếp hay gián tiếp gây TBMMN: tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường, mỡ máu cao…

    Việc phục hồi chức năng cần toàn diện và tiến hành sớm

    PHCN đối với bênh nhân TBMMN

    (1) Đặt tư thế người bệnh TBMMN:

    Người bệnh cần đặt tư thế đúng để giảm bớt mẫu co cứng, đề phòng biến dạng khớp.

    Nằm ngửa: vai và hông bên liệt được kê gối mềm, gối gập nhẹ, cổ chân kê vuông góc với cẳng chân

    [​IMG]

    Nằm nghiêng:

    Nằm nghiêng sang bên liệt: vai bên liệt gập, cánh tay duỗi vông góc với thân, thân mình nửa ngửa, chân liệt duỗi. Tay lành để trên thân hoặc gối đỡ phía lưng. Chân lành gập ở háng và gối.

    [​IMG]


    Nằm nghiêng bên lành: vai và cánh tay bên lành để tự do, chân bên lành duỗi. Thân mình vuông góc với mặt giường. Tay liệt có gối đỡ để vuông góc với thân. Chân liệt có gối đỡ ở tư thế gấp háng và gối.

    [​IMG]

    (2) Tập hoạt động sinh hoạt hàng ngày:

    Thay quần áo

    Di chuyển từ giường sang ghế và ngược lại

    Tập đứng dậy

    Tập thăng bằng

    (3) Tập theo tầm vận động khớp

    (4) Các động tác người bệnh tự lập

    Nâng hông lên khỏi mặt giường

    Tập cài tay đưa lên phía đầu

    (5) Tập phục hồi các cơ bên liệt

    Ức chế trương lực cơ tay

    Ức chế trương lực cơ chân

    Tập gấp háng

    Tập mạnh cơ duỗi gối

    (6) Tập đi và di chuyển độc lập

    3.2. Điều trị phòng ngừa

    + Thuốc YHCT

    (1) Liệt nửa người:

    Bài thuốc: Bổ dương hoàn ngũ thang

    Quy vĩ

    12g

    Địa long

    12g

    Xuyên khung

    10g

    Xích thược

    12g

    Hoàng kỳ

    12g

    Hồng hoa

    08g

    Đào nhân

    08g



    Nếu méo mồm, liệt 1/2 người thì gia: Cương tàm, Bạch phụ tử, Toàn yết.

    Nói năng ngọng nghịu gia: Xương bồ, Viễn chí.

    Đại tiện táo bón gia: Mạch môn, Hạnh nhân, Đại hoàng.

    Tiểu tiện không tự chủ gia: Thục địa, Sơn thù, Nhục quế, Ngũ vị.

    Nếu liệt 1/2 người đã lâu, mạch hư hoãn, yếu ớt thì bội Hoàng kỳ. Nếu bệnh nhân bị bệnh chưa lâu, tà khí còn thịnh, chính khí chưa suy, mạch huyền hoạt thì không dùng Hoàng kỳ. Nếu liệt lâu ngày đã dùng Đào nhân, Hồng hoa, Quỹ vĩ để hoạt huyết mà hiệu quả không đạt thì dùng Thủy điệt nướng cháy và Manh trùng để phá ứ, thông kinh lạc. Nếu hai chân rã rời không cựa được thì dùng thuốc bổ can thận như: Tang ký sinh, Tục đoạn, Ngưu tất, Địa hoàng, Sơn thù, Tỏa dương, Nhục thung dung.

    (2) Nói năng ngọng ngịu

    Bài thuốc: Giải ngữ đan gia giảm

    Bạch phụ tử

    08g

    Khương hoạt

    12g

    Thạch xương bồ

    06g

    Nam tinh

    08g

    Viễn chí

    08g

    Mộc hương

    08g

    Thiên ma

    08g

    Cam thảo

    04g

    Toàn yết

    04g



    Thiên ma, Toàn yết, Nam tinh để bình can tức phong, hóa đàm; gia Viễn chí, Xương bồ, Uất kim, Mộc hương để khai khiếu lợi khí, thông lạc; dùng thuốc lâu mới có hiệu quả.

    + Thuốc YHHĐ

    4. Đặc điểm của quá trình phục hồi:

    - Liệt mặt phục hồi khá nhanh nhưng không bao giờ hoàn toàn. Gốc chi phục hồi sớm, ngọn phục hồi muộn, chân phục hồi nhanh hơn tay, động tác đơn giản phục hồi dễ, động tác khó phục hồi khó và chậm. Dù bị nặng hay nhẹ không bao giờ phục hồi lại hoàn toàn như bình thường, bao giờ cũng để lại ít nhiều di chứng như giảm sức cơ, giảm hiệp đồng phức tạp, giảm phản ứng nhanh, tư thế đi không đồng bộ.

    - Thời gian phục hồi sau tai biến thường đạt kết quả tối đa trong năm đầu, qua 1 năm phục hồi vận động hạn chế và rất chậm. Các rối loạn về tâm thần thường ảnh hưởng đến quá trình phục hồi vận động và thường gặp 3 loại:

    + Loại hung phấn: chịu khó, tích cực luyện tập đạt kết quả cao.

    + Loại trầm cảm: thờ ơ, chán nản, ít chịu khó luyện tập, kết quả thường kém và chậm.

    + Loại rối loạn tâm thần nhẹ: có ít nhiều băn khoăn, cần luôn động viên và củng cố lòng tin.

    - Chế độ sinh hoạt hợp lý, điều độ.

    Bs Trần Vinh Hiếu (sưu tầm và biên soạn)

    099.3797.996

     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi Trần Vinh Hiếu
    Đang tải...


Chia sẻ trang này