Tranh luận: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

Thảo luận trong 'Trường lớp, học hành' bởi rucon_ngannam, 26/7/2010.

  1. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Chào các mẹ: hiện nay việc dạy dỗ trẻ từ nhỏ đã và đang được quan tâm nhiều hơn, nhưng các mẹ mới chỉ chú yếu nhiều đến việc cho con đi học như thế nào, chứ chưa quan tâm tìm hiểu tận gốc rễ vấn đề. Liệu có mẹ nào hiểu rõ hẳn thế nào là năng lực học hỏi chưa? Hay đối với các bé thì năng lực học hỏi như thế nào? Từ việc phát hiện và phát triển năng lực học hỏi của con để giúp con định hướng nghề nghiệp, hay các bậc phụ huynh chỉ đơn thuần là dựa vào hiện trạng xã hội rồi định hướng nghề nghiệp cho con?
    Với topic này em hi vọng chia sẻ được với các mẹ sâu hơn về vấn đề năng lực học hỏi và việc định hướng phát triển nghề nghiệp cho trẻ. Mối quan hệ giữa năng lực học hỏi và nghề nghiệp của trẻ nhỏ là như thế nào?
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi rucon_ngannam
    Đang tải...


  2. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Các năng lực của trẻ và hướng phát triển.

    (Hiếu học). Mỗi người trong chúng ta đều có cá tính, sở thích, thị hiếu khác nhau, trẻ em cũng thế. Và do đó, chúng cũng sẽ có cách học khác nhau. Các bậc phụ huynh cần hiểu biết và đánh giá đúng những sự khác biệt này. Thông qua quan sát, các bậc cha mẹ có thể biết được con mình có dạng nổi trội về mặt nào để chúng ta có thể phát triển các hoạt động phù hợp với khả năng của con trẻ.

    Trẻ có thể học tập thông qua ngôn ngữ / lời nói
    - Nhạy cảm với ngữ nghĩa, nhịp điệu, âm thanh của các từ.
    - Bé thích thú với việc kể chuyện và viết lách.
    - Thích đọc, thơ ca, truyện cười và thích thú khi chơi với các trò đố chữ, giải đáp các câu đố, …
    +Gợi ý cho các bậc cha mẹ
    - Hãy cùng đọc với con của bạn.
    - Hãy lắng nghe con của bạn một cách chăm chú về những câu hỏi, những trải nghiệm của chúng.
    - Khuyến khích con bạn kể cho bạn nghe những câu chuyện mà chúng vừa đọc hoặc chia sẻ với bạn.
    - Cho trẻ cơ hội tham viếng các thư viện công cộng hoặc các nhà sách.
    - Cho trẻ tham gia viết báo tường của lớp.

    Trẻ có thể học tập thông qua phân tích logic / toán học (logical)
    - Thích chơi các trò chơi liên quan đến các con số, trò chơi ghép hình, làm các thử nghiệm.
    - Có kỹ năng lập luận tốt và biết đặt các câu hỏi có tính logic.
    - Thích các trật tự và những chỉ dẫn tuần tự từng bước.
    + Gợi ý cho các bậc cha mẹ
    - Hãy để cho trẻ được làm các thí nghiệm/ thử nghiệm.
    - Chỉ cho con bạn cách sử dụng máy tính (calculator)
    - Chơi các loại cờ như cờ vua, cờ tướng, carô, …
    - Yêu cầu trẻ giải các bài toán mẫu cho lớp xem.
    Hãy giải thích cho trẻ hiểu rằng những sự vật mà chúng quan sát được có thể sắp xếp theo nhóm về màu sắc, hình dáng hay các đặc điểm khác. Hãy cùng bé chơi trò chơi xếp đồ vật thành các nhóm có đặc tính tương tự nhau và cụ thể hóa bằng cách giúp bé tạo ra những đồ thị, vẽ trên giấy hình ảnh các món vật dụng đó. Tiến xa hơn nữa, bạn hãy cùng trẻ thảo luận về nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau đó.


    Trẻ có thể học tập thông qua thị giác / hình ảnh (visual)
    - Thích tạo ra các hoa văn, hình vẽ và cần có sự kích thích về thị giác.
    - Hay mơ mộng.
    - Có năng khiếu về nghệ thuật.
    Hướng dẫn trẻ tập quan sát các hiện tượng xung quanh từ những sự vật đơn giản như những bông hoa mọc sau vườn khi bạn đi dạo cùng chúng hay những đồ chơi khi thả trong bồn tắm sẽ nổi hay chìm. Hãy khuyến khích trẻ sử dụng hết các giác quan khi quan sát sự vật cũng như đứng từ nhiều góc độ khác nhau, khoảng cách để quan sát chúng. Sau đó, bạn hãy đưa ra những câu hỏi: Con thấy nó màu gì, nó có mùi gì, nó kêu như thế nào?

    Bé là người có thể học tập thông qua âm nhạc (musical)
    - Thích chơi các nhạc cụ, thích hát hò, gõ trống
    - Thích các âm thanh như giọng nói, âm thanh tự nhiên, âm thanh từ nhạc cụ.
    - Học dễ dàng hơn nếu có bật nhạc hoặc có các vật gì đó gõ nhịp.
    +Gợi ý cho các bậc cha mẹ
    - Cho phép con bạn lựa chọn các bản nhạc tại cửa hàng bán băng đĩa nhạc.
    - Khuyến khích trẻ hát theo hoặc vỗ tay theo nhịp điệu một bản nhạc.
    - Nếu có thể, cho trẻ tham gia vào các buổi học âm nhạc.
    - Cho trẻ có cơ hội được đi tham dự các buổi trình diễn âm nhạc hay hòa nhạc.
    - Cho trẻ cùng tham gia và hướng dẫn các bạn trong lớp hát một bài, hoặc tham gia đội văn nghệ.

    Trẻ có thể học tập thông qua vận động (physical)
    - Bé khỏe mạnh và năng động.
    - Thích đóng kịch, khiêu vũ, thể hiện bản thân với những hành động và chuyển động của cơ thể.
    - Học tập thông qua các chuyển động của cơ thể và thông qua việc chạm vào và cảm giác về sự vật.
    - Sử dụng các chuyển động, cử chỉ, điệu bộ và các biểu hiện cơ thể để học hỏi và giải quyết vấn đề.
    + Gợi ý cho các bậc cha mẹ
    - Cho trẻ tham gia vào các hoạt động khiêu vũ, đóng kịch, thể thao.
    - Cung cấp các hoạt động thực nghiệm lôi cuốn.
    - Đi bộ, chạy bộ, chơi tennis, đạp xe,…cùng gia đình.
    - Giáo viên thể dục có thể nhờ trẻ làm các động tác thể dục mẫu cho cả lớp.

    Trẻ có thể học tập thông qua hoạt động hướng ngoại (extrovert)
    - Trẻ là người thích giao tiếp xã hội.
    - Có thể “đọc” được các cảm xúc và cách cư xử của người khác.
    - Là nhà lãnh đạo xuất sắc và thích tham gia đội nhóm.
    - Có thể giúp đỡ bạn cùng tuổi và làm việc hợp tác với những người khác.
    + Gợi ý cho các bậc cha mẹ
    - Chơi những trò chơi gia đình.
    - Khuyến khích con bạn tham gia vào các hoạt động nhóm.
    - Khuyến khích thảo luận và giải quyết vấn đề.
    - Giao cho trẻ vai trò quản lý nhóm khi chia nhóm học tập trong lớp.

    Trẻ có thể học tập thông qua hoạt động hướng nội (introvert)
    - Thích làm việc độc lập
    - Biết tự động viên, khuyến khích bản thân và thích các hoạt động một mình.
    - Thường tách ra và không đi theo xu hướng của đám đông.
    - Có khả năng hiểu cảm xúc, động lực và tâm trạng của mình.
    + Gợi ý cho các bậc cha mẹ
    - Cho trẻ có thời gian làm việc và chơi một mình.
    - Yêu cầu trẻ hãy tạo ra vài thứ gì đó cho toàn gia đình để trẻ có cơ hội làm việc mình thích.
    - Khuyến khích trẻ lưu giữ nhật ký hoặc các ghi chép hàng ngày.
    Trẻ có thể học tập thông qua hoạt động thực tế (existential).
    Mở rộng hiểu biết về các hiện tượng khoa học cho trẻ bằng cách quan sát những hiện tượng tương tự như thế trong cuộc sống và trong tự nhiên. Bạn hãy giúp trẻ lặp lại những thí nghiệm nhưng thay đổi đi các yếu tố tác động, ví dụ như bạn hãy cho trẻ quan sát cây sẽ phát triển ra sao dưới ánh sáng của bóng đèn điện? Trước khi thay đổi các điều kiện tác động đó thì bạn hãy hướng dẫn trẻ tập phán đoán trước điều gì sẽ xảy ra trước khi thử nghiệm.
    Với những năng lực rất cơ bản này, bạn hãy theo dõi xem trẻ có thích những chủ đề mà bạn hương dẫn không? Nếu có thì bạn hãy thường xuyên giúp trẻ tiếp xúc với những hiện tượng khoa học khác xung quanh ta. Thường xuyên đọc sách báo về khoa học để cho trẻ được tìm hiểu thêm những lĩnh vực mà chúng quan tâm, có thể giúp trẻ phát triển theo đúng thế mạnh của chúng.

    Chúc các bạn thành công.

    Theo Frames of Mind.(Tsĩ. Howard Gardner-Harvard).
    Nghi Quân.(Hieuhoc.com.).
    Đây là bài báo mình đọc được, khá hay và bổ ích cho vấn đề này. Mọi người cùng đọc và chia sẻ thêm ý kiến nhé!
     
    trecoitruongminhthu thích.
  3. truongminhthu

    truongminhthu Thành viên tập sự

    Tham gia:
    8/5/2010
    Bài viết:
    18
    Đã được thích:
    4
    Điểm thành tích:
    3
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    cám ơn bạn nhờ có bài của bạn mình đã học được rất nhiều thứ
     
  4. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Không có j bạn à. Tớ cũng muốn được học hỏi từ mọi người nhiều hơn nữa về vấn đề này!
     
  5. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Dạy con tuổi lên 2
    (Dân trí) - Mỗi giai đoạn phát triển con bạn cần những kỹ năng chăm sóc, dạy dỗ khác nhau. Hãy lưu ý những điều sau khi bé bắt đầu biết đi lẫm chẫm:


    7. Nắm tay bé ở nơi công cộng

    Bé mới biết đi nên rất hào hứng với phong cảnh lạ và sung sướng khi tự đi được đến nơi mà trí tò mò kêu gọi. Thế nhưng, không bao giờ bạn được phép chủ quan để bé đi lung tung. Bởi dù bạn nghĩ bé vẫn nằm trong tầm kiểm soát của mình, nhưng chỉ thoáng chốc bé có thể đã thoát khỏi tầm nhìn của bạn và gặp nguy hiểm.

    6. Không tranh luận với bé

    Khi trẻ nói “không” thì bạn cũng đừng tranh luận, hãy phớt lờ. Bạn càng cố tranh luận trẻ sẽ càng cãi lại, và trước khi bạn kiểm soát được thì cuộc cãi vã đã trở nên căng thẳng kèm với trẻ la khóc. Đừng dạy bé “cãi nhau” với mẹ.

    5. Thắt dây an toàn cho trẻ

    Trẻ lúc này chưa có khả năng tự bảo vệ mình và phản ứng nhanh nhạy khi có tình huống bất ngờ xảy ra trên đường. Đã có rất nhiều trẻ bị tai nạn chỉ vì cha mẹ bất cẩn để con ngồi trước xe hoặc sau xe máy mà không có ghế và dây đai an toàn. Kể cả khi ngồi trên ô tô bạn cũng nên thắt đai an toàn cho trẻ, không để trẻ nô đùa, nhảy nhót trong xe.

    4. Cho trẻ hiểu tình yêu của bạn

    Hãy thể hiện tình yêu và sự quan tâm tới trẻ. Chỉ cho bé thấy bạn yêu chúng như thế nào bằng cách sẵn sàng giúp đỡ khi bé cần tới bạn. Tặng bé những nụ hôn vào mỗi tối và nói với bé rằng bố/mẹ yêu con. Những cử chỉ nho nhỏ ấm áp ấy sẽ dạy bé biết cách yêu thương và cảm nhận được hạnh phúc trong mái ấm gia đình.

    3. Dạy trẻ không nói chuyện với người lạ

    Trẻ lúc này rất thích khám phá bên ngoài, chưa hiểu việc tốt xấu và cũng rất dễ bị dụ dỗ bởi kẻ xấu. Nếu bạn thấy trẻ nói chuyện với người lạ thì cần khuyên bảo nhẹ nhàng, dạy trẻ không nên nói chuyện với những người mình không quen.

    2. Giúp bé tập làm việc nhà

    Khi bạn gấp quần áo, hãy để trẻ giúp bạn. Khi bạn quét nhà, hãy cho bé cùng tham gia. Điều này sẽ dạy trẻ trách nhiệm làm việc, chăm sóc gia đình và cũng chính ở tuổi này trẻ rất yêu thích được giúp đỡ mọi người đấy.

    1. Không uống rượu khi có trẻ

    Trẻ con học thói quen của người khác rất nhanh vì vậy bạn không nên uống rượu bia trước mặt trẻ, trẻ dễ bắt chước hoặc đòi uống cùng. Hình ảnh bạn say khướt, không kiểm soát được hành động lời nói sẽ làm trẻ hoảng sợ, thậm chí chán ghét bố mẹ.

    Trẻ em ở mỗi lứa tuổi đều cần được quan tâm, bạn nên chú ý nhận ra những khác biệt về tâm sinh lý để có những điều chỉnh dạy dỗ cho phù hợp.

    Minh Anh
    Theo AWT
    Đây cũng là một bài báo hay cho việc dạy con tuổi lên 2. Gửi các mẹ đọc nhé!
     
  6. Bongcoiyeubo

    Bongcoiyeubo Thành viên chính thức

    Tham gia:
    30/7/2010
    Bài viết:
    284
    Đã được thích:
    17
    Điểm thành tích:
    18
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    May quá, đúng cái mình cần; cảm ơn mẹ nó đã chia sẻ
     
  7. Bongcoiyeubo

    Bongcoiyeubo Thành viên chính thức

    Tham gia:
    30/7/2010
    Bài viết:
    284
    Đã được thích:
    17
    Điểm thành tích:
    18
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    may quá, đúng giai đoạn của con mình, cảm ơn mẹ nó đã chia sẻ
     
  8. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Cảm ơn mẹ nó. Hi vọng giúp được j cho mẹ nó!
     
  9. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Dạy bé về thời gian qua từng độ tuổi

    Khi bé 2 tuổi, bạn có thể dạy con ghi nhớ các mốc thời gian bằng cách kể cho bé nghe các câu chuyện có tình tiết mạch lạc rồi hướng dẫn để bé kể câu chuyện theo trình tự sẵn có.

    Hướng dẫn bé nắm bắt được các khái niệm về thời gian là cách giúp con phát triển tư duy, trí nhớ, kỹ năng ngôn ngữ và cả ý thức tự lập. Ở mỗi độ tuổi, bé lại có những khám phá riêng về thời gian.

    Dưới 12 tháng tuổi

    Bộ não chưa hoàn thiện nên bé chưa hiểu khái niệm về các mốc thời gian. Bé chỉ có thể cảm nhận được lúc mình đói, muốn ăn hay đi ngủ. Vì thế, bạn có thể cho con làm quen các cụm từ chỉ thời gian qua các bài hát ru.

    12 - 15 tháng tuổi

    Lúc này, bé có thể hiểu được một cách đơn giản ý nghĩa của các con số. Chẳng hạn, khi bé đánh rơi 2 chiếc cốc xuống sàn và bạn nhắc bé: "Con nhặt cả 2 cái cốc lên". Nhận biết được các con số là bước khởi đầu để bé làm quen với khái niệm về thời gian. Bạn có thể dạy bé biết đếm số theo đúng thứ tự 1 - 2 - 3 khi sắp xếp đồ chơi.

    21 tháng tuổi

    Đến giai đoạn này, bé có thể hiểu và sử dụng tốt các cụm từ mang ý nghĩa thời gian như "bây giờ" và "lát nữa". Bạn có thể giúp bé ghi nhớ các mốc thời gian cơ bản qua một câu chuyện. Mẹ nên chú ý chọn các truyện có tình tiết mạch lạc và chứa đựng những khoảng thời gian như thứ hai, thứ ba hay buổi sáng, buổi chiều ... Sau đó, bạn hướng dẫn bé tự kể hết câu chuyện theo trình tự sẵn có.

    Bạn cũng có thể tóm tắt các ý chính trong truyện theo những mốc thời gian cố định để bé dễ ghi nhớ. Điều này giúp bé phát triển tư duy logic cũng như khả năng liên kết các sự vật, hiện tượng một cách có khoa học.

    2 - 3 tuổi

    Giai đoạn này, bé có thể nhận biết được những cụm từ chỉ thời gian mà bạn thường sử dụng. Chẳng hạn, khi bạn nói "Cuối tuần mẹ sẽ đưa con đi công viên", bé sẽ không đòi đi ngay nữa. Cho dù thực tế bé vẫn chưa phân biệt được chính xác cuối tuần là khi nào nhưng bé cũng nhận biết được không phải là ngày hôm nay.

    Bạn cũng thấy bé có thể phân biệt được các mốc thời gian trong quá khứ và tương lai. Vì vậy, bạn nên hướng dẫn để bé không nhầm lẫn. Chẳng hạn khi bé nói: "Ngày mai mẹ đi làm", bạn có thể gợi ý để con đổi lại thành: "Ngày mai mẹ sẽ đi làm".

    3 tuổi là khoảng thời gian bé học hỏi nhiều từ vựng mới. Lúc này bạn có thể cùng bé đề ra một thời gian biểu cho những công việc hằng ngày. Mặc dù chưa biết xem đồng hồ hay lịch nhưng bé nhận biết rõ ràng được hôm qua, hôm nay hay buổi sáng, buổi tối ... Bạn tập cho con làm mọi việc theo thời gian biểu sẽ giúp bé hình thành ý thức cá nhân một cách có kỷ luật.

    3 - 4 tuổi

    Bé đã hiểu được một số mốc thời gian cơ bản khi trò chuyện với bạn. Bé ghi nhớ tốt các khái niệm về hôm qua hay ngày mai, thậm chí còn hiểu được nghĩa cụm từ "chủ nhật hàng tuần" khi nghe bạn hứa "Chủ nhật hàng tuần mẹ sẽ đưa con về thăm bà ngoại".

    Giai đoạn này, bạn nên tổ chức một số trò chơi giúp bé ghi nhớ tốt như trò đếm số, xếp hình, ghép chữ ... Mẹ cũng có thể dạy bé làm quen và ghi nhớ thứ tự các ngày trong tuần để giúp bé phát triển trí tuệ và tránh nhầm lẫn.

    4 - 5 tuổi

    Giai đoạn này, bé có thể nhận biết được các mốc thời gian quan trọng như sinh nhật mình hay các dịp lễ tết. Bé cũng dễ dàng sử dụng thành thạo các cụm từ như "30 phút trước" hay "10 phút nữa" khi muốn đề nghị bạn làm một việc gì.

    Bạn có thể sắm cho con một chiếc đồng hồ cát và hướng dẫn bé sử dụng. Chẳng hạn khi cát chảy hết tương đương với 15 phút, dốc ngược lại bé sẽ được thêm 15 phút nữa.

    Trên 5 tuổi

    Bé thích nghe ông bà hay bố mẹ kể chuyện ngày xưa. Nếu nghe bà nội nói: "Hồi xưa, bằng tuổi Bi, bố con cũng hay tè dầm lắm", bé sẽ rất thích thú. Bạn có thể cho bé xem những bức ảnh chụp khi bé còn nhỏ để giúp con hình thành ý thức về các khoảng thời gian rõ ràng hơn.

    Khoảng 6 tuổi, bé có thể nói chính xác ngày tháng năm sinh của mình khi có người hỏi. Bé cũng biết khoảng thời gian nào bạn yêu cầu bé đi ngủ hay thời điểm cần đến lớp...

    Bạn cũng có thể đặt chuông báo thức đồng hồ để bé biết mình thức giấc là 7 giờ. Dần dần, bé sẽ tự biết xem đồng hồ. Đây là cách giúp bé nhận diện tương đối chính xác con số trên mặt đồng hồ. Vì vậy, bé sẽ bớt bỡ ngỡ khi bước sang giai đoạn học vần.
    Nguồn: Mevabe.ne
     
  10. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Năng lực nghề nghiệp

    TQĐT - Trong vấn đề lao động việc làm hiện nay, điều tối quan trọng là năng lực nghề nghiệp, gọi nôm na là tay nghề. Việc nhỏ trong gia đình cũng có thể có người làm nhanh, làm chậm, làm tốt, làm chưa tốt.




    Trong sản xuất công nghiệp, phong trào "Luyện tay nghề thi thợ giỏi" thu hút được đông đảo
    lao động trẻ tham gia. Ảnh: Nịnh Hà
    Muốn có nghề, tất phải học nghề. Học có nhiều đường học và nó phụ thuộc rất lớn vào lòng say mê nghề nghiệp của mỗi người. Nhiều người, kể cả già lẫn trẻ hiện vẫn có sự phân biệt nghề nghiệp, nhất là với nghề nông; phân biệt sự học đối với những người học nghề. Tình trạng thừa thầy kém, thiếu thợ giỏi đang hiện hữu ở tất cả các địa phương, các ngành, nghề. Hơn thế, tâm lý "đứng núi nọ trông núi kia" vẫn tồn tại ở không ít người...


    Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang mở ra cơ hội mới cho tất cả chúng ta, nhất là tuổi trẻ, kể cả tuổi trẻ ở thành thị. Ở nông thôn không chỉ có một nghề, nếu có "đầu óc", có năng lực quản lý, có năng lực sản xuất, kinh doanh, bất kể ai cũng có thể biến vùng đất hẻo lánh, nghèo nàn thành nông trang, nông trại, thậm chí thành cơ sở du lịch, dịch vụ có tiếng tăm trong và ngoài nước. Vì sao, lúc tuổi còn trẻ người ta không học cách bó một bó rau, bó hoa, sao một mẻ chè... cho đẹp, cho ngon, trong khi học chưa đến nơi đến chốn lại mơ thành... thầy thiên hạ? Tại sao học về làm việc tại cơ quan, đơn vị mà sản phẩm của mình lại không bằng người khác?...

    Hãy tự rèn mình trở thành người giỏi ngay trong lĩnh vực mình đang làm, bất kể là thầy hay thợ và đừng bao giờ "bay lên trời" khi mình chưa đủ lông đủ cánh!

    Vân Hiền
     
  11. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Phân tích năng lực nghề nghiệp
    Căn cứ vào một số phân tích của học giả đối với năng lực nghề nghiệp, thông thường có thể tiến hành phân tích năng lực thành 9 mặt dưới đây.

    (1). Năng lực học tập thông thường

    Nó chỉ năng lực của giải thích vấn đề như nhận thức, giải thích khách quan sự vật và vận dụng tri thức kinh nghiệm của mọi người, lại có thể gọi là trí lực. Nó bao gồm năng lực trí nhớ, năng lực quan sát, năng lực chú ý, năng lực tưởng tượng, năng lực tư duy, đặc biệt là năng lực tư duy logic. Năng lực học tập thông thường là năng lực cần được chuẩn bị đầy đủ, sử dụng rộng rãi trong học tập, công việc và trong hoạt động thường ngày của mọi người. Trình độ nghề nghiệp hoặc chuyên nghiệp càng cao đối với năng lực học tập thông thường của con người là.

    (2). Năng lực ngôn ngữ

    Nó chỉ năng lực sử dụng và lý giải của con người đối với những từ có hàm ý khác, năng lực lý giải đối với từ vựng, câu, đoạn, bài văn. Người giỏi về năng lực là biểu đạt quan điểm của mình và giới thiệu tin tức cho người khác một cách rõ ràng và chính xác, nói một cách đơn giản, nó bao gồm năng lực biểu đạt lời nói và năng lực giải thích của văn chữ ngôn ngữ. Nghề nghiệp không giống nhau yêu cầu không giống nhau đối với năng lực ngôn ngữ của con người. Ví dụ: những nghề nghiệp cần có chuẩn bị đầy đủ năng lực ngôn ngữ khá cao như: giáo viên, luật sư, nhân viên kinh doanh, nhân viên tư vấn, y tá.

    (3). Năng lực tính toán

    Là chỉ năng lực tính toán với tốc độ nhanh mà chính xác. Đa số nghề nghiệp đều yêu cầu mọi người có năng lực tính toán nhất định, nhưng những nghề nghiệp không giống nhau yêu cầu trình độ không giống nhau đối với năng lực tính toán của con người. Ví dụ như: đối với kế toán, thủ quỹ, thống kê, kiến trúc sư, thầy thuốc, đối với những nghề nghiệp này, nhân viên làm việc cần phải có năng lực tính toán khá cao; đối với quan tòa, luật sư, người nghiên cứu lịch sử học, ý tá, bác sĩ chụp X quang v.v… yêu cầu nhân viên làm việc có chuẩn bị đầy đủ năng lực tính toán trong trình độ trung bình; đối với diễn viên, nhân viên trực tổng đài, nhân viên tiếp tân, đầu

    bếp, thợ cắt tóc, hướng dẫn viên du lịch, công nhân hầm mỏ.v.v… những nghề nghiệp này yêu cầu rất thấp đối với năng lực tính toán.

    (4). Năng lực phán đoán không gian

    Là chỉ mối quan hệ có thể nhìn hiểu được của hình học không gian, phân biệt vật thể trong vận động không gian, giải quyết năng lực của những đề hình học không gian. Nếu như một sở thích của một người về hình học không gian và hình lập thể, năng lực phán đoán của người này thì rất cao. Những công việc mà có liên quan như đồ họa, kỹ sư, kiến trúc sư, với những nghề nghiệp như bác sĩ nha khoa, bác sĩ khoa nội, ngoại, những nghề này yêu cầu rất cao đối với năng lực phán đoán không gian; đối với thợ may, thợ điện, đồ mộc, nhân viên sửa chữa điện thoại không dây, công nhân cỗ máy, những nghề này mà nói cũng yêu cầu có năng lực phán đoán không gian nhất định, mới có thể đảm nhận được.

    (5). Năng lực tri giác trạng thái

    Là chỉ năng lực tri giác mà có quan hệ chi tiết đối với vật thể và hình tượng. Ví dụ như đưa ra sự so sánh và khác biệt tri giác của độ dài và độ rộng của tuyến, có thể nhìn thấy sự khác biệt của những chi tiết khác. Đối với nhà sinh vật học, kiến trúc sư, nhân viên đo đạc, nhân viên đồ họa, nhân viên kỹ thuật nông nghiệp, nhân viên kỹ thuật động thực vật, bác sĩ, bác sĩ thú y, người chế thuốc, họa sĩ, nhân viên sửa chữa vô tuyến điện, nhu cầu tri giác trạng thái khá cao, mà đối với nhà lịch sử học, nhà chính trị học, nhân viên phục vụ xã hội, nhân viên tiếp tân người bán vé, nhân viên văn phòng tri giác trạng thái là rất quan trọng khi không hiển thị ra ngoài.

    (6). Năng lực văn mật. (văn thư, lưu trữ tài liệu)

    Là chỉ năng lực tri giác của chi tiết tài liệu đối với ngôn ngữ và cách thức biểu đạt. Ví dụ như phát hiện chữ sai hoặc chính xác của năng lực đính chính chữ số v.v… giống như công việc của nhà thiết kế, kinh tế. Ghi chép, thủ quỹ, văn phòng, đánh chữ v.v… đều chuẩn bị đầy đủ năng lực văn mật nhất định.

    (7). Năng lực nhịp nhàng của tay và mắt

    Đây là năng lực phản ứng vận động đưa ra động tác chính xác của tay và mắt, nhịp điệu và tốc độ. Đối với nhân viên lái tàu, nhân viên lái máy bay, nhân viên thao tác tính toán, bác sĩ nha khoa, bác sĩ khoa ngoại, nhà điêu khắc, vận động viên, diễn viên múa mà nói, năng lực này biểu hiện rất quan trọng.

    (8). Độ linh hoạt của ngón tay

    Là chỉ năng lực mà tốc độ của ngón tay thao tác vật thể nhỏ một cách chính xác, hài hòa. Công nhân dệt, nhân viên đánh chữ, thợ may, bác sĩ khoa ngoại, y tá, nhà điêu khắc, họa sĩ, nhạc sĩ v.v… ngón tay cần thiết phải linh hoạt hơn người bình thường.

    (9). Độ kỹ xảo của ngón tay

    Là chỉ năng lực hoạt động của ngón tay linh hoạt mà nhanh, giống ngư công việc của: vận động viên thể dục, nhà vũ điệu, họa sĩ, bác sĩ thú y v.v… Ngón tay cần phải hoạt động linh hoạt. Ngoài ra, người làm công việc quản lý và người làm công việc xã hội đều nên chuẩn bị năng lực giao tiếp với người khác khá tốt. Năng lực giao tiếp là chỉ năng lực tham gia cuộc sống quần thể xã hội, giao tiếp với những người xung quanh, duy trì nhịp nhàng, rất khó tưởng tượng một người mà không biết giao tiếp với người khác, có đủ khả năng đưa ra những thành tựu trong công việc xã hội. Quá trình của người chọn nghề chính là quá trình giao tiếp với người khác, không biết giao tiếp với người khác thì rất khó tìm được công việc như ý.
     
  12. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Năng lực và phân loại khác
    Năng lực là chỉ đặc trưng tâm lý cá tính mà ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất, làm cho nhiệm vụ đó có thể hoàn thành thuận lợi. Năng lực luôn liên kết hòa hợp với người hoàn thành hoạt động nhất định. Đồng thời, nó là một loại hoạt động nào đó khảo sát năng lực của con người, ví dụ: hòa tấu và điệu khúc đối với người từng hoạt động âm nhạc là chuyện không thể thiếu được, tỷ lệ của sự chính xác quan hệ đối với người từng hoạt động hội họa là không thể thiếu sót. Thiếu những đặc trưng tâm lý này thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu suất của hoạt động, làm cho những hoạt động này không thể tiến hành thuận lợi, vì những đặc trưng tâm lý này chính là bảo đảm có liên quan đến hoạt động hoàn thành của năng lực. Nhưng đồng thời không phải biểu hiện ra những đặc trưng tâm lý trong tất cả hoạt động đều là năng lực, và trực tiếp ảnh hưởng hiệu quả hoạt động. Làm cho nhiệm vụ hoạt động để hoàn thành thuận lợi của đặc trưng tâm lý, mới là năng lực. Giống như những đặc trưng: nôn nóng, hoạt bát, vững vàng. Tuy nhiên với hoạt động có thể tiến hành thuận lợi hay không có quan hệ nhất định, nhưng thông thường mà nói, chúng đồng thời không phải là điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động, vì vậy không thể gọi là năng lực. Năng lực nghề nghiệp là phát triển đi lên trong hoạt động nghề nghiệp, trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động nghề nghiệp, làm cho hoạt động nghề nghiệp hoàn thành thuận lợi đặc trưng tâm lý. Cái gọi là hiệu suất hoạt động là chỉ tốc độ của hoạt động, trình độ và chất lượng của kết quả. Bất luận làm nghề nghiệp gì, luôn phải có điều kiện bảo đảm của mặt hành vi và tâm lý nhất định, ví dụ như: thầy giáo phải hoàn thành hoạt động dạy học, ngoài những lập trường, quan điểm, tri thức chuyên nghiệp cụ thể ra, còn phải chuẩn bị năng lực tổ chức, năng lực trí nhớ, năng lực biểu đạt lời nói đối với giáo án v.v… còn đối với giám đốc, ngoài việc chuẩn bị năng lực nghiệp vụ của công ty này ra, còn phải chuẩn bị năng lực quản lý, năng lực tổ chức, năng lực dự tính và năng lực giao tiếp. Với khối lượng nghiên cứu và thực tiễn đã chứng minh, bất luận làm bất cứ loại hoạt động nào, nếu chỉ có một loại năng lực là không đủ, mà còn phải kết hợp hoàn mỹ của nhiều loại năng lực. Hoạt động của con người là rất đa dạng, năng lực của con người cũng có các loại hình đa dạng phong phú. Từ góc độ không giống nhau có thể phân loại không giống nhau đối với tiến hành năng lực. Thông thường có thể đem năng lực phân thành năng lực thông thường, năng lực đặc biệt, năng lực thao tác và năng lực giao tiếp xã hội.

    (1). Năng lực thông thường

    Năng lực thông thường là chỉ các loại hoạt động đều có một số năng lực chung mà cần thiết. Tương đương với những người thông thường bao gồm:

    1. Năng lực chú ý. Chỉ hoạt động tâm lý tập trung và vực của thế giới tri thức nhân loại và thế giới cải tạo, nếu đều có tác dụng quan trọng. Khác biệt của năng lực quan sát chủ yếu thể hiện trong loại hình quan sát không giống nhau. Ví dụ như: loại hình phân tích của quan sát, loại hình tổng hợp của quan sát và loại hình tổng hợp phân tích v.v…

    2. Năng lực quan sát. Là một loại có mục tiêu dự tính, có kế hoạch, quá trình tri giác của chủ động. Quan sát tất cả địa vị xã hội của tri giác, trong tất cả các lĩnh Quý Long – 1 vực của thế giới tri thức nhân loại và thế giới cải tạo, nếu đều có tác dụng quan trọng. Khác biệt của năng lực quan sát chủ yếu thể hiện trong loại hình quan sát không giống nhau. Ví dụ như: loại hình phân tích của quan sát, loại hình tổng hợp của quan sát và loại hình tổng hợp phân tích v.v…

    3. Năng lực trí nhớ. Là chỉ những người có năng lực của phân biệt sự vật, duy trì hồi ức đối với quá khứ. Bao gồm các mặt như tốc độ của trí nhớ, tính bền bỉ và tính chính xác, là phần quan trọng của kết cấu trí lực.

    4. Năng lực tư duy. Là chỉ năng lực phân tích, tổng hợp, trừu tượng, tổng quát đối với sự vật, là trung tâm của kết cấu trí lực. Sự khác biệt của năng lực tư duy cá thể chủ yếu biểu hiện ở các mặt như: tính rộng lớn và tính sâu sắc của tư duy, tính độc lập và tính phê phán, tính linh hoạt và tính nhạy cảm.

    5. Năng lực tưởng tượng. Là chỉ năng lực biểu tượng tiến hành gia công cải tạo mà sáng tạo hình tượng đã có trong não người đối với não. Ai –yin- si- tan gọi nó là “nhân tố thực tại trong nghiên cứu khoa học”. Năng lực tưởng tượng là những nhân viên thiết kế công trình, kiến trúc sư, kỹ sư cơ giới, thiết kế thời trang, người làm công việc nghệ thuật và tất cả những hoạt động có tính sáng tạo.

    Năm loại nhân tố của năng lực thông thường, trong quá trình nhận thức, có tác dụng đặc biệt của các loại. Có thể nói, năng lực chú ý là cảnh vệ của hoạt động nhận thức, lại là nhân tố duy trì của hoạt động nhận thức; năng lực quan sát là đôi mắt của hoạt động nhận thức và là nguồn nước của hoạt động nhận thức; năng lực trí nhớ là kho tàng của năng lực nhận thức, cũng là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động nhận thức; năng lực tưởng tượng là đôi cánh cửa hoạt động nhận thức, lại là điều kiện của hoạt động của tính sáng tạo. Yếu tố của năng lực thông thường vừa là quan hệ tương trợ lẫn nhau vừa là thuốc dược chế tương hộ lẫn nhau. Trình độ của một nhân tố nào đó không những ảnh hưởng đến trình độ của bốn loại nhân tố khác, cũng ảnh hưởng đến toàn trình độ trí lực. Năng lực của toàn mặt phát triển bản thân, thì sẽ khiến năm yếu tố lớn đều có thể phát triển tốt. Nếu đeo đuổi một yếu tố nào đó, mà xem nhẹ phát triển của các yếu tố khác, đều sẽ tạo nên mất thăng bằng của kết cấu năng lực.

    (2). Năng lực đặc biệt

    Năng lực đặc biệt là chỉ năng lực hoàn thành thuận lợi một hoạt động nào đó mà cần phải chuẩn bị. Ví dụ làm công việc giáo dục có năng lực đọc và năng lực biểu đạt; làm nghiên cứu toán học cần phải có năng lực tính toán, năng lực không gian và năng lực tư duy logic; làm công việc âm nhạc cần phải có cảm giác tiết tấu và điệu khúc v.v… Có thể nói, phàm là những phát sinh năng lực của tác dụng trong lĩnh vực hoạt động đặc biệt thì thuộc về năng lực đặc biệt. Thu hoạch phong phú đủ khả năng có thành tựu tên tốc độ tính toán; Nhiếp Vệ Bình có đủ khả năng giành được nhiều chiến thắng trong cuộc thi đấu cờ vây; Mạc Kiên Hoa có đủ khả năng liên tiếp ba lần phá kỷ lục nhảy cao trên thế giới… đều nói rõ họ có năng lực đặc biệt trong một số lĩnh vực đặc biệt này. Bất cứ một loại nghề nghiệp nào đều phải có yêu cầu năng lực chuyên môn nhất định, một người nếu như thiếu năng lực đặc biệt và thích ứng công việc thì rất khó mà đảm nhận được công việc. Do đó, hiểu được năng lực đặc biệt mà các loại hoạt động nghề nghiệp cần thiết và tính có hiệu suất của hướng dẫn là điều rất cần thiết.

    Năng lực thông thường và năng lực đặc biệt đồng thời không tách rời mà là mối quan hệ hữu cơ. Năng lực thông thường là sự phát triển, là điều kiện có lợi để sáng tạo sự phát triển của năng lực đặc biệt. Đồng thời là sự phát triển của năng lực đặc biệt trong một loại hoạt động, cũng sẽ thúc tiến sự phát triển của năng lực thông thường. Nhiếp Vệ Bình không những là một vận động viện cờ vây, mà còn là tay chơi bài brit, lại là một ví dụ thực tế rất tốt.

    (3). Năng lực thao tác

    Năng lực thao tác là chỉ năng lực của thao tác kỹ thuật, lao động sản xuất. Xã hội hiện đại sẽ cần những người “Tận dụng trí óc”, người lao động trí óc cũng cần những thao tác thực tế. Năng lực thao tác của học sinh trung học đã trở thành nhân tố hạn chế của nghề nghiệp thích ứng. Bồi dưỡng năng lực cử động tay là một trong những nội dung quan trọng mà nhiều giáo trình của trường đại học cải cách. Bồi dưỡng năng lực thao tác không những biểu hiện động tác bề ngoài mà còn giúp cho con người có ý thức điều chỉnh bản thân không những tác dụng phụ thuộc vào thế giới môi trường mà còn phụ thuộc vào việc bồi dưỡng phẩm chất ý chí và trí lực mà nó tương quan cho con người.

    (4). Năng lực giao tiếp với người khác.

    Năng lực giao tiếp với người khác là chỉ năng lực tham gia cuộc sống quần thể xã hội, giao tiếp với những người xung quanh và duy trì nhịp nhàng. Nó là một cơ bản của năng lực tiến cử bản thân. Bất kỳ người nào không thể thiếu. Rất khó tưởng tượng một người mà không biết giao tiếp với người khác, sẽ không nhận được sự tôn trọng của người khác. Xã hội hiện đại, bất luận làm nghề nghiệp gì, hoàn thành công việc gì đều cần thiết phải giao tiếp với người khác.

    Có người tiến hành phân tích đối với kết cấu năng lực của người làm công việc quản lý, đưa ra người làm công việc quản lý nên có đầy đủ năng lực của ba mặt: năng lực nghiệp vụ, năng lực quản lý và năng lực giao tiếp. Năng lực nghiệp vụ của nhân viện quản lý và năng lực quản lý của cấp bậc không giống nhau có thể có khác biệt, nhưng bất cứ nhân viên quản lý mà dù ở cấp bậc nào đều nên có đầy đủ năng lực giao tiếp với người khác khá cao. Do đó, năng lực giao tiếp là điều kiện rất nhiều nghề nghiệp không thể thiếu.

    Nghiên cứu lý luận và biểu hiện rõ thực tiễn, năng lực giao tiếp chủ yếu bao gồm mấy mặt dưới đây:

    Thứ nhất, năng lực cảm nhận giao tiếp, là chỉ năng lực cảm tri của trạng thái tâm lý hoặc hoạt động tâm lý như đối với tư tưởng, tình cảm, nhu cầu, động cơ khác và ảnh hưởng đến năng lực cảm nhận của trình độ khác đối với lời nói và hành động của bản thân.

    Thứ hai, năng lực trí nhớ sự vật, là năng lực trí nhớ của con người biểu hiện đặc biệt trong giao tiếp, nội dung trí nhớ sự việc là tất cả tin tức có liên quan đến hoạt động giao tiếp và đối tượng giao tiếp. Ví dụ như: họ tên giao tiếp, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình, sở thích hứng thú, trạng thái tâm trạng, đặc trưng cá tính của đối tượng v.v… Nội dung giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp với nhau cũng phụ thuộc vào phạm vi của trí nhớ nhân vật.

    Thứ ba, năng lực lý giải giao tế. Tức là năng lực mà tư tưởng, tình cảm và hành vi lý giải người khác. Lý giải là cầu nối của nối liền hai tâm linh, giỏi về lý giải người khác là điều kiện mà không thể thiếu để chiến thắng tín nhiệm của người khác.

    Thứ tư, năng lực tưởng tượng giao tế, đặt mình vào hoàn cảnh của đối phương để suy nghĩ, từ chức vị, lập trường và hoàn cảnh suy nghĩ vấn đề của đối phương, và đánh giá năng lực của hành vi đối phương.

    Thứ năm, năng lực phong độ và biểu đạt. Đây là biểu hiện bên ngoài của năng lực giao tiếp với người. Cử chỉ, lời nói, phong độ và lưu loát của Cao Nhã, có cách biểu đạt tình cảm của sức cảm hóa, là biểu hiện của năng lực giao tiếp với người khá cao.

    Tổng hợp của năm loại năng lực kể trên, chính là cấu thành một năng lực giao tiếp của con người. Thiếu năng lực này chính là không có cách sáng tạo không khí tâm lý quần thể tốt đẹp, không có cách để xử lý nhịp nhàng các mối quan hệ của những người xung quanh, không hiệu quả tiến hành sức sống nghề nghiệp.

    Năng lực giao tiếp với người khác không chỉ phân cao thấp, cũng tồn tại sự khác biệt trong các loại hình phong cách giao tiếp.

    Nhà nghiên cứu tâm lý học hiện đại biểu hiện rõ năng lực cũng có thể phân thành hiển năng và tiềm năng. Cái gọi là hiển năng chính là chỉ người biểu hiện rõ nét năng lực trong các loại hoạt động. Ví dụ như nhân viên quản lý biểu hiện rõ nét những năng lực tổ chức năng lực cổ động, năng lực biểu đạt; vận động viên giành được thành tích vận động; năng lực quan sát, năng lực trí nhớ, năng lực suy nghĩ của học sinh v.v… Cái gọi là tiềm năng, chính là chỉ người có năng lực của tố chất tốt đẹp mà phát triển, phát hiện trong các loại hoạt động, ví dụ: trong thế vận hội lần thứ 24, vận động viện bơi lội của nước bạn có đủ khả năng giành lấy thành tích mang tính đột phát, chính là nhờ vào giáo viên huấn luyện đã phân tích tố chất thân thể của vận động viên, phát hiện và đã khai phát năng lực mà nó tiềm ẩn. Ví dụ: bạn quen thuộc với một giáo viên trẻ tuổi mà có thành tích cao ngất, vốn là một người tính cách nội tâm, không câu nệ với những ngôn ngữ, vừa nói ra thì mặt đã đỏ, người mà có nhiều ấp úng, khi bắt đầu lên lớp, ngay cả đầu cũng không dám ngẩng lên, chỉ là cuối đầu giảng bài. Trải qua một giai đoạn rèn luyện, hiện giờ anh ấy có thể linh hoạt vận

    dụng tất cả những tri thức, tả như thật, vui vẻ mà nói ở trên lớp, nhận được những lời bình tốt đẹp ăn khớp của học sinh, dạy học thực tiễn đã khai phát tiềm năng mà qua cách biểu đạt ngôn ngữ của anh ấy.
     
  13. phuongedu

    phuongedu

    Tham gia:
    5/4/2010
    Bài viết:
    21,162
    Đã được thích:
    7,456
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Bạn đưa ra vấn đề đao to búa lớn quá.
    quan điểm của tớ là thời nào thức ấy, tuổi nào thì dạy cái đó. Tức là, con trẻ thì phải đuợc chơi, được học, được dạy dỗ làm người. Khi có nhận thức và trưởng thành, nó sẽ tự chọn và quyết định nghề nghiệp cho nó, mình ko làm thay nó được.
    Nhớ là dạy con làm người nữa nhé, chứ chưa dạy nghề.

    Rất cám ơn chủ topic đã sưu tầm và post lên những bài viết hữu ích và chia sẻ cho mọi người.
     
  14. rucon_ngannam

    rucon_ngannam Ngọc Nguyễn

    Tham gia:
    26/5/2010
    Bài viết:
    672
    Đã được thích:
    90
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Năng lực học hỏi và nghề nghiệp: tại sao và như thế nào!

    Nuôi luôn luôn phải đi kèm với dạy chị phuongedu ạ. Thực ra thì e viết có đao to búa lớn tý, nhưng nó cũng là vấn đề thực trong xã hội bây giờ, ở bất cứ gia đình nào cũng có.
     

Chia sẻ trang này