Kim Sơn Hồ Điệp Thể loại: Ngôn Tình , Xuyên Không , Tác giả: Duy Đao Bách Tích Tóm tắt: Edit: Qin Zồ Thể loại: Xuyên không, dân quốc, ngoại quốc, HE Số chương: 149 chương và vài phiên ngoại Giải thích về tên truyện: Kim Sơn ở đây là ám chỉ cả nước Mỹ, không phải chỉ riêng mỗi San Francisco (Cựu Kim Sơn), hình ảnh hồ điệp là để chỉ nữ chính vỗ cánh tung bay, từ San Francisco bay vọt khắp nước Mỹ. – Trích lời tác giả. Bối cảnh của câu chuyện được diễn ra ở thời dân quốc ở nước Mỹ với nhiều tình tiết mới lạ lôi cuốn người đọc. Mọi việc bắt đầu từ khi Hoài Chân tỉnh lại, nhưng lại phát hiện bản thân đã biến thành Mộng Khanh – một cô dâu nông thôn người Quảng Đông lặn lội ngàn dặm đến thành phố Vancouver ở Canada tìm chồng. Trong khoảnh khắc mở mắt ra, cô đã ở khoang dưới cùng của một chiếc tàu du khách băng qua Thái Bình Dương. Một bức thư đến từ Vancouver, bức thư tình viễn dương do phu quân Ôn Mạnh Băng của Mộng Khanh chính tay viết chính là tất cả hành lý mà cô có. Lúc này cô mới hay, Mộng Khanh chưa bao giờ đi học, không biết tiếng ngoại quốc và cũng không biết tiếng Anh đã bị lừa bán. Con tàu này không phải hướng về Vancouver. Mà là một con thuyền vượt biên chạy đến San Francisco, chở đầy kỹ nữ Trung Quốc đến phố người Hoa. *** Lâm vào thời buổi loạn lạc lại chỉ có một thân một mình, mới đầu Hoài Chân chỉ muốn chọn một mảnh đất cách xa chiến loạn, yên ổn sống qua ngày. Nhưng không ngờ chỉ vừa theo những kẻ buôn người nhập cảnh thì đã bị những người Mỹ bài trừ Trung Quốc cấp tiến nổi danh ở bờ biển Đông bắt mất. *** “Bộ mặt của phố người Hoa, không được lịch sự cho lắm, dọc theo phố là những chuỗi cửa hiệu, thỉnh thoảng có một hai quán ăn hay quán cà phê, đường phố chật hẹp, người đi đường rất đông. Đám trẻ chơi dưới hành lang bẩn thỉu. Lối đi bộ ô uế bẩn thịu, cửa hàng thịt bốc mùi thối rữa, du khách đến đây đều vô cùng mất hứng quay về. Phố người Hoa ở San Francisco, được gọi là “Trung Quốc lớn nhất ngoài Châu Á”. “Chín mươi chín phụ nữ Trung Quốc ở phố người Hoa San Francisco là kỹ nữ. Nếu bạn nhìn thấy cô gái Trung Quốc mười bốn mười lăm tuổi ở hải quan tuyên bố mẹ mình vừa qua đời, nhờ cậy cha cao tuổi đến Mỹ kiếm sống, thì không còn nghi ngờ gì nữa, bọn họ sắp bán đi đêm đầu tiên của mình. Gặp may thì có thể bán được ba nghìn đô la.” *** Nếu không phải chính tai nghe được ngữ pháp tiếng Đức hoàn chỉnh phát ra từ miệng cô gái có vẻ nghèo hèn kia, thì cả đời này Cesar sẽ không bao giờ đặt chân vào con phố Sacramento nổi tiếng tệ hại này nửa bước. Ma xui quỷ khiến đi theo bước chân của cô ấy đến một tiệm tạp hóa vô cùng dơ dáy, trên tấm biển treo ngoài cửa u ám có viết: con gái, năm văn tiền một pound. Ông chủ cửa tiệm nhoẻn cười để lộ hàm răng sứt mẻ với anh, dùng tiếng Anh bồi bắt đầu nịnh nọt bắt chuyện: “Ở chỗ chúng tôi có con gái vừa non vừa sạch, tươi như hôm nay vậy.” Không biết thế nào anh lại nhớ đến cái cân lúc cô dẫm lên bến tàu hòn đảo thiên thần di dân, lúc đó nhân viên hải quan đã nói, “Hoài Chân, tám mươi lăm pound.” Truyện Khác : Cô Vợ Thay Thế Lấy Phải Boss Kiêu Ngạo Nữ Phụ Xuyên Nhanh Thề Muốn Phác Gục Nam Chủ Hôn Nhân Bất Ngờ: Đoạt Được Cô Vợ Nghịch Ngợm Cổ Chân Nhân
Chương 1: Santa Maria (1) Hoài Chân chết trong tay một dân tị nạn Syria, trên đường cô mua đồ ăn về nhà. Gã ta đi tới nói mình rất đói, muốn xin một nửa số cà ri xúc xích khoai tây chiên ở trong chiếc túi cô đang cầm. Cô bèn dừng xe đạp lại, đưa túi đồ cho gã. Đúng lúc này, gã vung một chai bia Heineken lên đập mạnh xuống đầu cô. Cô lập tức hôn mê bất tỉnh. Nhưng cô không rõ mình có bị hãm hiếp không. Bởi vì lúc tỉnh dậy thì dòng thời gian đã quay ngược lại một trăm năm trước, cô đang nằm trong khoang hạng ba của một chiếc tàu du lịch sang trọng cách xa Thái Bình Dương, trở thành một nàng dâu Quảng Đông tên là Mộng Khanh. Bắt đầu từ khoảnh khắc ấy, cô rất muốn cố gắng sống sót, để xem xem cô gái Hoài Chân ở thành phố Hamburg, Đức tại thế kỷ hai mươi mốt, rốt cuộc sẽ gặp phải vận hạn thế nào trong thời khắc bất lực này; và hơn một trăm năm trước, tất cả những chuyện đó có liên quan gì đến tập thể người Hoa được người Mỹ gọi là “hiểm họa da vàng”*. (*Hiểm họa da vàng là thuật ngữ xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 ám chỉviệc những công nhân và phu phen người Trung Quốc nhập cư đến các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ.) Thế là trong khoảnh khắc trở thành Mộng Khanh, cô đã đưa ra lựa chọn để thay đổi vận mệnh của cô dâu người Quảng Đông này một lần nữa. *** Con tàu to lớn kia đang từ từ chạy qua Thái Bình Dương. Thời tiết hôm đó không đẹp lắm. Sóng biển dồn dập vỗ vào thân tàu, con tàu viễn dương mang số hiệu Santa Maria lướt trên sóng gió vô tận, kim loại kềnh càng rẽ sóng một đường, phát ra âm thanh ầm ầm nặng nề bi thương. Hành trình tiến về phía trước đã bước sang ngày thứ hai mươi bảy, đến mai là sẽ tới bến tàu rồi. Chiếc du thuyền này lên đường từ bến tàu Sán Đầu* ở viễn đông Trung Quốc, đi qua bến tàu trung tâm Hương Cảng, băng qua thủ phủ Honolulu**, cuối cùng cập bến ở San Francisco. Đích đến của lộ trình cách nội thành San Francisco hơn mười cây số, dừng chân ở trạm di trú trên đảo Thiên Thần tại vịnh San Francisco. (*Sán Đầu: thuộc đông bắc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.) (**Honolulu là thủ phủ của tiểu bang Hawaii, Mỹ.) Trạm di trú này được thiết lập riêng vì người Trung Quốc. Tám mươi năm qua, đạo luật bài trừ người Hoa ngày càng nghiêm ngặt, cùng với trạm di trú xuất nhập cảnh hết sức nghiêm ngặt ở trên đảo Thiên Thần này, gần như có đến chín mươi lăm phần trăm người Hoa bị tống cổ ra khỏi Tân Đại Lục. Quả thật đại lục này không hề có định kiến tốt đẹp về người da vàng ngày xưa. Tại đất nước đầy rẫy cơ hội này, thị tộc Long Island luôn xem thường thương nhân và đám nhà giàu mới nổi ở thành phố New York. Người bờ Đông xem thường người phía Tây, thì người da trắng lại coi rẻ người da màu. Và người Trung Quốc thuộc da màu cũng không được coi trọng, gần như có thể nói bọn họ đứng cuối cùng chuỗi thức ăn và vòng tròn sinh thái. Giống như các vị khách trên con tàu Santa Maria này vậy. Trước cái đêm sắp đến bến tàu San Francisco, trên biển bất chợt nổi giông bão. Đèn đuốc trên thuyền sáng choang, chúng người hầu hấp tấp đi qua đi lại ở quầy bar, hầm rượu, phòng bếp và nhà kho bên dưới, chỉ vì lễ hội cuối cùng đã sắp bắt đầu. Những thượng khách da trắng trong khoang hạng nhất hút xì gà Cuba, đọc báo bên cạnh lò sưởi ấm áp tại đại sảnh; Ở khoang hạng hai là những người trẻ tuổi thuộc gia đình giai cấp trung lưu ra nước ngoài thăm người thân, đang đứng trên boong tàu uống hồng trà Trung Quốc, cười nói ngắm nghía cảnh hoàng hôn trên biển; Ở khoang hạng ba là những thủy binh thấp hèn, cùng với các du học sinh nam được nhà nước đưa đi du học, bọn họ bắt chuyện làm quen với những cô gái trẻ tuổi, hòng tìm kiếm cơ hội tình yêu… Chỉ có rất ít thủy thủ và lái tàu là biết, một hai khoang hàng hóa nào đó vốn dùng để tích trữ rau cải, đã sớm bị lại bán giá thấp cho những kẻ buôn người khét tiếng ở phố người Hoa và Nam Trung Quốc, dùng để “tích trữ” hàng hóa của bọn chúng – những cô gái bị lừa bán. Con người cũng có người này người kia chia ra đủ loại, chế độ cấp bậc đã bị phân chia rõ ràng trong vô hình từ lâu. Dĩ nhiên cũng không loại bỏ có một hai con cá lọt lưới. Trong số những cô gái bị lừa bán có một người là cô dâu Quảng Đông. Vốn muốn đến thành phố Vancouver, Canada tìm vị hôn phu, chẳng ngờ lại bị một tên lừa đảo lừa lên chiếc tàu chạy về San Francisco này. Bị dồn vào ngõ cụt, cô đành uống thuốc trị mụn tự vẫn, may mà có bác sĩ gia đình da trắng ở bờ Đông đi ngang qua, tốt bụng cứu được một mạng của cô. Ả buôn người nói dối cô là con gái nông thôn người Mỹ gốc Hoa ở Quảng Đông. Vì để che giấu tai mắt người ngoài mà thậm chí ả còn không tiếc vốn gốc, mua được một tấm vé tàu ở khoang hạng ba với giá thấp từ chỗ thủy thủ, để “cô con gái” này có được chiếc giường, thuận lợi cho việc chữa trị. Không một ai biết, nàng dâu Quảng Đông đi một vòng ở Quỷ Môn quan đã thay đổi linh hồn. Cửa phòng hạng ba mở ra. Bác sĩ da trắng xách hộp thuốc, tiếng Anh đặc sệt khẩu âm của Đức: “Đã không còn gì đáng lo nữa rồi. Chỉ là không biết vì sao cô ấy lại bị bệnh sởi. Khoang hạng ba không có phòng tắm, nhất định tiên sinh Andre sẽ rất vui vẻ cho cô gái Trung Quốc đáng yêu này mượn dùng một lúc. Đợi lát nữa tôi sẽ mời người đưa cô ấy đến khoang hạng nhất tắm.” Người đàn bà gốc châu Á mỉm cười, nịnh nọt đưa tiễn bác sĩ da trắng. Cửa khép lại, hai ả đàn bà cùng xoay đầu nhìn chiếc giường thấp ẩm ướt kia. Cô gái kia chỉ chừng mười lăm mười sáu tuổi, có khuôn mặt phương Đông điển hình: mặt hơi lồi to chừng bàn tay, ngũ quan không chỗ chê, chỉ có điều hơi ảm đạm; gương mặt tròn thanh tú tái nhợt, trên môi không có chút sắc máu; mái tóc dài đen rậm, tiếc là vì đã lâu chưa tắm rửa nên nhìn có vẻ bóng nhẫy cáu bẩn. Trong điều kiện vệ sinh có hạn, thật đáng tiếc, trên trán cô gái trẻ này nổi ba bốn nốt sởi đo đỏ, không biết là do bọ chét hay bệnh truyền nhiễm. Người mặc áo gấm màu tím nên không nhìn ra vết bẩn. Trên đầu cài chi chít trâm vàng, bây giờ thật sự hiếm khi thấy trang phục và đồ dùng vừa sang trọng lại lạc hậu như thế, nghĩ bụng ắt hẳn là con nhà giàu từ nông thôn đến. La Văn hỏi: “Cô gái nào quý đến nỗi mà để một kẻ vắt cổ chày ra nước nổi tiếng ở phố người Hoa mua một tấm vé hạng ba cho vậy?” Khương Tố nói: “Là người quê Thanh Viễn, gả cho nhà họ Ôn bán trà ở thành phố Anh Đức làm con dâu chi thứ hai. Mấy năm trước nhị thiếu gia kia đã đến Vancouver học buôn bán, giờ đã là một tay thương lái nhà giàu rồi đấy. Cũng là số một số hai trong số những vị khách San Francisco du học trăm năm ở châu Mỹ.”* (*Thanh Viễn là một địa cấp thị có diện tích rộng nhất ở tỉnh Quảng Đông; Anh Đức là thành phố thuộc tỉnh Quảng Đông.) La Văn là một người đàn bà người Hoa sinh ra ở nước ngoài, chồng mở một tiệm giặt quần áo trên phố người Hoa, cuộc sống cũng được coi sung túc. Người một nhà sống trên lầu ở tiệm giặt quần áo, ở đối diện là nhà thổ ở phố người Hoa. Chủ tiệm chính là tú bà Khương Tố. Hai người là hàng xóm láng giềng, nhưng hai mươi năm qua không hề thường xuyên qua lại với nhau. Nếu không phải cả nhà La Văn muốn dọn ra khỏi phố người Hoa, đến khu nhà có thang máy ở quảng trường Jackson, nhưng trong tay vẫn còn thiếu ít tiền; đồng thời dưới danh nghĩa của mình, La Văn có thể cho phép một cô gái quá cảnh —— Khương Tố lập tức tìm tới cửa. Lần này, La Văn đồng ý cùng ra nước ngoài với bà ta. La Văn vẫn khá tò mò về cô gái vô thân vô cố sắp được nhập cảnh với thân phận là con gái của mình: “Tướng công cô ấy là thiếu gia Vancouver, giờ đây cô ấy rơi vào tay bà, chí ít cũng phải lừa của hắn một khoản chứ?” “Chuyện này thì không thể được. Thân hào nông thôn như Ôn gia vẫn sống trong phép tắc của tiền triều, vô cùng coi trọng danh vọng, cô gái này rơi vào tay tôi thì coi như danh tiếng đi tong. Cho dù là con gái nhà mình, chuộc về rồi cũng sẽ bị thế hệ trước xỉa xói tới chết trong từ đường gia tộc, trước mặt bài vị tổ tông. Huống hồ còn là dâu từ ngoài đưa vào, nếu mà về thì có dám ở trong nhà để người khác chỉ trỏ cười nhạo không? Chứ đừng nói gì là có đại tang… Lúc này đưa cô ấy đến Vancouver có lẽ là để cô ấy và Ôn thiếu gia kia động phòng với nhau. Nhưng nửa đường lại cho chặn ở San Francisco, cô nói xem, tướng công cô ấy còn muốn cô ấy nữa không?” La Văn ngạc nhiên không thôi: “Vẫn còn là xử nữ?” Tú bà cười nói: “Đúng thế. Lúc cô ấy ngất đi, tôi đã kiểm tra rồi, chắc chắn không sai được.” “Nha đầu này, có phải bà được ông Hồng ở Nhân Hòa hội quán nhờ chọn một người để làm vợ thằng sáu không?” “Nếu không phải vì thế thì việc gì tôi phải mua khoang hạng ba sau khi đi qua Honolulu, lại còn liều mạng tìm bác sĩ cho cô ta? Nếu là cô gái khác thì đã nhân dịp nửa đêm vất xuống đáy biển rồi ——” Đương lúc nói chuyện, một tiếng gõ cửa vang lên. Ngoài cửa có người nhẹ nhàng nói bằng tiếng Anh: “Tiên sinh Andre đã đồng ý cho cô gái mượn phòng tắm rồi. Những người đàn ông xung quanh đã được sai qua phòng bên, ngài có ba giờ có thể tự do sử dụng phòng tắm. Theo nhu cầu của ngài —— quần áo để thay cũng đã được chuẩn bị.” La Văn nghe xong, đột nhiên hạ thấp giọng hỏi: “Tiên sinh Andre này có họ không?” “Có. Là Crawford ở bờ Đông.” “Craw ——” “Crawford thì có là gì? Trên thuyền này còn có mười mấy tên quỷ da trắng cay nghiệt họ Muhlenberg kìa.” Người đàn bà bị cái họ người Mỹ gốc Đức chuyên bài trừ người Hoa nổi tiếng này dọa sợ tới nỗi tắt tiếng, “Vậy bác sĩ khẩu âm nước Đức đó, sợ cũng là bác sĩ gia đình của Muhlenberg…” “Tôi đã nói với bọn họ rồi, cô gái Mộng Khanh bị nổi mụn này là con gái nông thôn năm xưa bà về Quảng Đông thành thân. Bà không đi cùng với nó, chẳng lẽ để một tú bà nổi tiếng ở phố người Hoa là tôi tự chui đầu vào lưới?” Người đàn bà tên là La Văn không lên tiếng. Ả tú bà này có cổ dài, dùng thứ tiếng Anh bồi bập bẹ cao giọng đáp lại: “Cô ta đang ngủ. Ngủ sâu giấc lắm. Đợi chút nhé tiên sinh, đợi một chút.” Vừa nói, ánh mắt cay độc kia nhìn thẳng vào mớ đá quý đeo đầy hai tay, bà ta lập tức tháo vòng ngọc trên cổ tay mảnh khảnh của thiếu nữ tái nhợt kia. Song có dùng sức mấy cũng không tháo ra được. Bà ta không tin quay đầu đi, dùng sức lực hai tay đồng thời kéo ra. Trong cửa sổ mạn tàu phản chiếu hình ảnh bóng mặt bên, trên chiếc bóng mặt bên ấy là đồ trang sức đầy đầu và một cái mũi ưng dữ dằn. La Văn lạnh lùng liếc lấy, rồi bất ngờ hỏi: “Tôi đi với bà chuyến này, bà định chia cho tôi mấy phần đây?” “Lấy tên bà cho một cô gái quá cảnh, có thể lấy được năm phần lời bán thân của cô ta —— Đừng vội, ngay cả tôi cũng chỉ lấy được hai phần thôi. Thuyền đến bến Kim Sơn chuyến này không thể so với năm trước được, cũng không tiện lợi bằng nhập cảnh từ Seattle*. Hải quan ở đảo Thiên Thần được thiết lập riêng vì người da vàng, dĩ nhiên ba phần này phải đút lót cho đám cảnh sát quỷ trắng. Bộ bà tưởng tiền dễ kiếm lắm hả?” (*Seattle: Thành phố cảng và là thành phố lớn nhất của bang Washington ở tây bắc nước Mỹ.) Trong tình hình hôm nay, người da vàng muốn nhập cảnh từ đảo Thiên Thần ở San Francisco càng thêm khó khăn. Người vượt biên vào Mỹ chỉ có thể đến Seattle, sau đó lại đổi chuyến xe lửa quay về San Francisco. Nếu không phải đã đút lót nhiều cho người lái tàu và thủy thủ, thì mấy tên trai gái trung niên dẫn theo hai mươi mấy cô gái sẽ không bao giờ có cơ hội đặt chân lên bất cứ con tàu viễn dương nào. May mà sau lưng tú bà Khương Tố có đường dây, gần như động đến nửa nhân vật có máu mặt ở phố người Hoa tại San Francisco. Không chỉ mua chuộc thủy thủ và lái tàu trên chiếc tàu sang trọng Santa Maria này, mà còn chạy chọt ở chỗ đại sứ quán Mỹ trú tại Quảng Đông, thậm chí còn đút lót thỏa đáng cho cảnh sát liên bang và hải quan ở đảo Thiên Thần. La Văn im lặng một lúc, sau đó lại hỏi: “Tướng công cô ta mua cho cô ta vé tàu hạng nhất đi đến Vancouver, giờ bị bà lừa, bán tám mươi đồng bạc à?” Tú bà bị bà vạch trần, vừa chột dạ vừa tức giận, giọng cao ba quãng: “Không thiếu phần của bà đâu!” La Văn cười, “Đừng quên đấy.” Suy nghĩ một hồi, lại cảnh cáo Khương Tố: “Tuy cô ta không biết chữ, nhưng bà vẫn nên lấy bức thư đó sớm đi, đỡ sau này nó tìm người biết chữ đọc hộ… Đường sắt nhanh gọn, tìm cách từ Kim Sơn đến Vancouver tìm phu quân của cô ta đi, cũng không phải chuyện gì khó khăn.” Tú bà xem thường: “Nếu nó đọc hiểu lá thư này thì sẽ biết tướng công nó không cần nó. Cho dù đến Vancouver thì cũng không có đường đi, ở lại còn có miếng cơm.” Tiếng gõ cửa bên ngoài càng dồn dập. “Tới đây.” Cửa bật mở, La Văn cõng cô gái trên lưng, theo người làm do Andre Crawford phái đến đi ra ngoài. Ba người băng qua hành lang u ám ở khoang hạng ba, đi đến trước thang máy lên xuống ở khoang thuyền. Chờ một lúc, thang máy đã đến. Cửa mở, người đầu tiên đi ra là đôi trai gái da trắng ở khoang hạng nhất, chiều cao và vẻ bề ngoài của bọn họ vô cùng xuất chúng. Lúc đi lướt qua vai, người đàn ông trẻ tuổi mặc áo len màu xanh đang nói về tin đồn thú vị ở Hương Cảng với người bạn đi cùng, khẩu âm nặng vùng Nevada. “Đi xe với Andre tới quận Loan Tể, ba cô gái da vàng đến gần, nháy mắt quyến rũ với Andre.” Người đàn ông da trắng đổi sang tiếng Quảng Đông bắt chước giọng điệu phụ nữ, “ ‘Quan lớn à, gái Trung Quốc ngon lắm! Một hào nhìn một chút, hai hào ——’ ” Cô gái da trắng cười không ngừng, “Sau đó thì sao?” Người đàn ông không nói tiếp nữa, đột nhiên bước chân khựng lại, híp mắt nghiêng đầu nhìn sang. Cô gái kia cũng quay đầu nhìn theo ánh mắt anh ta, lẩm bẩm nói: “Tôi nhìn nhầm hả. Đó không phải là người làm của Andre sao? Vì sao lại đi cùng với người Trung Quốc.” Cũng trong khoảnh khắc đó, mí mắt Hoài Chân khẽ động, cô nhướn mày chậm rãi mở mắt ra, nhìn sang chỗ có tiếng nói. Cửa thang máy chậm rãi khép lại, cô chỉ kịp thấy một bóng dáng thon dài từ khe hở kia, rồi sau đó chậm rãi lắc lư đi lên trên.
Chương 2: Santa Maria (2) Thang máy gỗ bốn phía ốp thủy tinh nặng nề chạy lên, cửa thang máy lần nữa bật mở, thế giới trong khoang thuyền hạng nhất vô cùng yên tĩnh. Người hầu dẫn hai người kia vào một gian phòng rộng rãi, dặn dò xong xuôi hết mọi chuyện rồi lui ra ngoài, để dành thời gian còn lại cho cặp “mẹ con” này. Lửa trong lò sưởi cháy tí tách, khiến khoang hạng nhất trở nên ấm áp lạ thường giữa trời đông giá rét. La Văn cõng cô đi vào phòng tắm rồi đặt xuống băng ghế thấp trong phòng, đến bồn tắm xả đầy nước nóng. Quay đầu lại định cởi quần áo cho cô, nhưng vừa chạm vào người thì mu bàn tay đã bị hai bàn tay lạnh băng chụp lấy. Ngẩng đầu lên nhìn, đôi mắt kia đang nhìn thẳng vào bà ta, cánh môi giật giật nhưng lực trên tay không hề nhẹ, cô thấp giọng đáp: “Để tôi.” Cơ thể đã ấm áp lên, cơn buồn ngủ đã bay đi hết. Lời này cũng vừa khéo hợp ý La Văn, “Vậy tôi ra ngoài chợp mắt, nếu có chuyện thì cứ gọi một tiếng là được.” *** Thấy cửa khép lại, cuối cùng Hoài Chân cũng thở phào nhẹ nhõm. Đáng ra năm nay cô đang là sinh viên năm hai. Tám giờ tối, cô đạp xe đi mua thức ăn, trên đường quay về đại học công nghệ Hamburg thì bị một gã tị nạn đập ngất rồi kéo vào trong rừng cây. Đến khi tỉnh lại thì cô đã nằm trên con tàu sang trọng chạy trên Thái Bình Dương, trở thành nàng dâu Quảng Đông Mộng Khanh không biết chữ. Lúc bác sĩ người Đức kia đi lên là cô đã tỉnh rồi, đúng lúc tỉnh dậy thì nghe thấy La Văn và tú bà nói chuyện với nhau, cơ thể này vốn như tàu lá héo, vậy là cô bèn dứt khoát tiếp tục giả chết. Nghe giọng của tú bà thì vị kim chủ họ Hồng muốn mua mình để làm vợ cho con trai thứ sáu kia, hình như là người có mặt mũi trên phố người Hoa? Nghĩ tới đây, trái tim cô lập tức rơi xuống đáy cốc. Hoài Chân xoa tay, rút một lá thư ở vạt áo ra. Nhìn mấy lần cả mặt trước mặt sau, nhưng chẳng thấy dấu bưu điện hay địa chỉ đâu. Tháo lớp bọc bằng vải lụa ra, cô lật lui lật tới, cũng không còn gì thêm. Cô không ngờ mình lại rơi vào cục diện này. Quay đầu là đường chết, nhưng đi về phía trước thì không biết đường đi có thông không. Bác sĩ người Đức kia nói trên người cô có bọ chét, nghĩ đến đây, cô lập tức cảm thấy cả người dính dấp nổi da gà, ngứa ngáy khó chịu. Cô bèn cầm xấp quần áo chỉnh chu đặt qua một bên, rồi đặt thư lên trên cùng; cạnh bồn tắm có một cục xà bông Lux sạch sẽ, ngửi vào rất có hương vị cổ xưa, trong nháy mắt đưa cô quay về cuối thế kỷ hai mươi lúc mới chào đời… Tắm rửa sạch sẽ, một lớp bẩn mỏng đọng lại trên mặt nước trong bồn. Cơ thể đã nhẹ đi nhiều, cô lại bất giác đỏ mặt thay nguyên chủ —— đã bao lâu chưa tắm mà có thể bẩn đến mức này? Cầm bàn chải chùi sạch sẽ bồn tắm, lại dội thêm ba lần nữa, lúc này mới xả đầy nước, cầm lấy chiếc áo tím ở bên cạnh lên. Áng chừng sức nặng quần áo, nặng chừng năm sáu cân, là một thứ khá đáng tiền đây. Ngâm quần áo vào trong nước ấm đầy bọt xà bông, làm xong xuôi mọi việc, cô mới dùng khăn lông quấn tóc, người trần truồng ngồi trên thành bồn cầm thư lên đọc. Kiểu chữ Âu Dương Tuân kỳ lạ, giữa những hàng chữ nhẹ nhàng như nước chảy lại không che lấp được tình ý —— Mộng Khanh, ái thê của anh: Lần trước phụ thân gửi thư sang đã báo cho anh biết chuyện trong nhà em rồi. Nếu không phải phụ thân gửi thư đến, anh cũng không biết thì ra người thôn Thanh Viễn lại hiểu nhầm anh thoái hôn, nhất định sẽ phụ em. Mẫu thân em đã qua đời, phụ thân tin vào lời đồn, muốn gả cho em người khác; anh trai chị dâu lại bá đạo, có lẽ cái nhà đó không yên nổi được nữa. Chỗ anh nhiều chuyện quả thật không thể phân thân được, dù có thể về nước thì đi đường cũng mất ít nhất hơn một tháng, sợ sẽ để lỡ cơ hội tốt, vì thế anh đã gửi một bức điện báo cho anh trai và chị dâu, xin bọn họ đón em vào cửa trước. Nhà họ Ôn làm buôn bán mấy đời, phụ thân cùng các anh các chị chưa bao giờ đọc sách, để cô dâu phải bái đường với chim muông đúng là hoang đường vớ vẩn, tuy là kế bất đắc dĩ, nhưng quả thật đã khiến em phải ấm ức rồi. Người ngoài nghe được, ắt hẳn sẽ cho rằng em bị dồn vào đường cùng nên đến nhờ cậy nhà họ Ôn, làm con dâu cho phụ thân mẫu thân, làm tròn đạo hiếu thay người xa quê là anh, chứ không phải vợ chồng thật sự. Bây giờ Vancouver đã cho phép thương lái người Hoa đưa gia quyến đến đây, cho nên anh đã tự chủ trương, mua cho em một tấm vé tàu thủy ngày mười một. Vé tàu đã nhờ bên Thông Tế Long lo liệu, chỉ cần sáng sớm ngày mười một em đến bến tàu Sán Đầu lấy là được. Em còn trẻ, anh đã xin mẫu thân tìm cho em một người hầu thỏa đáng để chăm nom trong chuyến đi tới. Anh hai sắp đến Hương Cảng buôn bán, tháng ba này sẽ xuất cảng với hai chị dâu, có lẽ sẽ đón cha mẹ đến ở. Nếu em thật sự không muốn gặp anh nữa thì có thể theo anh chị dâu đến Hương Cảng, như thế anh cũng có thể thường xuyên gọi điện thoại về cho em. Có điều Vancouver là một nơi tốt. Tuy nằm ở phương Bắc song khí hậu lại rất dễ chịu. Mùa đông lạnh hơn Anh Đức, nhưng mùa hè lại mát mẻ hơn. Ở đây có đàn ông đàn bà da trắng cao to, cùng đồ ngon và áo quần đẹp, không có binh lính càn quấy và tham quan ô lại. Tại đây mọi người bình đẳng với nhau, bách tính và tư bản đều hạnh phúc như nhau. Ở nơi này có rất nhiều người Trung Quốc, không như người Mỹ ở bờ Tây luôn bài xích người Hoa. Anh rất hy vọng em có thể đến đây xem. Em không biết chữ, nếu em đến, anh sẽ dạy em từng bước một, phải biết chữ Hán, cũng học được chút tiếng Anh. Đừng sợ, em chỉ mới mười lăm, ở trường học bên này có rất nhiều học sinh bằng tuổi em, em học xong ở chỗ anh thì có thể đến trường đi học như các cô ấy. Lần trước gặp em đã là tháng giêng năm ngoái. Tuy mùa đông Thanh Viễn không quá lạnh, nhưng hôm đó trời mưa, em chỉ mặc mỗi chiếc áo trắng mỏng manh, đứng thẳng dưới mái hiên nhà. Anh cởi áo khoác phủ lên người em, chiếc áo khoác màu đen kia gần như ôm trọn lấy em, vô cùng đáng yêu. Em lập tức đỏ mặt, quay đầu đưa lưng về phía anh, tay siết chặt đôi giày thêu màu đỏ. Lúc đó trong đầu anh đã nghĩ, không biết em có đi đôi giày ấy gả cho anh không. Ngẫm nghĩ lại, khi ấy em vẫn đang là hôn thê của anh. Hơn một năm xa cách, giờ em đã là cô vợ trẻ của Ôn Mạnh Băng anh. Mộng Khanh, em có biết, giờ đây em đã là họ Ôn? Chẩm Lương, ngày mồng bảy tháng mười một. *** Bồn tắm bằng đồng màu vàng nằm cạnh cửa sổ khép kín. Ngoài cửa mưa rơi ào ào, hạt mưa đập xuống cửa sổ thủy tinh kêu lộp bộp, thế giới ngoài đấy đen kịt một vùng. Hoài Chân ngồi trên bồn tắm, đọc lá thư này bốn năm lần, cho đến khi hơi nước bốc lên dần ngưng tụ, nhiệt độ trong buồng tắm cũng giảm xuống hai ba độ. Cô run bắn lên, đầu óc tỉnh táo hơn. Nước Mỹ vẫn đang ở trong thời đại bài trừ người Hoa, như vậy nhất định hiện tại là trước năm 1943 xóa bỏ dự luật “bài Hoa”. Con tàu du lịch băng qua Thái Bình Dương từ Viễn Đông đến bờ biển phía tây nước Mỹ một cách thuận buồm xuôi gió, chứng tỏ chiến tranh chưa bùng nổ —— chí ít là chiến tranh Thái Bình Dương chưa bắt đầu, cho nên vẫn chưa đến năm 1941. Có phụ nữ hợp pháp hôn nhân có thể nhập cảnh Canada và Mỹ, vậy chắc chắn là sau năm 1924 khi công bố “Đạo luật Di Trú”. Vạch thời gian có thể xác định rơi vào giữa năm 1924 và năm 1941. Hoài Chân lập tức buồn thiu. Buồn thật sự. Đây… lại là thời kỳ bốn bề bất ổn. Niên đại như vậy thì sống ở đâu sẽ dễ chịu hơn đây? Hoài Chân nhìn chăm chú vào bức thư, đầu như căng ra. Anh bạn à, chí ít anh cũng phải để lại thông tin địa chỉ hay cách thức liên lạc trong thư chứ, không phải vẫn tốt hơn là một bức thư tín toàn tình ý này à? Xem đi, lạc vợ rồi đấy, lần này khỏi tìm về được nữa. Cô cẩn thận gấp thư lại bỏ vào phong bì như cũ, đặt trước bàn trang điểm bằng đồng khô ráo; vớt bộ quần áo nặng nề trong nước ra, xả nước làm sạch quần áo và bồn tắm, khó nhọc vắt khô quần áo rồi treo lên lan can sắt ở sau cửa. Đang định mở cửa buồng tắm lấy đồ trên ghế ở bên ngoài, thì bất chợt nghe thấy tiếng động. Hình như có người muốn xông vào. Người hầu hoảng hốt: “… Tiên sinh Andre nói với tôi đã mời mấy người đến phòng khách rồi mà, vì sao lại đột nhiên quay về?” “Ha. Tiên sinh Andre của chúng ta đúng là chứa chấp người da vàng thật rồi.” Người đến lên tiếng hỏi: “Ai cho phép bà đến đây?” Nửa câu sau là nói với La Văn. Ngữ khí rất nặng, là khẩu âm Nevada. Hầu gái đáp: “Là tiên sinh Andre cho…” “Nếu muốn bị đuổi việc ngay thì cứ trả lời thay bà ta tiếp đi.” “Xin lỗi tiên sinh.” Hầu gái không lên tiếng nữa. “Bà tên gì? “La Văn, Kwai.” Kwai không biết là họ gì, chắc là họ chồng. “Người Trung Quốc?” “Đúng thế —— gốc Hoa.” “Vì sao lại đến đây?” “Con, con gái tôi bị bọ chét, cần mượn phòng tắm tắm…” Hoài Chân chỉ mới mặc chiếc quần lót sạch sẽ đi mượn vào, nghe La Văn trả lời như thế thì cô lập tức thầm kêu không xong rồi, nhanh chóng chặn người lại ở sau cửa, kéo lấy áo khoác sạch sẽ treo ở móc xích bên ngoài qua khe cửa. Người kia rất nhạy bén, vừa nghe thấy động tĩnh thì ngay tức khắc xoay đầu lại. Hầu gái kinh hãi, đuổi lên trước nói: “Tiên sinh, anh không thể vào được, như vậy quá thất lễ…” Liếc một cái qua khe cửa, một bóng người đã sải bước đi vào, đứng ngoài buồng tắm. Trong khoảnh khắc ngón tay Hoài Chân vừa chạm vào đồ lót mềm mại, thì lập tức nó trượt khỏi tay cô. Biết lúc này đã chậm, cô nhanh chóng rụt tay về, đè chặt lên cửa buồng tắm, lập tức đụng phải lực đẩy mạnh mẽ ở bên ngoài. “Rầm ——” một tiếng vang lớn, cô thoăn thoắt gài chốt, dựa lưng vào cửa buồng tắm chưa kịp hoàn hồn. Chỉ suýt nữa thôi là cánh cửa này đã không có cơ hội khép lại rồi. Áo khoác lẫn áo ngực đều nằm trong tay người đàn ông ở bên ngoài, lúc này trên người cô chỉ có độc mỗi chiếc quần lót màu trắng. Khe hở thông khí ở dưới cửa bị che khuất ánh sáng. Từ nơi đó, cô nhìn thấy một đôi chân màu nâu dừng lại trên đệm trước cửa. Cách một bức tường, người kia như dùng sự nhẫn nại cuối cùng ra lệnh: “Mở cửa, ra ngoài.”
Chương 3: Santa Maria (3) Nghe thấy giọng nam trung trầm thấp kia, Hoài Chân bất chợt nghĩ, đây có phải là người da trắng đã nhại giọng Quảng Đông ở ngoài thang máy không? Hoài Chân mơ hồ nhớ lại, hình như La Văn nói Mộng Khanh không biết tiếng phổ thông và tiếng Anh. Trong lúc do dự, đúng như dự đoán, người ngoài cửa dùng tiếng Quảng vô cùng thân thiết nói: “Cho cô một phút.” Người hầu thấp giọng nhắc nhở: “Cô gái này thật sự là bạn của tiên sinh Andre ——” “Tôi không cho rằng Andre sẽ có bạn là nữ-da-vàng. Không nên có, và cũng không có khả năng.” Anh ta bình tĩnh tuyên bố thay Andre, sau đó quay đầu lại, thay đổi ngôn ngữ vô cùng tự nhiên, giọng điệu rất gắt gỏng: “Cô đang đợi ai ôm cô về khoang hạng ba hả? Hết một phút mà không ra thì đừng trách tôi gọi bảo vệ trên thuyền mời cô ra.” Hoài Chân dỏng tai lắng nghe xem La Văn có đáp không. La Văn không lên tiếng, chứng minh người ngoài cửa không dễ trêu chọc. Cô đành nhặt nhạnh một chữ trong vốn tiếng Quảng nghèo nàn thiếu thốn của mình, đáp lại —— “Được”. Rồi Hoài Chân lấy bộ quần áo ướt nhẹp trên lan can xuống, từ từ mặc vào. Quần áo dính nước phát ra âm thanh sột soạt, người bên ngoài cũng nghe rõ. Người hầu nói, “Tiên sinh…” Giọng người da trắng rất thờ ơ: “Chuyện này không liên quan gì đến tôi.” Quần áo dính chặt vào người Hoài Chân, cô cúi đầu kéo sửa rồi đẩy cửa bước ra. Cửa “két” một tiếng, La Văn và người hầu ngẩng đầu lên, đồng thời ngạc nhiên ra mặt. Người đàn ông trẻ tuổi không thấy cô. Dáng người cao ráo đứng nơi đó, ngón tay dài vạch qua áo sơ mi màu xanh lơ và quần ka-ki màu trắng; anh ta cúi đầu nhìn chiếc đồng hồ quả quýt trong bàn tay kia, chuỗi xích kim loại màu vàng rũ xuống, cực kỳ hợp với cánh tay rắn chắc và thân hình cao lớn kia, không khác gì một pho tượng Hy Lạp. Người hầu thấp giọng gọi: “Sir Ceasar?” Cái tên Ceasar này, không giống phát âm tiếng Anh, cũng không biết là ngôn ngữ gì, chỉ biết là rất gần với chữ “Tây Trạch”*. (*Tây Trạch phát âm là /xī zé/, đọc gần giống cái tên Ceasar.) Anh không đáp lại mà chỉ nhìn đồng hồ một cách chăm chú đến xuất thần. Lúc này Hoài Chân mới có cơ hội quan sát anh. Caesar chỉ khoảng chừng hơn hai mươi tuổi. Đường nét cường tráng, ngũ quan lạnh lùng, da trắng tới mức không có sắc máu, đôi môi mỏng càng thêm mấy phần cay nghiệt, là tướng mạo điển hình của chủng tộc Aryan* tâm sự nặng nề. Nếu không phải vì tóc và con ngươi của anh có màu đen, thì có khi đã bị bắt đến Đức sung vào Đội cận vệ rồi. Dưới ánh đèn hoàng hôn, áo sơ mi xanh đen và áo khoác len màu xanh lam trên người trông có vẻ âm u, càng làm nổi bật nét uy nghiêm trên gương mặt kia. Tuy vẻ mặt khá âm trầm song lại có cảm giác trẻ trung tuấn tú khó nói thành lời, khiến người ta chỉ muốn bóp một cái. (*Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 người Aryan cổ đại mới được Đức Quốc xã xem là tổ tiên của người Đức hoặc người Bắc Âu. Chủ nghĩa quốc xã Đức đã nâng lý thuyết “chủng tộc Aryan” lên đến mức cực kỳ phản động: “Chủng tộc Aryan là chủng tộc thượng đẳng có quyền thống trị thế giới”.) Người da trắng này có ba phần khí chất phương Đông quen thuộc, quả đúng là hiếm thấy. Hoài Chân rất muốn mua một bộ lens mắt màu xanh và thuốc nhuộm màu vàng tặng cho anh ta. Nghĩ đến đây, Hoài Chân mím môi kìm nén nụ cười. Ngay trong chớp mắt đó, cô cảm thấy con ngươi màu đen kia khẽ động, lướt qua mặt cô. Cô lập tức cụp mắt nhìn chòng chọc tấm thảm, chậm rãi dịch về sau. Anh ta nhướn mày, vẻ mặt buồn cười. Mọi người cũng đồng loạt nhìn sang theo ánh mắt anh ta. Thì ra trên thảm đỏ có một nhóm dấu vết màu đậm, từ cửa phòng tắm kéo dài đến dưới chân Hoài Chân. Ceasar quay đầu đi, lễ phép mỉm cười dùng tiếng Anh nhẹ nhàng hỏi La Văn: “Tôi đoán bà có tư chất di trú(1). Bà đã đến đây bao nhiêu năm rồi?” “Tôi là người Hoa sinh ra ở nước ngoài.” La Văn cúi đầu. “Chồng bà… là cha của cô ta?” “Đúng thế.” Ceasar hiểu ra, khẽ mỉm cười, “Vậy các người kiếm được bao nhiêu tiền từ cô ta?” La Văn cúi đầu, “Sir, we are a respectable family.” (Tiên sinh, chúng tôi là gia đình đứng đắn.) “Thế để tôi đổi cách nói. Loại con gái trẻ không bó chân như cô ta thì có thể bán được bao nhiêu đô la?” Hoài Chân nhanh nhảu, lặp lại câu tiếng Anh kia thay La Văn. “Sir, we are a respectable family.” Tiếng Anh của cô cũng không tốt lắm, phát âm chỉ dừng lại ở mức đủ thi vào đại học, giọng rất nặng, là kiểu Trung Hoa học vẹt điển hình. Ceasar sửng sốt, *cạch* một tiếng gập đồng hồ quả quýt lại: “Con gái bà nói tiếng Anh.” La Văn kinh ngạc khó hiểu nhìn vào gò má Hoài Chân, như thể muốn nhớ lại nhất cử nhất trong quá trình chung đụng vừa qua với cô gái nông thôn này. Ceasar mỉm cười: “Nhìn bà có vẻ không biết con gái mình lắm?” Hoài Chân cũng ngẩng đầu, nhìn sang bà ta. Trong nháy mắt bốn mắt chạm nhau, La Văn ngoảnh đầu đi, ngay sau đó nói một cách chắc nịch: “Không, con bé không biết. Con bé chưa từng đi học.” Cô biết nước Mỹ thường xuyên sửa đổi đạo luật về vấn đề người Trung Quốc nhập cảnh theo từng ngày, đổi tới đổi lui, càng đổi càng nghiêm ngặt. Hễ nhập cảnh vào Mỹ thì khi chụp ảnh hộ chiếu phải viết một bản “Tuyên thệ Di trú” ở đại sứ quán, đến lúc nhập cảnh vào Mỹ, hải quan sẽ tiến hành kiểm tra theo thứ tự. Chắc hẳn tú bà đã chuẩn bị sẵn bản “Tuyên thệ Di trú” cho cô rồi. Nếu cô thay đổi tác phong thì tất cả các vấn đề mà La Văn trả lời Ceasar hay hải quan San Francisco có liên quan đến “con gái” bà ta, sẽ trái ngược lại với nội dung trong “Tuyên thệ Di trú” đã ký ở đại sứ quán Mỹ ở Quảng Đông một tháng trước. Nên cô mới lặp lại câu tiếng Anh kia, cẩn thận dò xét phản ứng của La Văn. Nhưng La Văn chỉ trả lời lại bằng cách bóp cổ tay Hoài Chân. Cô chỉ hận mình chuyển kiếp vào lúc không thỏa đáng, không thể đến sớm hơn, nếu đến sớm thì cô sẽ không để bọn họ nhìn thấu tính tình của Mộng Khanh; hoặc nếu đến sớm hơn nữa, sẽ không để Mộng Khanh gặp ả tú bà kia ở bến tàu. “Học cũng nhanh đấy. Thông minh lắm.” Lúc này Ceasar mới chịu quay sang nhìn cô, nhưng lại không giống đang nhìn một người mà trông như nhìn một món đồ. Sau đó anh ta không nặng không nhẹ nói với La Văn: “Bà nên đưa cô ta đi học đi.” “Chúng tôi không phải nhà giàu.” “Nên bà mới cần cô ta mang lại chút tài sản cho mình.” “…” La Văn phản ứng không hề chậm, “Tiên sinh, dĩ nhiên hai cô con gái của tôi là tài sản quý báu nhất rồi.” Ceasar nhìn bà ta chằm chằm, chậm rãi mỉm cười, “Người Trung Quốc cũng thông minh nhỉ.” Anh ta đang cười, nhưng lại càng để lộ sự lạnh lẽo. La Văn vẫn cúi đầu, hỏi, “Tiên sinh, con gái tôi đang bị bệnh, lại phải mặc đồ ướt. Bây giờ chúng tôi đã có thể đi được chưa?” Đột nhiên lúc này trên nắm đấm trên cửa vang lên, cửa mở ra, một bóng người cao to đi vào. “Ceasar! Sao cậu ——?” Một tiếng này mang theo tức giận, “Đột nhiên trở lại?” Người hầu gọi một tiếng “tiên sinh Andre” rồi cung kính lùi ra một bên. Ceasar quay đầu lại, cười nói: “Òa, đúng lúc lắm. Lại đây Andre, giới thiệu cho anh trai của vị hôn thê của anh biết xem nào, cô gái không mặc quần áo trong phòng anh là ai? Hình như tôi chưa thấy bao giờ.” Andre thoạt nhìn hai mươi tư hai mươi lăm tuổi, có lẽ còn trẻ hơn nữa, dù gì nhìn bề ngoài của người da trắng thì cũng khó mà đoán được tuổi. Là một quý ông tóc vàng mắt xanh điển hình, mặt mũi cũng đằm hơn Ceasar nhiều. Áo khoác âu phục ướt sũng, có thể thấy rõ là đã đứng trên boong dưới trời mưa gió một lúc. Anh ta rảo bước đi đến cạnh Ceasar, đưa tay giật lấy, “Đưa quần áo cho tôi.” Thân thủ của Ceasar rất nhanh. Anh ta lập tức né người đi, ngồi xuống tay vịn salon, giơ tay lên cười nói: “Đây là quần áo của em gái anh, không phải là quần áo của Catherine. Anh giấu Catherine chuyện này, có nên giải thích với con bé không?” “Quan hệ giữa người với người, có lúc tâm ý tương thông hơn xa miệng lưỡi tranh thua, có lúc vế sau sẽ khiến mọi chuyện trở nên tệ hại hơn. Hơn nữa,” Andre dừng lại rồi nói tiếp, “Không-có-quần-áo-mặc, chứ không phải là không mặc quần áo. Tôi chưa bao giờ biết tiếng Anh của cậu lại kém cỏi đến vậy.” “Anh vẫn luôn biết tiếng Anh của tôi rất kém mà.” Ceasar lại đổi sang khẩu âm Nevada vô cùng khoa trương, không chịu buông tha: “Vậy rốt cuộc cô ta là ai?” “Không phải ai cả.” Bỗng từ đằng xa bên ngoài truyền đến tiếng phụ nữ cười nói, hình như là người cả hai đều biết. “Trước khi con bé chưa vào làm lớn chuyện lên, anh có muốn giải thích không? Nhất định tôi sẽ che giấu cho anh.” “Ceasar.” Andre hạ giọng: “Please ——” Lúc này Ceasar mới miễn cưỡng cho qua, giơ quần áo nữ trong tay lên, nở nụ cười rất thiếu đòn. Andre sầm mặt cướp lấy. Đáng tiếc vị trí bắt quá thấp nên làm rơi một chiếc áo vừa ngắn vừa nhỏ… Nịt ngực màu trắng bằng vải bông lẻ loi treo trên ngón út của Ceasar, xoay tròn như đang thị uy. Hai mắt Ceasar sáng rực lên, “Andre à, anh rất là, chu đáo đấy.” “…” Hoài Chân đau đầu. Đây là chuyện gì thế này? Im lặng một lúc, một lần nữa Andre cướp lấy nịt ngực từ tay anh ta. Ceasar cười “phì” một tiếng. Andre đưa quần áo đến trước mặt Hoài Chân, dùng tiếng Anh nói: “Cầm quần áo về thay đi. Xin lỗi tôi không thể tiễn hai người được, xin lỗi.” Dù sao bộ đồ trên người Hoài Chân cũng đã ướt. Dày vò lui tới, có ý tốt lại thành gây rắc rối cho người ta. Cô không nhận quần áo, chỉ lắc đầu rồi nói “cám ơn” bằng tiếng Quảng. Trong nháy mắt người hầu kéo cửa ra, đúng lúc chạm mặt một cô gái da trắng cao gầy, tóc màu vàng kim. “Rượu Kakhetian và Brandi đã được đưa đến, người này vừa đến thì người kia lại chuồn mất. Không biết ngày mai sau khi cập bến, có thể lại uống rượu ở bên ngoài như vậy không nữa.” Cô gái da trắng quở trách đi vào rồi đột ngột sững sờ, nhìn Hoài Chân một lượt từ trên xuống dưới. Chiều cao bằng 9 đầu người, trong chớp mắt đối mặt với nhau chỉ trong gang tấc. Hoài Chân khẽ ngẩng đầu lên, cảm thấy mình đứng trước mặt cô ấy không khác gì hình nhân vật chibi. Hai người nhường nhau, cô gái nghiêng người đi vào, mặt mày trông rất mệt mỏi. Nhân lúc trước khi cô ấy hoàn hồn, La Văn và Hoài Chân lật đật đi ra. Đúng lúc Ceasar ló đầu ra, khóe môi nhếch lên, giọng điệu rất kiểu cách: “Hy vọng ngày mai cô có thể thuận lợi đi lại ở trạm di trú trên đảo Thiên Thần, cô gái Trung Quốc xinh xắn à.” Cửa còn chưa khép lại, tiếng nói chuyện bên trong vang ra ngoài hành lang. Trong giọng của cô gái kia có nét nào đó ngây thơ: “Bọn họ là ai thế?” Ceasar uể oải đáp thay em rể: “Không ai cả.” “Em chỉ là —— vì sao lại có… ừm… người da vàng ở đây?” “Bởi vì từ trước đến nay Andre của chúng ta luôn thân thiện với người da vàng mà.” “Được rồi. Em không hiểu lắm. Có điều từ nhỏ đã nghe trưởng bối nói, có lúc nơi có người da vàng sẽ khiến người ta không sảng khoái. Vừa xảy ra chuyện gì vậy? Em thấy trông hai anh có vẻ không vui lắm.” “Bọn anh đang bàn luận vấn đề ‘Không-có-quần-áo-mặc, chứ không phải là không mặc quần áo’.” “Hả?” “Không có gì đâu Catherine. Andre hưởng nền giáo dục kiểu Anh, khăng khăng cho rằng tiếng Anh của anh cực-kỳ-tệ. Anh ta rất thích chỉnh sửa lỗi sai ngữ pháp của anh.” “Lần nào Ceasar gặp người không thích cũng sẽ nói với giọng điệu như vậy, tỏ vẻ bản thân giống như thằng nhãi bờ Tây cáu kỉnh. Hồi nhỏ em cũng tưởng vì trước hai tuổi anh ấy lớn lên ở Hương Cảng với bố, nên hành động mới bất thường như vậy…” Cười khanh khách xong, Catherine hờn dỗi nói, “Vừa bị dầm mưa xong, em muốn đến quầy bar uống rượu Soju, hai người các anh ai đi với em đây?” … Hoài Chân đi theo sau lưng La Văn, hai người một trước một sau lặng lẽ bước vào thang máy. Cửa thang máy khép lại, tiếng nói chuyện cũng dần dần biến mất. Hoài Chân ngẩng đầu nhìn chăm chú con số màu đỏ trong thang máy, từ số “3” nhảy sang số “2”. Lúc này trong radio đang phát bằng tiếng Anh khoan thai: “… Bây giờ là mười giờ đêm theo giờ địa phương, bốn giờ sáng ngày mai con tàu Santa Maria sẽ cập bến đảo Thiên Thần, trong thời gian còn lại của cuộc hành trình, quầy rượu Âu Mỹ và phòng tắm phương Đông sẽ mở cửa 24 giờ, trạm báo tự tổ chức có những tin tức mới nhất trong ngày… Đêm đến sẽ có sóng gió nhẹ, đến lúc đó, cách năm phút một lần còi ở mũi tàu sẽ phát ra cảnh báo, xin đừng hoảng sợ…” Hoài Chân ngáp một cái. Có lẽ chuyện tốt duy nhất trong giây phút xuyên không quan trọng này là không cần sợ chênh lệch thời gian. __ Chú thích của tác giả: Mộng Khanh chỉ biết nói tiếng Quảng Đông. Mà một trong những tiêu chuẩn để hải quan San Francisco xác định xem cô gái này có bị lừa bán hay không: là cô ấy có nói tiếng Quảng không. Vì bọn buôn người chủ yếu hoạt động ở duyên hải Quảng Đông, Phúc Kiến. Về vấn đề ngoại quốc di trú, có một bộ phận (ví dụ như người Hoa) cả đời không thể trở thành công dân Mỹ được. Nhưng con của bọn họ -người ngoại quốc ra đời trên đất Mỹ thì sẽ được công nhận là công dân. Đạo luật Cable năm 1922 được ban hành ở một số bang ở Hoa Kỳ có quy định “phụ nữ (bất luận có phải là công dân nước Mỹ hay không) gả cho một người ngoại quốc không thể trở thành công dân nước Mỹ thì sẽ mất quyền công dân.” —— giải đáp câu hỏi Ceasar hỏi La Văn.
Chương 4: Santa Maria (4) Nếu không phải mới ba giờ sáng mà người đàn bà kia đã đến tìm tú bà, thì đáng lẽ Hoài Chân đã được đánh một giấc say sưa rồi. Giọng người đàn bà kia vừa nhẹ lại nhỏ, trong tiếng tàu và tiếng sóng vỗ, giọng của cô ta như âm nữ cao độc nhất trong ca kịch nam trầm, không thể nào bỏ qua. Vừa đi đến đã nghe thấy cô ta nói, “Trái lại phàm tục bọn tôi muốn xem xem là thần tiên phương nào mà được ở hẳn phòng riêng trong khoang hạng ba.” Khương Tố bèn cười: “Chao ôi, cô được ông chủ người da trắng Texas Mexico đào dầu hỏa bao, ở khoang hạng nhất của ông ta không thoải mái, lại nhớ thương căn phòng hạng ba với giá mười đồng này hả?” “Ông chủ kia béo như heo lại mồ hôi nhễ nhại, còn bị hôi nách không khác gì mùi mỡ heo. Nếu biết người da trắng hôi đến thế, chẳng thà ngày trước theo Hồng gia giàu có kia rồi.” Hai người kia vẫn tưởng cô đang ngủ, hoặc cho rằng Mộng Khanh không biết ngoại ngữ nên chỉ thấp giọng nói chuyện trên trời dưới đất. Người phụ nữ này mặc váy xòe, ngồi xuống cuối giường của Hoài Chân, phe phẩy quạt xếp trong tay làm gió quạt thổi đến chỗ cô. Hoài Chân không ngủ thêm được nữa, dứt khoát nhắm mắt nghe câu được câu chăng, nhờ vậy mà hiểu được đôi ba lý do vì sao mình và người phụ nữ này lại đi đến đây. Từ khi đạo luật bài trừ người Hoa được ban bố vào năm 1882 cho đến nay, luật pháp nước Mỹ nghiêm cấm lấy người ngoại tộc, cũng cấm người Hoa kết hôn với những người da màu khác; đồng thời nghiêm khắc hạn chế công dân gốc Hoa đi du lịch. Cho nên đối với công dân gốc Hoa, đặc biệt là người Hoa sinh ở nước ngoài, bọn họ chỉ ccó một năm về nước gặp người thân. Phần lớn những người Hoa sinh ở nước ngoài sẽ về nước năm mười lăm mười sáu tuổi, để bà mối trong nước giới thiệu đối tượng, sau khi thành thân trong vòng một năm thì có thể dẫn theo người nhà về Mỹ. Nếu bỏ lỡ cơ hội tốt đó thì sự lựa chọn bạn đời của bọn họ chỉ có thể giới hạn trong hàng xóm láng giềng trên phố người Hoa hay một số ít du học sinh. Hơn hai mươi năm trước Hồng Vạn Quân đã đến phố người Hoa, khi đó trong tay ông ta có một số tiền lớn, đúng lúc San Francisco gặp động đất và phố người Hoa có hỏa hoạn, ông ta lập tức quyên góp rất nhiều tài sản ròng, trùng tu hơn nửa số nhà bị thiêu cháy ở phố Sacramento cũ và Phố Đền Tianhou nhà gạch và bán rẻ cho các thương nhân cũ. Sau chuyện này, ai ai trên phố người Hoa cũng gọi ông ta một tiếng Hồng gia, mọi việc đều nhận được một phần tình của ông ta. Ngày trước Hồng Vạn Quân buôn nha phiến mấy năm, làm chỗ dựa cho *** và nhà thổ, lúc đó mới biết Khương Tố; về sau nhà thổ, nha phiến và *** không còn hợp pháp nữa, phần lớn sản nghiệp này của Hồng Vạn Quân đều chuyển sang không công khai, bề ngoài thì mở một hội quán ở phố người Hoa, bán vé tàu cho người Hoa hay cho thuê côn đồ, đồng thời bảo đảm an ninh ở phố người Hoa. Hội quán Nhân Nghĩa và Hài Hòa cùng hoạt động song song, đến lúc đăng ký sát nhập thì đổi tên thành hội quán Nhân Hòa. Đến nay thân thế của Hồng Vạn Quân vẫn còn là một bí ẩn chưa được giải đáp. Phần lớn người Trung Quốc năm xưa di cư đến phố người Hoa đều là con nhà nghèo sống trong cảnh chiến tranh lầm than hoặc đời sống khó khăn, bước vào đường cùng nên mới phải ra nước ngoài đào vàng. Nhưng bọn họ không biết tiếng Quảng Đông, khép miệng mở miệng đều là giọng Bắc Kinh đặc sệt; tầm nhìn rộng rãi, làm người lại có tình có nghĩa, giơ tay nhấc chân đều có khí phái, tuyệt đối không phải là vật trong ao bình thường. Năm người con đầu của Hồng Vạn Quân đều không phải là kẻ phàm phu tục tử. Chỉ có mỗi lão sáu Lương Sinh là không ra hồn, tướng tá đúng là xuất chúng, nhưng lại mải mê chè chén gái gú cờ bạc, không biết đã hại bao nhiêu mạng người trong tay. Vừa nghe thấy cái tên Hồng Lương Sinh là phố người Hoa đã sợ vỡ mật, mọi người tránh còn tránh không kịp. Hắn có bao nuôi vài ba cô gái, ai ai cũng xinh đẹp như hoa, thế mà về sau lại bị hắn làm nhục đến mức không còn ra hình người. Phàm là con gái nhà đàng hoàng đâu dám giao vào tay hắn? Hò hét quát tháo bốn năm năm, đến cái năm hắn hai mươi tuổi, rốt cuộc một tờ vé tàu đã tống cổ hắn về nước đi xem mặt. Vậy mà, đầu tiên là hắn dọa cho mấy bà mối đến cửa phải bỏ chạy, sau lại gây gổ với bà con láng giềng tới nỗi gà chó không yên. Về nước rồi, nhưng không những không thành thân được mà hành động còn liều lĩnh ngang ngược, khiến Hồng gia tức giận chỉ trong một năm đã già đi mấy tuổi. Chỉ chớp mắt Hồng Lương Sinh đã hai mươi ba tuổi. Có câu nói nam nhi cần thành gia lập nghiệp thì mới biết tu thân dưỡng tính. Hồng gia bèn đến tìm Khương Tố, đưa một số tiền lớn nhờ bà ta về nước một chuyến, tìm giùm ông ta một cô gái tâm tư đơn thuần, xuất thân trong sạch. Tốt nhất là cô gái này không biết đọc, đến Tân Đại Lục này thì sẽ không nảy sinh tâm tư mới, biết điều an phận chịu sinh con, cam tâm tình nguyện làm con dâu phòng sáu của Hồng gia; và tốt nhất là không nên hỏi đến tâm địa gian xảo của tiểu tử kia, ít ghen tuông làm mình làm mẩy, bớt gây chuyện thị phi. Không chừng tiểu tử kia vui vẻ bò quanh người nó, vừa hay có thể hãm đi tính khí ngang ngược. Khương Tố nghe thế bèn nói: “Tôi sẽ về Quảng Đông Phúc Kiến một chuyến, những người tự nguyện về với tôi đều là mấy cô gái đã làm gì gì đó. Còn người xuất thân trong sạch, nếu muốn lừa lên con tàu tặc này thì không phải là cô tình tôi nguyện nữa rồi, mà là bắt cóc trắng trợn.” Đến Lưỡng Quảng, Phúc Kiến lừa thiếu nữ bán đến phố người Hoa ở San Francisco vốn không phải là chuyện hiếm hoi. Ngày trước là xuất ngoại đào vàng, càng về sau là xây dựng đường sắt Thái Bình Dương, đa số những người xuất ngoại đến Mỹ đều là đàn ông tràn trề nhiệt huyết. Mà cách hữu hiệu nhất chính có thể thỏa mãn tỷ lệ mất cân bằng trai gái nghiêm trọng là gia tăng gái điếm và nhà thổ. Năm xưa lương thực rau cải ở Quảng Đông không thể nào tự cung tự cấp, nhân công lại không kiếm được nhiều tiền, nếu trong nhà sinh quá nhiều con không nuôi nổi, vậy nếu chết đói trong nhà chết thì còn không bằng giao cho kẻ buôn người đưa ra khỏi biên giới, chí ít còn có thể có được một con đường sống. Có nhu cầu tất có mua bán. Từ cơn sốt đãi vàng đến nay đã năm mươi năm, cái nghề buôn người này cũng như nhà thổ ở phố người Hoa đã trở thành nghề nghiệp cổ xưa. Năm xưa đa số bọn buôn người đều được các rạp hát nâng đỡ, nhưng về sau, hình thức kinh doanh này đã bị luật pháp nước Mỹ cấm cùng với khu đèn đỏ, chuyển sang hoạt động ngầm. Buôn người cũng là nghề nghiệp lúc trước của Hồng Vạn Quân, nên lúc này với ông ta mà nói cũng không phải việc gì khó. Thế là ông ta tự mình ra mặt, thay Gương Tố đút lót ổn thỏa từ hải quan nước Mỹ cho đến Sán Đầu. Ngay cả thân thế của cô gái này cũng đã được chuẩn bị chu đáo. Vừa hay bà hàng xóm cũ trước kia có chết cũng không lui tới với Khương Tố là Quý La Văn gần đây đang túng thiếu, nhà họ Quý chỉ có một cô con gái, hay nói cách khác, bà ta có thể được dẫn theo một người nữa nhập cảnh… Mọi chuyện đã sẵn sàng, nhưng Khương Tố cùng tên lừa đảo tìm kiếm mấy tháng ở Lưỡng Quảng và Phúc Kiến mà vẫn không thể tìm được cơ hội đem về một “cô gái trong sạch” như Hồng gia yêu cầu. Đúng lúc này lại để cho Khương Tố hỏi thăm được, năm ấy khi về nước xem mặt, Hồng Lương Sinh từng nhìn trúng một nàng đào kép tên Diệp Thùy Hồng. Hồng Lương Sinh không có thú vui tao nhã gì, nhưng lại rất thích hí khúc. Diệp Thùy Hồng này là một thanh y* nổi tiếng một thời ở kinh thành, một khúc “Tư Phàm” át chủ bài đã làm kinh động người xem. Sau không biết xảy ra biến cố gì mà bỏ nghề kịch, hai năm chưa từng lên sân khấu, những năm qua cũng không biết đã đi đâu, vậy mà vô tình để Hồng Lương Sinh thỉnh thoảng gặp cô ở Thượng Hải. Lúc đó Diệp Thùy Hồng đang có quan hệ vô cùng khắng khít với giáo sư dạy văn học Shakespeare ở đại học Nam Dương, nên không hề xem vị thiếu gia Hoa kiều không biết xấu hổ này ra gì. Hồng Lương Sinh khổ sở theo đuổi cô ta nửa năm, có thể nói là nếm nhiều mùi vị thất bại đến nhức đầu và làm trò cười cho thiên hạ. Tới lúc này hắn mới đi thuyền về nước, ôm hận quay về. (*Thanh y: vai đào trong hí khúc.) Khương Tố bèn hỏi thăm được tin tức chỗ ở của Diệp Thùy Hồng, một năm nay cô ấy đang làm trong gánh hát vô danh hát điệu Tây Bì* nhịp chậm ở Sa Diện, Quảng Châu. Khương Tố tìm được cô, ta nói rõ ra ý đồ, không biết vì cớ gì mà Diệp Thùy Hồng lập tức đồng ý. (*Điệu Tây Bì: làn điệu trong ca kịch dân gian Trung Quốc, đệm với đàn nhị.) Tuy nói Diệp Thùy Hồng này là người Hồng Lục thiếu cầu mà không được, nhưng lại không phải là cô gái trong sạch đơn thuần mà Hồng Vạn Quân muốn. Nhận tình người lớn như vậy, lại không thể làm chuyện tốt thay người ta, tóm lại lúc về không tiện ăn nói. Song có nàng đào kép Thùy Hồng này ắt hẳn sẽ làm Lục gia vui vẻ nhất thời, Hồng gia cũng biết bà đã bỏ ra một trăm hai mươi phần trăm sức lực, còn tốt hơn là tay trắng quay về. Vậy mà khi sắp lên thuyền, Khương Tố cùng mấy tên buôn người đứng ở bến tàu, trùng hợp gặp phải cô gái Mộng Khanh đi cùng một vú già, đang loay hoay hỏi mọi người đọc giùm vé tàu cho mình. Mộng Khanh mặt mũi thanh tú, vóc người thon nhỏ, không biết tiếng nước ngoài, tiếng Quảng Đông đậm chất quê mùa. Khương Tố chỉ cười nói với cô một câu: “Đó chính là con tàu đi San Francisco đấy. Bảo vú già nhà cô lên chiếm chỗ trước đi, rồi tôi sẽ hướng dẫn cô lên thuyền.” Cô lập tức tin ngay. Quả thật dạo này chẳng còn thấy nhiều nha đầu đơn thuần dễ lừa như vậy, đây còn không phải là người Hồng gia muốn sao? Chuyện này bà ta cũng do dự một vài hôm, không biết nên thương lượng với Diệp Thùy Hồng từ đâu, nói là đã có “ứng cử viên” khác cho con dâu nhà họ Hồng rồi. May mà bà ta hên. Ngày đầu tiên lên tàu, lái tàu đến hỏi bà ta có biết một cô gái nào biết đàn hát không, trên tàu có một phú thương Mexico đào dầu hỏa thích nghe mấy thứ này, nếu có thì mời đến trong khoang tàu của gã ca hát. Trong thời gian hai tuần lễ, không biết phú thương kia đã chi bao nhiêu đô la cho cô ta nữa rồi. Nếu đổi lại là cô gái khác thì đã lập tức hớn hở vui vẻ làm “kim ốc tàng kiều” của phú thương kia. Diệp Thùy Hồng ngày ngày phong quang rạng rỡ ra vào khoang hạng nhất, nhưng lại không để phú thương kia chiếm lợi chút nào. Lúc đi qua Honolulu, phần lớn các cô gái ở khoang hạng bét đều biết chuyện Mộng Khanh tìm đến cái chết. Sau khi mua khoang hạng ba cho cô nghỉ ngơi, lúc này Khương Tố mới tìm được Diệp Thùy Hồng, muốn báo cho cô ta biết: đi theo phú thương Mexico kia thì sẽ không bị luật pháp nước Mỹ can thiệp, ngày sau đeo vàng đeo bạc bay lên cành cao, là điều mà đám con gái ở phố người Hoa có nằm mơ cũng không cầu được. Khương Tố gộp hai chuyện này lại với nhau, tìm Diệp Thùy Hồng bàn bạc. Vậy mà cô ta vừa nghe đã lập tức nói, “Vốn tôi cũng không định làm dâu nhà họ Hồng.” Nhưng cô ta vẫn không lạnh không nóng với phú thương Mexico kia. Khương Tố giật mình, có lẽ cô đào kép này chỉ muốn chạy ra nước ngoài. Ban đầu đã coi thường Hồng Lương Sinh thì sao có thể an phận làm dâu nhà họ Hồng được? Diệp Thùy Hồng lại rất dè dặt ăn nói trước chuyện lần này. Khương Tố biết mình không thể hỏi gì được nên cũng không hỏi thăm nhiều. Nói đến chuyện hai cô gái trên tàu bị trời xui đất khiến đưa ra khỏi biên giới, Khương Tố cảm khái, “Đây chắc là ý trời rồi, ý trời khó trái.” Giọng khàn khàn của bà ta vô cùng chói tai, Hoài Chân nghe không nổi nữa, dứt khoát ngồi dậy, mở cửa sổ mạn tàu ra. Hai người ở sau lưng đều bị cô làm cho giật mình, im lặng một lúc lâu. Gió vù vù thổi vào tai. Hoài Chân còn chưa thoải mái được hai giây thì Diệp Thùy Hồng đột nhiên đến gần, “rầm” một tiếng đóng cửa sổ lại. Hoài Chân hé mắt, vừa như ngủ lại không phải ngủ, quay đầu nhìn cô ta. Diệp Thùy Hồng cười cười, “Khó khăn lắm mới cứu cô sống lại, cô đừng nghĩ đến chuyện nhảy xuống biển tìm chết nữa.” Hoài Chân bật cười, bụng nghĩ, cửa sổ này còn không to hơn đầu cô thì nhảy ra ngoài thế nào được. Bỗng ngoài hành lang truyền đến tiếng chạy bình bịch, không biết là ai, chỉ nghe miệng lớn tiếng kêu: “San Francisco! Có phải đến San Francisco rồi không ——” Hoài Chân nghe tiếng nhìn ra ngoài. Thế giới trong cửa kính to chừng bàn tay được chia làm hai: Nửa dưới là sóng biển thăm thẳm vỗ vào bờ, nửa trên là thế giới màu vàng. Trong thế giới chỉ to hơn bàn tay mình một chút, cô nhìn thấy hải cảng màu trắng đậu đầy tàu thuyền ở xa xa đang đắm chìm trong tia nắng ban mai sắc vàng. Mặt trời trên biển vẫn chưa dâng lên, càng ngày càng gần hải cảng màu trắng rộng rãi bên kia. Những chàng trai cô gái xuất ngoại du học hoan hô chạy ra, bên trong có người hỏi: “San Francisco ở đâu?” “Không phải đó sao! Hải đăng to lớn kia có phải là San Francisco không?” Thì ra là hải đăng. Chùm sáng từ hải đăng chiếu rọi như cảnh vẽ, tại cửa sổ nho nhỏ này, nó như mơ hồ khắc họa lại bức tranh cổ xưa tuyệt đẹp trên những con tem. Hoài Chân xoa lớp kính bị hơi thở làm mờ, trong nhất thời nhìn đến xuất thần.