KIẾN THỨC Y TẾ - PHÒNG CHỐNG BỆNH CHO GIA ĐÌNH

Thảo luận trong 'Sức khỏe gia đình' bởi Cantho, 23/4/2006.

  1. Cantho

    Cantho Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    9/12/2005
    Bài viết:
    115
    Đã được thích:
    10
    Điểm thành tích:
    18
    Có những thông tin về y tế - các loại bệnh thường xảy ra ngày nay mà chắc hẳng các mẹ sẽ chưa biết phải không ? Em xin đưa lên chủ đề mới về các thông tin về y tế , chăm sóc sức khỏe , dinh dưỡng phòng chống bênh....Rất mong các bố mẹ cùng hưởng ứng để chúng ta sẽ cùng có thêm kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho gia đình .
    Bây giờ em xin giới thiệu một vài bài em sưu tầm dưới đây :

    "Bài 1: Ăn uống với bệnh máu nhiễm mỡ "


    Lượng mỡ trong máu tăng cao liên quan chặt chẽ với chế độ ăn uống của chính bạn. Cách điều trị đơn giản và hiệu quả nhất là trong bữa ăn hàng ngày, bạn cần chú ý mấy điểm sau:

    Không nên ăn sau 8h tối

    Những nguời bị máu nhiễm mỡ nếu ăn tối quá muộn mà lại ăn thức ăn nhiều đạm thì rất khó tiêu hoá và sẽ làm lượng cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch.

    Nên ăn nhạt vì thức ăn này có lợi cho sức khoẻ và bệnh tim. Kiêng thức ăn có nồng độ chất béo cao, nên ăn những thức ăn ít chất béo như cá, đậu phụ, đỗ tương.

    Nên ăn thực phẩm có nhiều tác dụng giảm mỡ trong máu như: Gừng, chế phẩm đậu sữa, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây, ba ba, trà, dầu ngô.

    Thông thường bữa ăn tối nên ăn vào 7h là hợp lý.

    Tăng cường rau xanh và ngũ cốc

    Trong rau xanh có chứa nhiều vitamin C có thể làm giảm lượng cholesterol trong máu và ngăn ngừa bệnh xơ cứng động mạch. Ngoài ra, trong rau xanh có chứa chất xơ, người ăn nhiều rau thì lượng axit cholic để phân giải cho cholesterol trong phân tương đối cao. Từ đó làm giảm lượng cholesterol trong máu.

    Trong đậu, ngũ cốc, quả cứng có chứa mangan, crômi có thể phòng chống bệnh xơ cứng động mạch. Rong biển có chứa hàm lượng iốt cao có thể ngăn ngừa mỡ bám vào thành động mạch. Đặc biết những người máu nhiễm mỡ cần tránh xa thuốc lá.

    Các món ăn có tác dụng làm giảm mỡ trong máu:

    Cách 1: Lấy 30g tỏi tím đã bóc vỏ cho vào nồi nước sôi đun trong một phút rồi vớt ra. Sau đó cho 100g ngô cứng vào nồi nước đun tỏi nấu nhừ. Cuối cùng cho tỏi trở lại vào nồi này đun tiếp một vài phút. Hỗn hợp thu được dùng để uống vào buổi sáng và tối.

    Cách 2: Dùng 1- 2 lá sen tươi sắc lấy nước để uống.

    Cách 3: Cho một lượng nước vừa đủ vào 30- 60g bột ngô, trộn thành hồ đun chính cho dầu vừng, hành, gừng, muối, gia vị rồi ăn.

    (Theo Dân Trí)

    Sưu tầm từ internet
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi Cantho
    Đang tải...


  2. Cantho

    Cantho Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    9/12/2005
    Bài viết:
    115
    Đã được thích:
    10
    Điểm thành tích:
    18
    Bài 2: Ung thư mi mắt

    Ung thư mi mắt (ung thư mi) là bệnh ít gặp trong bệnh lý về mắt, ít được mọi người biết đến nên bệnh nhân thường đến điều trị ở giai đoạn muộn. Tuy nhiên, bệnh có thể được chữa khỏi hoàn toàn nếu phát hiện sớm và chữa trị kịp thời.

    Cũng như nhiều bệnh ung thư khác, nguyên nhân gây ung thư mi chưa được xác định rõ, nhưng qua nhiều nghiên cứu người ta thấy rằng: Các yếu tố nguy cơ gây ung thư da nói chung và ung thư mi nói riêng có thể kể đến tia tử ngoại (tia cực tím) có trong ánh nắng mặt trời, một số hóa chất như các chất chiết xuất từ dầu mỏ nhựa đường, xăng, các muối arsenic… Trong ung thư mi, có nhiều loại khác nhau vì có nguồn gốc mô học khác nhau nên có triệu chứng và độ ác tính khác nhau, do đó tiên lượng và phương pháp điều trị cũng khác nhau. Hai loại ung thư mi hay gặp nhất là ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư biểu mô tuyến bã.

    Triệu chứng và chẩn đoán

    Triệu chứng của ung thư mi còn phụ thuộc vào loại ung thư mi, tuy nhiên các triệu chứng của bệnh có thể là:

    Một vết loét ở da mi, bờ xung quanh nổi gồ đen, lâu lành mặc dù đã được điều trị, có thể tạm khỏi rồi lại tái phát, thường nghĩ đến ung thư biểu mô tế bào đáy.

    Xuất hiện thành cục ở da mi, có thể có loét hay không có loét da mi, có sắc tố hoặc màu trắng nhợt, có giãn mạch…

    Một mảng da mi cứng như “tờ bìa”, ranh giới với vùng xung quanh không rõ.

    Khi một nốt ruồi thay đổi tính chất như: To nhanh, ngứa, thay đổi màu sắc hoặc loét rỉ máu thì phải nghĩ đến u hắc tố ác tính.

    Đôi khi, bệnh biểu hiện như một “chắp” tồn tại dai dẳng, tái đi tái lại nhiều lần hoặc một lần hoặc một cục làm loét kết mạc mi (mặt trong của mi). Trường hợp này cần nghĩ đến một ung thư biểu mô tuyến bã.

    Các trường hợp u lymphô ác tính ở mi mắt thường làm cho mi dày lên mà không gây loét da mi cũng như không gây loét kết mạc mi.

    Để chẩn đoán xác định bệnh ung thư mi, cần làm sinh thiết cắt một mẩu nhỏ mô vùng tổn thương và làm xét nghiệm giải phẫu bệnh. Xét nghiệm giải phẫu bệnh không những có thể chẩn đoán xác định tổn thương đó có phải là ung không mà còn xác định được loại ung thư để từ đó đưa ra phương pháp điều trị thích hợp. Riêng đối với các trường hợp nghi ngờ u hắc tố ác tính, vì tính chất dễ di căn của bệnh, để có chẩn đoán xác định thì tốt nhất là phẫu thuật lấy bỏ rộng tổn thương với mục đích chẩn đoán và điều trị luôn.

    Điều trị

    Phẫu thuật: Phẫu thuật cắt bỏ khối u là phương pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong điều trị ung thư mi. Đối với một số trường hợp ung thư mi như ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vẩy, khi được phát hiện sớm có thể được chữa khỏi bằng phương pháp phẫu thuật cắt hết toàn bộ khối ung thư.

    Hóa chất: Dùng để điều trị u lymphô ác tính hoặc phối hợp với phẫu thuật để điều trị các loại ung thư mi khác như ung thư biểu mô tuyến bã, u hắc tố ác tính và ung thư biểu mô tế bào vẩy khi u lan rộng hoặc di căn.

    Xạ trị: Điều trị bằng tia đối với các ung thư mi cũng có một số hạn chế như khó che chắn để bảo vệ nhãn cầu hoặc có loại ung thư mi không nhạy cảm với tia như ung thư biểu mô tế bào vẩy.

    Lạnh đông: Phương pháp này ít được sử dụng do tỷ lệ tái phát cao và có thể ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ như gây mất sắc tố da, teo mô, nếu có thể chỉ dùng cho loại ung thư biểu mô tế bào đáy.

    Phòng bệnh

    Cơ bản nhất là tránh tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời, đặc biệt trong khoảng thời gian 10-14 giờ là thời gian có nhiều tia tử ngoại nhất. Khi phải tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thì cần che tránh nắng như đội mũ rộng vành, đeo kính râm, khăn che mặt…

    Trong điều kiện làm việc phải tiếp xúc với hóa chất thì phải có quần áo bảo hộ lao động, kính bảo hộ, găng tay…

    Khi có triệu chứng như: Có u cục bất thường ở mi mắt, vết loét da mi lâu lành, nốt ruồi tự nhiên to nhanh và đổi màu, “chắp” dai dẳng ở người lớn tuổi… thì cần đến ngay cơ sở y tế chuyên về mắt hoặc u bướu để được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

    BS. THS. Hoàng Anh Tuấn - Bệnh viện Mắt Trung ương (Tạp chí Sức Khỏe & Đời Sống)

    ST
     
    bocau1208 thích bài này.
  3. Cantho

    Cantho Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    9/12/2005
    Bài viết:
    115
    Đã được thích:
    10
    Điểm thành tích:
    18
    10 cách ngừa cúm hiệu quả

    MƯỜI CÁCH NGỪA CÚM HIỆU QUẢ

    Mỗi năm ở Mỹ có tới 50.000 người chết vì bị viêm phổi, biến chứng từ bệnh cúm. Triệu chứng thường thấy khi bị cúm là ho khan, đau họng, đau nhức đầu, đau nhức bắp thịt, mệt nhiều, ớn lạnh, sốt, mỏi mắt.

    1. Tiêm vacxin

    Ngay từ tháng 5 hàng năm, hãy chích một mũi vacxin chống cúm, cách này hiệu quả và an toàn nhất. Đối với người trên 65 tuổi cần được bác sĩ kiểm tra sức khỏe kỹ trước khi thực hiện tiêm ngừa.

    2. Tránh đám đông

    Tránh môi trường ô nhiễm, nơi đông người. Nhà ga, bến tàu, bến xe đông đúc là nơi vi khuẩn cúm lây lan nhanh nhất. Cách tốt nhất là hạn chế tiếp xúc để tránh bị lây nhiễm virus.

    3. Đừng truyền “bọ” cúm đi xa hơn

    Nếu bạn phải sống trong môi trường có khả năng nhiễm virus cúm cao hãy cố gắng đừng đến gần những người bị cúm, nhất là trẻ em vì chúng dễ lây cúm nhanh hơn cả.

    4. Thuốc kháng cúm

    Một số người dị ứng với các liều vacxin có thể dùng thuốc chống dị ứng ngay khi thấy có khả năng lây nhiễm từ người khác.

    5. Chống stress

    Suy nhược cơ thể và stress cũng khiến các virus cúm nhanh chóng tấn công. Vì thế, để chống cúm, bạn hãy nghỉ ngơi ngay khi cảm thấy dấu hiệu của sự mệt mỏi xâm nhập.

    6. Tập thể dục

    Biện pháp này chẳng phải là liều vacxin nhưng dù sao ở một thân thể tráng kiện đầy sức sống, sức đề kháng cao và chế độ ăn uống hợp lý cũng sẽ đẩy lùi đáng kể các chú virus đáng ghét luôn lăm le đến gần.

    7. Không hút thuốc và tránh môi trường khói thuốc

    Khói thuốc và môi trường khói thuốc là nơi sản sinh nhanh nhất các virus cúm. Cộng hưởng các “phần tử xấu” với nhau, khói thuốc và cúm sẽ đốn ngã bất kỳ lực sĩ nào.

    8. Hãy rửa tay

    Rửa tay mọi lúc, mọi nơi nếu có thể, đây là ổ vi trùng lớn nhất có thể xâm nhập vào cơ thể bạn bất kỳ lúc nào và mang theo chúng cả những virus cúm đấy.

    9. Đừng khịt mũi

    Bạn sẽ khiến bệnh cúm trở nên trầm trọng hơn nếu cứ phồng mũi lên thở khò khè. Hãy cố đừng làm cho xoang mũi khó chịu bằng cách day nhẹ tay lên hai huyệt ngay hai cánh mũi hoặc dùng thuốc nhỏ thông mũi liên tục.

    10. Theo dõi tin tức

    Theo dõi tin tức trên báo chí để biết những nơi có dịch cúm để đề phòng. Đồng thời, tự bảo vệ mình bằng kiến thức y khoa căn bản, biết cách phòng chống khi chưa bị cúm và cách chữa trị hiệu quả nhất ngay khi có dấu hiệu bị cúm.

    Lưu ý: Bình thường chúng ta có thể tự chữa trị ở nhà. Nhưng, nếu thấy khó thở, ho nhiều, có đờm màu vàng - xanh thì cần phải tới bác sĩ khám bệnh, vì bệnh cúm có thể đã biến chứng thành viêm phổi.

    (Theo Đẹp)

    ST
     
    bocau1208 thích bài này.
  4. Cantho

    Cantho Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    9/12/2005
    Bài viết:
    115
    Đã được thích:
    10
    Điểm thành tích:
    18
    Bài 4- Lưu ý khi sử dụng thuốc 3B

    Trên thị trường hiện nay có rất nhiều thuốc 3B với hàng trăm tên biệt dược khác nhau. Một số thuốc có thành phần giống nhau, có cả 3 vitamin nhưng khác nhau về hàm lượng của mỗi hoạt chất.

    Đặc biệt, một số biệt dược 3B phối hợp ở liều cao gấp hàng nghìn lần nhu cầu bình thường, dùng điều trị các chứng đau dây thần kinh, rất hay được các phọ̀ng khám tư sử dụng.

    3B là tên gọi tắt của các loại thuốc uống, thuốc tiêm mà trong thành phần có thiamin (vitamin B1), pyridoxin (vitamin B6) và cyanocobalamin (vitamin B12).

    Vậy, khi dùng các loại thuốc 3B, cần lưu ý điều gì?

    Công dụng và những lưu ý về tiền sử dị ứng, hàm lượng

    Ba vitamin nhóm B kể trên đều là những vitamin thiết yếu, tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa trong cơ thể. Các vitamin này đều tan trong nước, có trong các loại rau tươi, quả, củ, men bia, thực phẩm... và được cung cấp cho cơ thể qua đường tiêu hóa.

    Trong điều trị, loại thuốc này thường được dùng để pḥòng và điều trị bệnh thiếu vitamin nhóm B với các biểu hiện như kém ăn, suy nhược cơ thể, thiếu máu, tê phù, đau dây thần kinh...

    Thuốc dạng tiêm được dùng phổ biến hiện nay là becomplex hoặc trivit B. Nhiều biệt dược ngoại nhập khá đắt tiền như terneurin H5000, Neurobion, Becofort...

    Ngoài tác dụng điều trị kể trên, các loại thuốc tiêm 3B liều cao còn được dùng điều trị các chứng đau thần kinh không rõ nguyên nhân, viêm dây thần kinh, đau dây thần kinh tọa, đau lưng, rối loạn do nghiện rượu lâu ngày...

    Tuy nhiên khi sử dụng các chế phẩm thuốc tiêm 3B cần lưu ý tiền sử dị ứng của người dùng thuốc với các thành phần của thuốc. Vitamin B1, B12 có thể gây sốc phản vệ chết người.

    Các thuốc tiêm 3B chỉ sử dụng khi có chỉ định của thầy thuốc và cần chú ý cách đưa thuốc vào cơ thể sao cho an toàn nhất. Đồng thời chuẩn bị các phương tiện cấp cứu có sẵn để đề phòng tình trạng quá mẫn cảm với thuốc. Vì vậy việc sử dụng vitamin 3B dạng tiêm chỉ nên thực hiện trong các cơ sở y tế có nhân viên được đào tạo và có bác sĩ theo dõi. Không nên lạm dụng các loại thuốc này như là một loại thuốc bổ có thể dùng cho mọi người.

    Cần lưu ý khi sử dụng và bảo quản các loại viên thuốc 3B. Thuốc rất dễ bị ẩm mốc ngay cả khi vỉ thuốc vẫn còn kín do độ ẩm của nước ta khá cao. Các thuốc vitamin 3B dạng tiêm được khuyến cáo chỉ nên dùng để tiêm bắp, không được tiêm tĩnh mạch.

    Dạng thuốc uống vitamin 3B có nhiều dạng bào chế như viên nén, viên bao phim, viên capsule... Người dùng thuốc cần lưu ý đến hàm lượng của từng loại vitamin trong mỗi chế phẩm.

    Sự phối hợp thuốc và lượng dùng

    Các thuốc 3B rất hay được dùng kèm với thuốc kháng sinh trong các đơn thuốc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Các loại thuốc 3B này lại thường đặt tên biệt dược khác nên nhiều người không biết đó là các vitamin nhóm B.

    Đă có trường hợp bệnh nhân có tiền sử dị ứng với B1, cứ uống vitamin B1 vào là người nổi mẫn đỏ. Nhưng do không biết loại viên thuốc tên là neurozinceng 3B có vitamin B1 trong thành phần nên đă bị dị ứng khi dùng thuốc này. Vì vậy cần thận trọng khi dùng thuốc 3B bổ trợ.

    Theo GS. Hoàng Tích Huyền, bộ môn Dược lâm sàng Đại học Dược Hà Nội, nếu dùng đồng thời vitamin B1 với vitamin B6 thì pyridoxin sẽ ngăn cản quá trình photphorin hóa của thiamin, tức là cản trở vitamin B1 chuyển thành dạng có hoạt tính sinh học. Đây là một tương tác đối kháng hóa học nên tránh.

    Tuy nhiên trong thực tế, trên thị trường hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều các dạng thuốc 3B với tỉ lệ phối hợp các vitamin rất khác nhau. Cũng theo GS. Huyền, nếu trộn lẫn vitamin B1 với vitamin B12 trong một bơm tiêm sẽ có khả năng tạo thành sản phẩm gây dị ứng cho người dùng thuốc. Không nên trộn vitamin B12 với bất cứ một vitamin nào vì nó sẽ phá hủy các vitamin khác.

    Nếu không thật sự cần thiết, không nên sử dụng chế phẩm phối hợp 3B mà nên sử dụng các thuốc riêng lẻ của mỗi loại vitamin.

    (Theo Sức khỏe và Đời sống)
    ST
     
  5. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153
    Top 10 loại thức ăn tốt cho phụ nữ

    Giữ gìn sắc đẹp và vẻ tươi trẻ là ước muốn muôn đời của chị em phụ nữ. Ngoài việc tập luyện thể dục thể thao, áp dụng các công thức làm đẹp... thì chế độ ăn uống giữ vai trò rất quan trọng trong việc "bảo dưỡng" sức khỏe và sắc đẹp.

    Dưới đây là top 10 loại thức ăn tốt mà mỗi phụ nữ cần kết hợp trong chế độ ăn hàng tuần để đảm bảo cho dù mỗi năm thêm một tuổi thì họ vẫn giữ được sự khoẻ mạnh và vóc dáng mảnh mai.

    1. Protein đậu nành: được tìm thấy có trong các sản phẩm như đậu hũ và sữa đậu nành cho đến bơ đậu nành và ngũ cốc. Protein đậu nành rất tốt cho tim (giúp giảm lượng cholesterol “xấu”) và giàu phytonutrients. Hãy dùng đủ 25gr protein đậu nành mỗi ngày.

    2. Gạo nguyên chất: giàu chất xơ và do đó giúp phòng tránh các vấn đề ở hệ tiêu hoá. Hãy kết hợp dùng nhiều gạo nguyên chất trong chế độ ăn của bạn (gạo lứt, lúa mạch…).

    3. Những thức ăn giàu folate như măng tây, cam, ngũ cốc và đậu. Folate rất quan trọng trong thai kỳ để đảm bảo cho sự phát triển thích hợp của ống thần kinh của thai nhi. Nó cũng rất quan trọng cho sức khoẻ của tim. Hãy đảm bảo 400 microgram (mcg) folate mỗi ngày.

    4. Trái nam việt quất và nước ép nam việt quất. Các proanthocyanidin có trong trái nam việt quất giúp ngăn chặn vi khuẩn bám vào thành ruột, do đó giúp tránh nhiễm trùng đường tiểu. Các nghiên cứu mới đây cũng cho thấy trái nam việt quất có thể tăng cường sức khoẻ tim mạch.

    5. Nước: tuy không phải là thức ăn nhưng nước có vai trò quan trọng trong tất cả quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Nó cũng có ích cho hệ tiêu hoá, giúp giảm cân và cải thiện làn da. Uống 8-10 ly nước mỗi ngày, ăn nhiều thức ăn có nhiều nước như trái cây và một số loại rau củ cũng giúp thu nạp đủ lượng nước cần cho cơ thể.

    6. Quả hạch giàu chất béo monounsaturated có thể giúp giảm giảm lượng cholesterol “xấu” và chất béo polyunsaturated có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim. Thêm vào đó, quả hạch còn là nguồn thức ăn giàu protein, canxi, phosphorus, kẽm, đồng, selenium, folate, vitamin E và vitamin A. Tuy nhiên chúng có nhiều calori, vì vậy hãy giới hạn chỉ ăn 28,3g mỗi ngày. Cụ thể: ăn 28 hạt đậu phộng, 14 quả óc chó và chỉ 7 hạt đậu Brazil.

    7. Rau cải xanh rậm lá: như cải xoăn, rau diếp... Chúng cung cấp nhiều dưỡng chất quan trọng như chất xơ. Hãy ăn 20-35gr mỗi ngày. Ăn ít nhất 3 phần rau cải mỗi ngày.

    8. Trái cây giàu vitamin C: gồm cam quýt, dâu tây, tiêu đỏ và xanh, bông cải, cây bông cải xanh, rau bina, cà chua, khoai tây, ổi, rau mùi tây. Chúng là những chất chống oxy hoá, rất tốt cho sức khoẻ, giúp giảm nguy cơ bệnh tim vành. Hãy ăn 2-3 (hoặc nhiều hơn) phần trái cây mỗi ngày.

    9. Thức ăn giàu chất sắt: do chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng mà phụ nữ cần nhiều chất sắt hơn. Các thức ăn giàu sắt có đậu, thịt bò nạc, củ cải Thụy Sĩ, đậu hũ và mơ khô. Phụ nữ cần 12-15 milligram sắt mỗi ngày so với chỉ 10-12 milligram ở nam giới.

    10. Thức ăn giàu canxi: canxi giúp xương chắc khoẻ và ngừa loãng xương. Lựa chọn tốt nhất là các sản phẩm ít béo, rau cải xanh đậm lá rộng (cải xoăn, cây bông cải xanh...), các sản phẩm đậu nành củng cố canxi và đậu hũ, nước ép trái cây củng cố canxi và gạo củng cố canxi. Hãy theo dõi danh sách bên dưới để lựa chọn lượng canxi cần cho cơ thể bạn mỗi ngày:

    4-8 tuổi: 800 milligram

    9- 13 tuổi: 1.300 milligram

    14- 18 tuổi: 1300 milligram

    19- 50 tuổi: 1.000 milligram

    51- trên 70 tuổi: 1200 milligram

    (Theo Tuổi Trẻ)
     
  6. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153
    Viêm thanh quản mùa lạnh


    Về mùa lạnh, đặc biệt vào những đợt rét đậm, rét đột ngột (gió mùa đông bắc về), căn bệnh này rất dễ xuất hiện. Người hay mắc là trẻ nhỏ, người già (do cơ thể kém thích ứng) và những người phải nói nhiều hoặc phải ở lâu ngoài trời do yêu cầu nghề nghiệp.

    Thông thường, viêm thanh quản xảy ra sau một viêm nhiễm của đường hô hấp trên (mũi - xoang, họng). Cũng có khi bệnh xuất hiện ngay sau khi bị cảm lạnh với dấu hiệu chính là khàn tiếng hay mất tiếng đột ngột. Ban đầu, người bệnh thấy nhức đầu, mệt mỏi, sổ mũi, ngấy sốt; sau đó đau họng, có cảm giác nóng và khô hoặc rấm rứt như có dị vật trong cổ họng, kích thích ho. Tiếp đến, giọng nói bị khàn, đôi khi khàn đặc, thậm chí mất tiếng. Bệnh tiến triển trong vài ngày đến 1 tuần lễ, ho khan sẽ chuyển dần sang có đờm. Các triệu chứng khác thuyên giảm dần nếu viêm nhiễm không tiếp tục lan xuống dưới, gây viêm khí phế quản.

    Triệu chứng chính để chẩn đoán viêm thanh quản là khàn tiếng hoặc mất tiếng đột ngột sau khi nhiễm lạnh.

    Điều trị viêm thanh quản:

    - Điều trị toàn thân: Trong những ngày đầu mới viêm, người bệnh cần được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, uống nhiều nước trà nóng, kiêng nói, kiêng hút thuốc, kiêng rượu và các gia vị kích thích như tiêu, ớt. Dùng các thuốc nhằm tăng sức đề kháng, hạ sốt, chống viêm nếu cần thiết (theo chỉ dẫn của thầy thuốc).

    - Điều trị tại chỗ: Chườm nóng cổ, xông các tinh dầu thơm. Nếu khàn tiếng nhiều, cần làm khí dung với các thuốc kháng viêm và thuốc chống phù nề (theo chỉ dẫn của thầy thuốc)

    Đối với trẻ nhỏ, viêm thanh quản cấp có thể gây khó thở trầm trọng, cần được thầy thuốc theo dõi cẩn thận. Đối với những người chuyên dùng giọng, cần có chế độ nghỉ giọng cho đến khi thầy thuốc chuyên khoa xác nhận thanh quản đã hoàn toàn bình phục.

    Để phòng viêm thanh quản, vào mùa rét, cần mặc đủ ấm và tránh bị nhiễm lạnh (đặc biệt là với trẻ nhỏ và người cao tuổi). Mặt khác, nên ăn uống đủ chất, nghỉ ngơi, đi lại thích hợp, tránh làm quá sức trong những ngày rét đậm.

    (Sức Khoẻ & Đời Sống)
     
  7. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153
    Lưu ý khi sử dụng thuốc cho trẻ nhỏ

    “Nhiều bậc cha mẹ cho rằng chỉ cần giảm liều, trẻ em có thể dùng thuốc của người lớn. Thực tế, có những thuốc trẻ không được dùng. Thêm nữa, việc điều trị và dùng thuốc ở trẻ và người lớn đều có một số khác biệt” - TSDS Nguyễn Hữu Đức cho biết.

    Việc chọn thuốc ở trẻ em phải thận trọng hơn so với người lớn vì ở trẻ, nhất là trẻ sơ sinh, các cơ quan như gan, thận, hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch… chưa phát triển hoàn chỉnh. Vì thế, sự hấp thu, phân bố, chuyển hóa và đào thải thuốc không hoàn toàn thuận lợi, rất dễ xảy ra hiện tượng thuốc gây độc tính.

    Mỗi loại thuốc đều được tính toán liều lượng và dạng thuốc cho phù hợp với từng đối tượng sử dụng. Trên nguyên tắc, đối với trẻ dưới 2 tuổi phải dùng loại thuốc “dành cho trẻ sơ sinh”, trẻ từ 2 đến 15 tuổi dùng thuốc “dành cho trẻ em”. Trẻ trên 15 tuổi có thể dùng thuốc dành cho người lớn, nhưng liều phải giảm.

    Phân liều thuốc cho trẻ phải tính trên nhiều yếu tố: tuổi, cân nặng, diện tích cơ thể, và tính cả sự kém chức năng gan, thận của chính lứa tuổi này. Người lớn thường được tính liều theo số lượng viên uống mỗi lần và uống trong ngày, còn với trẻ không thể thực hiện theo cách tính này, mà phải tính liều cho trẻ theo số mg thuốc/kg cân nặng.

    Nếu thuốc có độc tính cao (như thuốc trị ung thư) nên tính theo số mg thuốc/m2 diện tích da của trẻ. Phải tính theo cân nặng và diện tích da như thế thì liều dùng ở trẻ mới chính xác.

    Ở Việt Nam, các bậc phụ huynh hay có thói quen khá phổ biến là dùng dạng thuốc của người lớn, rồi từ liều của người lớn phân nhỏ ra tính liều cho trẻ. Điều này chỉ nên nên áp dụng đối với thuốc thông thường, có rất ít độc tính, gần như vô hại đối với trẻ.

    Còn với những loại thuốc đặc trị, tuyệt đối không được dùng theo cách này. Như với thuốc paracetamol, dù được dùng phổ biến để hạ sốt nhưng trẻ rất dễ bị dùng quá liều nếu cha mẹ không tính liều dùng theo mg/kg cân nặng của trẻ.

    Đặc biệt cần nhấn mạnh thêm việc dùng thuốc viên nén của người lớn bẻ nhỏ, cà nhuyễn hoặc dùng dụng cụ nghiền thuốc để phân liều, giúp cho trẻ dễ uống là việc không nên làm. Nên lưu ý, thuốc dạng viên nén, viên nang trong nhiều trường hợp phải giữ nguyên vẹn viên khi uống, nếu phân nhỏ, tháo nang có khi là có hại.

    Phải dùng thuốc đúng liều, nếu dùng không đủ liều, bệnh sẽ không được chữa khỏi, còn dùng quá liều sẽ bị tai biến nguy hiểm. Như các loại thuốc bổ sung vitamin, nhiều người cứ tưởng đây là thuốc bổ dùng sao cũng được. Thật ra, đây là thuốc (nhiều nước gọi là thực dược phẩm) nên dùng đúng liều, phù hợp với từng nhu cầu khác nhau ở người lớn và trẻ em.

    Ví dụ, nếu dùng vitamin D quá liều sẽ gây vôi hóa nhau thai ở phụ nữ có thai, còn trẻ thì bị chán ăn, mệt mỏi, nôn ói, xương hóa sụn sớm.

    Thuốc bổ sung dược chất gọi là “bổ mắt”, đối với trẻ cần được bổ sung vitamin tốt cho thị giác như A, E, C, đặc biệt là chondroitin chiết xuất từ sụn vi cá mập thiên nhiên có tác dụng tốt cho mắt. Trong khi đối với người lớn tuổi, thuốc bổ mắt không chỉ cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho hoạt động thị giác mà còn cần bổ sung các chất chống oxy hóa, ngăn ngừa quá trình lão hóa như khoáng chất selen, kẽm, đồng…

    (Theo Dân Trí)
     
  8. nguyentranlananh

    nguyentranlananh Thành viên tích cực

    Tham gia:
    5/1/2005
    Bài viết:
    895
    Đã được thích:
    36
    Điểm thành tích:
    28
    Các bác có thực đơn dành cho người bị gan nhiễm mỡ và loét hang vị dạ dày thì post lên cho em tham khảo với nhé, em cảm ơn trước.
     
  9. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153

    Có bài này không phải thực đơn mà chữa bệnh Gan nhiễm mỡ em tham khảo thử :

    Đậu tương có thể chữa gan nhiễm mỡ

    Một chế độ dinh dưỡng giàu protein đậu nành có thể giúp chữa trị gan nhiễm mỡ - chứng bệnh thường đi kèm với bệnh tiểu đường nguy hiểm.

    Nhà nghiên cứu Nimbe Torres thuộc Viện khoa học dinh dưỡng quốc gia Mexico đã tìm hiểu ảnh hưởng của protein đậu nành đối với sự phát triển của bệnh gan nhiễm mỡ. Bà nuôi những con chuột bị béo phì, mắc chứng tăng insulin và gan nhiễm mỡ bằng chế độ ăn giàu protein đậu nành trong vòng 160 ngày.

    Kết quả cho thấy protein đậu nành đã ngăn cản sự tích tụ triglyceride (một dạng tồn trữ chất béo trung tính trong cơ thể, được tổng hợp từ những sản phẩm tiêu hóa chất béo của thức ăn) và cholesterol trong gan, mặc dù những con chuột này vẫn béo phì và tăng insulin.

    "Protein đậu nành ảnh hưởng tới hoạt tính của các gene liên quan đến quá trình tổng hợp axit béo và triglyceride trong gan. Nó làm giảm các yếu tố sao chép chuyên kiểm soát hoạt tính của những gene liên quan đến hoạt động sản xuất lipid", Torres cho biết. Ngoài ra, protein đậu nành còn giúp gia tăng một yếu tố sao chép chuyên kiểm soát gene liên quan đến hoạt động phân huỷ axit béo và các gene "đích" của nó. Theo đó, những con chuột ăn đậu nành có lượng axit béo trong gan giảm, không chỉ do protein đậu nành làm giảm hoạt động sản xuất lipid mà còn nhờ làm tăng hoạt động phân huỷ nó.

    Gan nhiễm mỡ là căn bệnh không thể chữa khỏi và có thể dẫn tới suy gan mạn tính và tử vong. Trong bệnh này, các ngăn trong tế bào gan chứa đầy lipid do sự gia tăng sản xuất các axit béo gây nên, kết quả là gan bị phình đại. Torres tin rằng việc tiêu thụ protein đậu nành có thể làm cải thiện căn bệnh này, đồng thời phòng tránh những tổn thương ở thận và hoạt động sản xuất chất béo.

    (Theo Vnexpress)
     
  10. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153
    Loét hang vị dạ dày là gì ? chị chỉ nghe loét dạ dày tá tràng ? Có bài "CHẾ ĐỘ ĂN TRONG VIÊM LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG ở Vnexpress không biết có đúng bài em muốn tìm không?
     
  11. nguyentranlananh

    nguyentranlananh Thành viên tích cực

    Tham gia:
    5/1/2005
    Bài viết:
    895
    Đã được thích:
    36
    Điểm thành tích:
    28
    @ Bác Minh Nguyệt: MC em bị hai bệnh này chị ạ, gan nhiễm mỡ thì bị lâu lắm rồi - chắc do bà béo quá, còn loét hang vị dạ dày thì mới bị thôi, Hôm qua OX em đưa bà đi nội soi thì BS kết luận là như thế, em cũng không biết loét hang vị dạ dày là gì, để em về em hỏi lại OX nhà em, bác cứ post bài đó lên cho em tham khảo với, em cảm ơn bác nhiều.
     
  12. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153
    Chế độ ăn trong viêm loét dạ dày - tá tràng

    Người mắc bệnh này cần dùng loại thức ăn giảm tiết dịch vị như chất ngọt, chất béo. Thịt nạc, cá nạc, nước dùng thịt gây tiết nhiều dịch vị nên bệnh nhân cần tránh ăn nhiều.

    Loét dạ dày - tá tràng chiếm 35% bệnh lý của đường tiêu hóa, nam mắc nhiều hơn nữ. Tuổi thường gặp là 30-60; nguyên nhân là sự mất cân bằng giữa yếu tố bảo vệ và phá hủy niêm mạc dạ dày.

    Cơ chế sinh bệnh loét dạ dày - tá tràng chủ yếu là tăng toan, tức tăng tiết acid dạ dày. Ăn uống hợp lý có thể làm giảm tiết acid, giảm tác dụng của acid dạ dày tiết ra lên niêm mạc dạ dày. Cần ưu tiên các thức ăn có tác dụng giảm tiết dịch vị; chứa tinh bột, giúp hút thấm niêm mạc dạ dày (như gạo nếp, bột sắn, bánh mỳ, bánh nếp), ít tác dụng cơ giới (thức ăn mềm) hay kích thích dạ dày.

    Cụ thể, những thực phẩm nên dùng là:

    - Cháo, cơm, bánh mỳ, cơm nếp, bánh chưng; các loại khoai luộc chín hoặc hầm nhừ.

    - Thịt, cá nạc hấp, luộc, om.

    - Lá rau non luộc, nấu canh bắp cải, giá đỗ, bầu bí...

    - Sữa bò hộp, sữa bò tươi, bơ.

    - Dầu thực vật ăn sống với lượng ít.

    - Quả sống: Phải luộc chín, hấp chín mới ăn.

    - Đường, bánh, mứt, kẹo, mật ong, chè.

    - Thức uống: nước lọc, nước chè loãng.

    Thức ăn không nên dùng: Bún, dưa cà muối, hành muối, quả chua, đu đủ chín, chuối tiêu, táo, chè, cà phê đặc, giấm ớt, tỏi, hạt tiêu quá cay, các loại thức ăn nguội chế biến sẵn (giăm bông, lạp xường, xúc xích), sữa chua, vitamin C. Cần bỏ hẳn rượu, thuốc lá.

    Người có bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng không nên để bị đói và không ăn quá no. Cần ăn thêm các bữa phụ vào lúc 10 giờ, 15 giờ và 22 giờ.

    (Theo Vnexpress)










     
  13. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153
    Bao tử tá tràng loét


    Mật Ong + Nghệ trị bao tử tá tràng loét

    Chị Tăng Thị Q., 36 tuổi, công nhân.

    Bụng thường xuyên đau âm ỉ, nhất là sau khi ăn xong thì đau tăng. Một hôm, đang làm việc thì đau bụng dữ dội. Đau lăn lộn không thể tiếp tục công việc được. Phân xưởng chuyển lên bệnh xá, sau đó chuyển lên bệnh viện 115. Tại bệnh viện, sau khi khám, siêu âm… chẩn đoán là loét bao tử tá tràng. Cho dùng thuốc, sau 5 ngày không giảm mà càng đau hơn. Bệnh việc quyết định mổ. Sợ mổ nên chị trốn về. Xin chuyển sang điều trị bằng Đông y.

    Mật Ong + Nghệ đã cứu chị khỏi căn bệnh ngặt nghèo trên.

    Bài thuốc đơn giản chỉ có 2 vị sau :

    NGHỆ (bột) 12g

    MẬT ONG 8ml ( 2 thìa cà phê )

    Mấy ngày đầu, vì đau nhiều, chúng tôi cho uống 4 lần trong ngày.

    Ngày đầu mới uống, chị vẫn đau nhiều, đã có người bàn nên đem đi mổ. Tuy nhiên, đến tối, chị có vẻ dịu đau và ngủ được một ít. Ngày hôm sau, cơn đau thưa dần. Đến ngày thứ 5 cơn đau mới tạm êm, muốn ăn cơm (trước đó chỉ dám ăn cháo). Ăn cơm cũng không thấy đau. Đến ngày thứ 7 cơn đau dứt hẳn. Sau 1 tháng chụp X. quang và nội soi lại, kết quả cho thấy bao tử chị bình thường. Chị kiên trì uống liên tục 3 tháng. Mấy năm nay, không thấy bị tái phát lần nào.

    NGHỆ

    Đông y gọi là Uất Kim

    Tên khoa học là Curcuma longa L.

    Thuộc họ Gừng (Zingiberaceae).

    Theo Đông y, Nghệ vị cay, đắng, phá huyết, thông kinh.

    MẬT ONG

    Đông y gọi là Bạch Mật.

    Tên khoa học là Mel apum.

    Theo Đong y, Mật Ong vị ngọt, tính bình

    Có tác dụng nhuận phế, chỉ khái, nhuận trường, thông tiện, giải độc

    (Sức khỏe và đời sống)
     
  14. minh_nguyet1965

    minh_nguyet1965 Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    15/12/2004
    Bài viết:
    2,194
    Đã được thích:
    189
    Điểm thành tích:
    153
    Lưu ý khi dùng thuốc hạ sốt cho trẻ

    Trẻ em bị sốt là mối lo thường xuyên của mọi nhà, nhất là các gia đình mới sinh con đầu lòng. Vì quá lo nên nhiều bà mẹ thường dùng thuốc không đúng bệnh, dùng quá liều gây nhiều tác hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.

    Do vậy, khi dùng thuốc hạ sốt cho trẻ cần lưu ý những điều sau:

    - Thuốc hạ nhiệt tác dụng lên vùng dưới đồi đưa nhiệt độ trở về 37 độ C, làm cho thân nhiệt trở lại bình thường: thuốc có loại đơn chất (paracetamol) hoặc dưới dạng phối hợp (với các chất kháng histamin, vitamin B1, C...) cần được xác định rõ trước khi dùng (tên thuốc, hàm lượng).

    - Không nên dùng nhiều loại có chung tác dụng cùng một lúc dễ gây ngộ độc vì quá liều như uống viên nén Tiffy, Decolgen, Pamin, sirô tiffy, viên đặt hậu môn, viên sủi, thuốc bột... Liều dùng thường được xác định là 60 mg/kg/ngày, chẳng hạn, cháu nặng 10 kg, mỗi ngày có thể dùng 600 mg/ngày, khoảng 15 mg/kg trong 6 giờ hoặc 10 mg/kg trong 4 giờ. Thuốc gói, thuốc viên có nhiều hàm lượng khác nhau nên phải lưu ý khi dùng.

    - Tìm nguyên nhân để điều trị, chỉ nên dùng thuốc khi sốt cao, kéo dài. Trong y tế thường quy ước sốt dưới 38 độ C là sốt nhẹ, từ 38 đến 39 độ C là sốt vừa, từ 39 đến 41 độ C là sốt cao, trên 41 độ C là rất cao.

    - Nên dùng các biện pháp hạ sốt khác song song với việc dùng thuốc: lau mát chỗ da mỏng bằng nước ấm ở nơi kín gió, cởi bỏ bớt quần áo, không đặt nằm ở nơi quá nóng, ăn nhẹ dễ tiêu, uống nước như nước chanh, nước cam, orezol... (nếu sốt cao kéo dài sẽ mất nước gây co giật), không xoa bằng nước đá, dầu gió.

    - Thuốc tác dụng nhanh ở môi trường lỏng, thuốc đạn có tác dụng hiệu quả như thuốc uống, chỉ nên dùng khi trẻ không uống được (bị nôn, không hấp thụ), thời gian tác dụng chậm hơn thuốc uống.

    - Cần theo dõi khi trẻ dùng thuốc có thể bị mẫn cảm với thuốc hay một trong những thành phần của thuốc (vì vậy, phải xem kỹ thành phần tá dược của thuốc). Thận trọng với bệnh nhân suy gan, suy thận.

    - Thuốc hạ sốt hoạt chất là paracetamol có nhiều loại khác nhau về thành phần và hàm lượng, dạng bào chế như:

    Babyplex: thuốc cốm gồm có paracetamol 325mg, vitamin B1, chlorpheniramin maleat, tá dược vừa đủ 3g. Liều dùng: ngày uống 3-4 lần, mỗi lần như sau: Trẻ dưới 1 tuổi: 1/4 gói, từ 1-5 tuổi: 1/3 gói, từ 5-10 tuổi: 1/2 gói, từ 10-15 tuổi: 1 gói. Hòa thuốc vào chén nhỏ với nước chín, không nên đổ thẳng thuốc vào miệng.

    Panadol trẻ em: viên nhai màu hồng vị dâu chứa 120mg paracetamol. Liều dùng: từ 1-3 tuổi: 1 viên, từ 3-6 tuổi: 1-2 viên, từ 6-12 tuổi: 2 viên. Nếu cần dùng lại sau 4 giờ. Không quá 4 lần/ngày.

    Effe-paracetamol: gói bột sủi gồm có paracetamol 200mg, vitamin C và tá dược. Liều dùng: từ 2-6 tuổi: 1 gói x 3 lần/ngày. Từ 6-15 tuổi: 1-2 gói x 3 lần/ngày. Trên 15 tuổi: 2 gói x 3 lần/ngày.

    Efferalgan 80 mg: mỗi gói có paracetamol 80 mg - thuốc bột sủi bọt. Thường được chỉ định cho trẻ em cân nặng từ 8-15kg. Lưu ý: Không dùng thuốc này trong các trường hợp mẫn cảm với paracetamol, bệnh gan nặng, không dung nạp với fructose (vì có sorbitol). Trường hợp cần kiêng muối, hoặc ăn nhạt cần lưu ý vì mỗi gói thuốc có chứa 66 mg natri (phải trừ vào khẩu phần ăn hằng ngày).

    Các trường hợp không dùng được thuốc đạn: dị ứng với paracetamol, bệnh gan nặng, mới bị viêm hậu môn, trực tràng, chảy máu trực tràng, thuốc có thể gây ngứa tại chỗ, tăng theo lần dùng, liều dùng, thời điểm dùng. Khi bị tiêu chảy không dùng viên đạn.

    Những trường hợp sau cần đưa trẻ đi cấp cứu:

    - Trẻ dưới 4 tuổi bị sốt 39 độ C trở lên.

    - Trẻ sốt kèm theo cứng cổ, phồng thóp.

    - Trẻ trên 4 tháng tuổi bị sốt 39 -40 độ C (đã uống thuốc nhưng không giảm sốt).

    - Đã điều trị tại nhà quá 4-5 ngày vẫn không khỏi hoặc sốt kéo dài hơn 3 ngày.

    Lưu ý:

    - Đối với các loại thuốc panadol có thêm cafein chỉ dùng cho trẻ trên 7 tuổi (1 viên/lần, không quá 4 viên/24 giờ).

    - Loại thuốc efferalgan codein chỉ dùng cho trẻ trên 15 tuổi.

    (Theo DS. Lã Xuân Hoàn)
     
  15. Cantho

    Cantho Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    9/12/2005
    Bài viết:
    115
    Đã được thích:
    10
    Điểm thành tích:
    18
    [color=green]Dứa chữa huyết áp thấp


    Dân gian thường dùng quả dứa để chữa huyết áp thấp, đầu choáng váng, mắt hoa, tay chân bải hoải rã rời. Ngoài ra, dứa còn được dùng làm nhiều loại thuốc điều trị hữu hiệu các bệnh khó tiêu, tiêu hoá kém…

    Dưới đây là một số bài thuốc từ quả dứa:

    Chữa huyết áp thấp, đầu choáng váng, mắt hoa: Lấy 250g thịt dứa, rồi thái thành miếng nhỏ cộng với 60g thịt gà, cho một ít bột hồ tiêu rồi nấu chín để ăn. Món ăn này vừa dễ làm, ăn ngon lại có công năng kiện tỳ, ích khí.

    Chữa tiêu hoá kém, tiêu chảy: Khi ăn phải các loại thực phẩm khó tiêu, có thể dùng quả dứa để giải quyết tình trạng này. Lấy 250g thịt rồi ép lấy nước uống ngày 2 lần.

    Chữa thuỷ thũng: Ăn mỗi ngày 250g dứa, chia làm 2 - 3 lần có tác dụng tốt lợi tiểu, tiêu sưng.

    Chữa bệnh tiêu khát, tiểu tiện bất lợi: Lấy 3 quả dứa gọt bỏ vỏ, sau đó ép lấy nước rồi cho vào nồi, đun lửa nhỏ để cô đặc. Sau đó, để nguội rồi trộn đều với 1,5 kg mật ong thành cao dứa, mỗi ngày ăn một ít.

    (Theo Dân Trí)

    ST[/color]
     
  16. Cantho

    Cantho Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    9/12/2005
    Bài viết:
    115
    Đã được thích:
    10
    Điểm thành tích:
    18
    Cách dùng sơn tra phòng chống cao huyết áp



    Sơn tra có tác dụng hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giãn mạch ngoại vi. Mặt khác, công dụng hạ mỡ máu, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, làm giãn động mạch vành, cải thiện sức co bóp cơ tim và an thần trấn tĩnh đều trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần lập lại cân bằng sinh lý và phòng chống tích cực các biến chứng do tình trạng cao huyết áp gây ra. Y học cổ truyền cũng công nhận công năng hoạt huyết hóa ứ của sơn tra, và sách Y học trung trung tam tây lục đã viết: “Sơn tra nhập huyết phận, vi hóa ứ huyết chi yếu dược” (sơn tra vào phần huyết, là vị thuốc chủ yếu chống ứ huyết). Vậy, nên dùng sơn tra như thế nào để phòng chống cao huyết áp? Bài viết này xin giới thiệu một số cách dùng cụ thể.

    Bài 1: Sơn tra 15g, hà diệp (lá sen) 20g. Hai thứ tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh dẫn thông trệ, làm giãn mạch máu, dùng thích hợp cho người bị cao huyết áp và béo phì có kèm theo đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.

    Bài 2: Sơn tra 10g, cúc hoa 10g, lá trà tươi 10g, ba thứ hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt trừ đàm, bình can tiềm dương, dùng cho người bị cao huyết áp, bệnh lý mạch vành và rối loạn lipid máu.

    Bài 3: Sơn tra 24g, cúc hoa15g, kim ngân hoa 15g, tang diệp (lá dâu) 12g. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, hãm với nước sôi trong bình kín, chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh can nhiệt, hóa ứ tích, dùng thích hợp cho những người bị cao huyết áp thuộc thể can nhiệt ứ trở biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, dễ cáu giận, miệng khô họng khát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ…

    Bài 4: Sơn tra 50g, gạo tẻ 50g, đường phèn vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái phiến, đem nấu với gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Khứ ứ huyết, tiêu thực tích, dùng cho những người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu.

    Bài 5: Sơn tra sao đen 12g, thảo quyết minh 12g, hoa cúc trắng 9g. Ba thứ sấy khô, tán nhỏ, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Sơ phong, tán nhiệt, bình can, giáng áp, nhuận tràng thông tiện, dùng rất tốt cho những người bị cao huyết áp có kèm theo táo bón kéo dài.

    Bài 6: Sơn tra 9-15g, hoàng kỳ 30-60g, cát căn 15-30g, tang ký sinh 15-30g, đan sâm 20-40g. Tất cả đem sắc 2 lần, mỗi lần 30 phút, sau đó cô lại còn khoảng 300-400ml, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Bổ khí hoạt huyết, ích tâm kiện não, dùng thích hợp cho những người bị cao huyết áp có kèm theo rối loạn tuần hoàn não, rối loạn nhịp tim thuộc thể khí hư huyết ứ biểu hiện bằng các triệu chứng như: Tinh thần mệt mỏi, hay có cảm giác khó thở, ngại hoạt động, kém ăn, hay hoa mắt chóng mặt, dễ vã mồ hôi, đau tức hoặc đau nhói vùng ngực sườn, mạch có lúc không đều, đại tiện nát, phụ nữ kinh nguyệt không đều, bế kinh hoặc thống kinh. Trong bài hoàng kỳ, cát căn và tang ký sinh có tác dụng bổ khí; Đan sâm và sơn tra hoạt huyết. Các dược liệu phối hợp với nhau, công bổ tương hổ, tạo nên công năng bổ khí, thông mạch, ích tâm, kiện não và giáng áp của bài thuốc.

    Bài 7: Sơn tra 16g, sinh đỗ trọng 16g, thảo quyết minh 16g, tiên ngọc mễ tu (râu ngô tươi) 62g, hoàng bá 6g, sinh đại hoàng 3g. Tất cả đem sắc với 6 bát nước, cô lại còn 3 bát, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Bổ can thận, thanh can nhiệt, giáng áp, dùng thích hợp cho những người bị cao huyết áp, béo phì.

    Bài 8: Hải đới 30g, sơn tra 30g, mã thầy 10 củ, chanh 3 quả. Hải đới rửa sạch, cắt ngắn; Sơn tra bỏ hạt, thái miếng; Mã thầy bóc vỏ, thái vụn; Chanh cắt lát. Tất cả đem sắc kỹ, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, cường tim lợi thủy, giáng áp, dùng tốt cho người bị cao huyết áp.

    Bài 9: Sơn tra 30g, táo tây 30g, rau cần tây 3 cây, đường phèn vừa đủ. Sơn tra và táo bỏ hạt, thái miếng; Rau cần rửa sạch, cắt đoạn. Tất cả cho vào bát to, đổ thêm 300ml nước rồi đem hấp cách thủy, sau chừng 30 phút là được, cho thêm đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết, giáng áp, dùng cho người bị cao huyết áp và rối loạn lipid máu.

    Bài 10: Sơn tra 150g, đậu xanh 150g, đường phèn vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái miếng; Đậu xanh rửa sạch, ngâm trong nước 30 phút. Hai thứ đem sắc kỹ, cho thêm đường phèn, chia uống hai lần trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt giáng áp, dùng thích hợp cho người bị cao huyết áp có các biểu hiện nhiệt chứng.

    Bài 11: Sinh địa 200g, sơn tra 500g, đường trắng 100g. Sinh địa rửa sạch, thái lát; Sơn tra bỏ hạt, thái phiến. Hai thứ đem sắc trước cho thật nhừ, cho thêm đường rồi đánh nhuyễn thành dạng cao lỏng, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 thìa canh. Công dụng: Dưỡng âm lương huyết, hoạt huyết giáng áp và làm mềm mạch máu, dùng cho người bị cao huyết áp thuộc thể âm hư, biểu hiện bằng các triệu chứng người gầy, lòng bàn tay, bàn chân nóng, hay có cảm giác sốt nhẹ về chiều, miệng khô họng khát, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ…

    Bài 12: Sơn tra 30g, quyết minh tử 30g, lá sen tươi nửa lá, đại táo 4 quả, thịt lợn nạc 250g, gia vị vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái phiến; Quyết minh tử rửa sạch; Đại táo bỏ hạt; Lá sen rửa sạch thái nhỏ; Thịt lợn rửa sạch thái miếng. Tất cả cho vào nồi hầm nhừ, nêm đủ gia vị, chia ăn vài lần. Công dụng: Thanh can tiết nhiệt, làm giãn mạch máu và giáng áp, dùng cho người bị cao huyết áp thuộc thể Can dương thượng xung biểu hiện bằng các triệu chứng mặt đỏ, mắt đỏ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, tính tình nóng nảy, ngực sườn đầy tức, đại tiện táo, có thể hay chảy máu cam…

    ThS. Hoàng Khánh Toàn (Tạp chí Sức Khỏe & Đời Sống)

    ST
     
  17. donaldd

    donaldd Thành viên tập sự

    Tham gia:
    20/5/2010
    Bài viết:
    6
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    các bạn tham khảo cái này nhé


    Hỏi: Xin bác sĩ cho biết các dấu hiệu của suy thận mạn tính là gì? Nguyên nhân và cách phòng căn bệnh này? (Lê Thị Bình - Bắc Ninh)

    Trả lời: Suy thận mạn thường tiến triển âm thầm, triệu chứng của bệnh có thể chỉ xuất hiện sau một số năm, khi cấu trúc bên trong của thận dần bị phá hủy, thậm chí có thể chỉ xuất hiện khi chức năng thận chỉ còn 1/10 so với mức bình thường. Do vậy, việc dự phòng và phát hiện sớm căn bệnh này có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn ngừa và điều trị bệnh.
    Một số dấu hiệu của bệnh suy thận mạn như: Phù (chân, xung quanh mắt), mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn (do thiếu máu và tích lũy chất cặn bã trong cơ thể), đi tiểu thường xuyên (đặc biệt là về đêm), tăng creatinin huyết hoặc protein niệu, tăng huyết áp, tăng kali máu, giảm erythropoietin, nhiễm nitơ và urê máu,... Có nhiều nguyên nhân dẫn đến suy thận mạn như: 40% do đái tháo đường, 30% do tăng huyết áp, 10% do viêm cầu thận, còn lại là một số nguyên nhân khác như: sỏi thận, lupus ban đỏ, hội chứng alport, thận bẩm sinh, suy tim,... Suy thận mạn cũng có thể là hậu quả của việc dùng trong thời gian dài thuốc gây độc tính cao với thận như một số nhóm thuốc chống viêm, kháng sinh...
    Để phòng ngừa suy thận, bạn cần lưu ý các phương pháp sau:
    - Nên khám định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện bệnh kịp thời. Nên ăn nhạt, không nên ăn quá nhiều những thức ăn giàu canxi vì có thể mắc sỏi thận; Hạn chế ăn thực phẩm có chứa hàn the, phẩm màu công nghiệp vì những chất này rất độc với thận.
    - Kiểm soát huyết áp, bởi huyết áp cao sẽ làm tổn thương các mạch máu, ngăn cản mạch máu loại trừ các chất cặn bã, gây suy thận.
    - Mỗi ngày nên uống ít nhất từ 1,5 - 2 lít nước đã được đun sôi để giúp thận lọc chất độc, cặn bã tốt hơn, không nên dùng quá nhiều đồ uống lợi tiểu như trà, cà phê vì có nguy cơ làm mệt thận, tạo sỏi thận.
    Tôi cũng cung cấp cho bạn một thông tin hữu ích đó là gần đây trên thị trường xuất hiện sản phẩm Ích Thận Vương, giúp hỗ trợ điều trị và phòng ngừa suy thận. Sản phẩm với thành phần quý như: Cao đan sâm, L-carnitin, Coenzym 10... vừa có tác dụng bảo vệ, tăng cường chức năng thận, làm chậm tiến trình suy thận và ngăn chặn bệnh chuyển sang giai đoạn nặng hơn; vừa giúp kiểm soát triệu chứng của suy thận như sưng phù, mệt mỏi, tiểu ra máu, tăng creatinin huyết, protein niệu... Hỗ trợ kiểm soát các bệnh là nguyên nhân gây suy thận như tăng huyết áp, viêm cầu thận, sỏi thận. Chúc bạn sức khỏe!

    PGS.BS Trần Văn Chất
    Chủ tịch Hội thận học Hà Nội

    Mọi thắc mắc của độc giả xin gửi về địa chỉ email: homthutuvansuckhoe@gmail.com
    ĐT: 04 38461530 - 08 62647169
     
  18. infotuphuong

    infotuphuong Thành viên tập sự

    Tham gia:
    10/9/2013
    Bài viết:
    14
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    3
    ðề: Kiến thức y tế - phòng chống bệnh cho gia đình

    Thuốc Dolo-Neurobion
    Dạng bào chế: Viên bao tan trong ruột

    Đóng gói: Hộp 5 vỉ x 10 viên

    Thành phần: Diclofenac sodium; Pyridoxol HCL; Thiamin nitrate; Vitamin B12

    Công dụng: Làm giảm các cơn đau trong các trường hợp:

    - Đau khớp, thấp khớp
    - Đau liên quan đến viêm dây thần kinh, đau dây thần kinh.
    - Đau sau chấn thương, hậu phẫu.
    - Đau cấp tính trong sản phụ khoa, răng hàm mặt, tai mũi họng.


    Liều lượng:
    Người lớn: Mỗi lần uống 1 viên, ngày uống 3 lần, uống cách xa bữa ăn.
    Bệnh nhân có thể được điều trị lâu dài nếu bác sĩ thấy cần thiết.


    Chống chỉ định:

    Quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc.
    Bệnh tăng hồng cầu vô căn.
    Không được sử dụng Vitamin B12 trong giai đoạn sớm của bệnh teo thần kinh thị giác do di truyền, u ác tính, người có cớ địa dị ứng.
    Loét dạ dày tá tràng.
    Người bị hen, chảy máu, suy gan, suy thận nặng, suy tim xung huyết.
     
  19. mecun14410

    mecun14410 Thành viên kỳ cựu

    Tham gia:
    3/8/2013
    Bài viết:
    8,025
    Đã được thích:
    1,124
    Điểm thành tích:
    823
    ðề: Kiến thức y tế - phòng chống bệnh cho gia đình

    toàn những thông tin bổ ích cảm ơn chủ top nhiều nha
     
  20. bocau1208

    bocau1208 Thành viên kỳ cựu

    Tham gia:
    18/9/2014
    Bài viết:
    8,925
    Đã được thích:
    1,185
    Điểm thành tích:
    773
    ðề: Kiến thức y tế - phòng chống bệnh cho gia đình

    topic này hay quá chủ thớt ạ:rolleyes:
     

Chia sẻ trang này