Tâm sự Nhận Biết Và Xử Lý Điều Trị Vết Thương Bỏng

Thảo luận trong 'Tâm sự về các vấn đề khác' bởi inmed, 6/5/2020.

  1. inmed

    inmed Thành viên mới

    Tham gia:
    29/2/2020
    Bài viết:
    33
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Bỏng là một tai nạn rất dễ gặp phải khi chúng ta bất cẩn. Chính vì thế việc hiểu biết tổng quan NHẬN BIẾT XỬ LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG BỎNG sơ cứu bệnh nhân khi bị bỏng hiệu quả sẽ giúp cho bệnh nhân tránh được các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe, thậm chí là tính mạng người bệnh.



    Phụ thuộc vào nguyên nhân và mức độ bỏng, đa số mọi người có thể hồi phục sau khi bị bỏng mà không để lại hậu quả nào nghiêm trọng. Những trường hợp bỏng nghiêm trọng cần phải được chăm sóc y tế ngay lập tức để dự phòng các biến chứng và tử vong.

    Theo độ sâu, bỏng nông 3 mức độ bỏng chính, mỗi mức độ lại phụ thuộc vào sự nghiêm trọng của tổn thương da. Các tổn thương bao gồm bỏng nông và bỏng sâu:

    Bỏng nông gồm có:

    Bỏng độ I: đỏ và không phồng rộp da

    Bỏng độ II: phồng rộp và da bị dày lên

    Bỏng độ III: vùng da dày lan rộng

    Bỏng sâu gồm loại bỏng độ IV, độ V. Trong những mức độ bỏng này, sự tổn thương của bỏng độ III lan xuống dưới da, lan vào đến gân và xương.


    1. Bỏng độ I

    Bỏng độ I là loại bỏng gây ra tổn thương da nhỏ nhất. Bỏng độ I còn được gọi với tên khác là bỏng bề mặt bởi chỉ ảnh hưởng đến lớp ngoài cùng của da. Dấu hiệu của bỏng độ I:




      • Đỏ
      • Viêm nhẹ (sưng)
      • Đau
      • Khô, bong tróc da (xảy ra khi vết bỏng đang lành)
      • Bởi bỏng độ I chỉ ảnh hưởng đến lớp ngoài cùng của da nên dấu hiệu và triệu chứng sẽ biến mất khi các tế bào da bị tróc ra. Bỏng độ I thường khỏi trong vòng 3-6 ngày. Tuy vậy, bạn vẫn nên đến khám bác sỹ nếu bỏng ảnh hưởng đến một vùng da lớn (nhiều hơn 7cm) và nếu vết bỏng ở trên mặt hoặc ở những khớp chính.
    Bỏng độ I thường sẽ được điều trị tại nhà. Việc điều trị có thể sẽ nhanh hơn nếu bạn biết sơ cứu kịp thời. Để sơ cứu, bạn có thể:



      • Ngâm vết bỏng trong nước lạnh trong vòng 5 phút hoặc lâu hơn.
      • Dùng acetaminophen hoặc ibuprofen để giảm đau.
      • Bôi kem hoặc gel làm từ nha đam để làm dịu da.
      • Dùng thuốc kháng sinh dạng mỡ và băng gạc để bảo vệ vùng da bị bỏng.
    Đảm bảo rằng bạn không sử dụng đá lạnh bởi đá có thể làm tổn thương trở nên nặng hơn. Không bao giờ dùng bông gòn đắp lên vết thương bởi những sợi bông nhỏ có thể dính vào vết thương và làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Tránh các phương pháp tự điều trị như bôi bơ hoặc trứng bởi những phương pháp này chưa được chứng minh là có hiệu quả.

    2. Bỏng độ II

    Thương tổn xảy ra trên lớp biểu bì. Trên nền da đỏ, xuất hiện những nốt phỏng nước chứa dịch trong hoặc vàng nhạt, có thể xuất hiện muộn từ 12-24 giờ sau khi bị bỏng. Đáy nốt phỏng màu hồng ánh ướt có thấm dịch xuất tiết, sau 3-4 ngày hiện tượng viêm đỡ. Tại các nốt phỏng dịch còn đọng lại. Vì chưa tới lớp tế bào đáy nên khi khỏi không để lại sẹo. Khỏi sau 10 – 14 ngày.

    Cũng như bỏng độ I, nên tránh dùng bông gòn và các phương pháp tự chữa không có cơ cở khoa học. Bạn có thể chữa bỏng độ II bằng cách:



      • Ngâm phần da bị bỏng trong nước lạnh 15 phút hoặc lâu hơn.
      • Uống thuốc giảm đau không cần kê đơn (acetaminophen hoặc ibuprofen).
      • Bôi kháng sinh dạng mỡ (kem) lên các vết phồng rộp.
    Tuy nhiên, bạn nên đến bác sỹ ngay nếu vết bỏng ảnh hưởng đến một vùng da rộng của mặt, tay, mông, háng hoặc chân.



    3. Bỏng độ III

    Bỏng độ III (bỏng trung bì). Ở mức độ này, hoại tử toàn bộ lớp thượng bì, tổn thương phần lớn các thành phần lớp trung bì, nhưng các thành phần phụ thuộc của da như gốc lông, tuyến mồ hôi, tuyến nhờn,… còn nguyên vẹn. Loại này chia thành hai loại:




      • Bỏng độ IIIa (nông): Tổn thương thượng bì nhưng ống và gốc lông các tuyến mồ hôi còn nguyên vẹn. Tổn thương đặc trưng bởi nốt phỏng: hình thành sớm hoặc muộn; vòm dày; đáy màu đỏ, hồng, còn cảm giác đau; dịch nốt phỏng có thể có màu hồng, đục. Tự khỏi bằng hiện tượng biểu mô hóa trong vòng 2 – 4 tuần hay từ khoảng 15 – 30 ngày.
      • Bỏng độ IIIb (sâu): Chỉ còn lại phần sâu của các tuyến mồ hôi. Tổn thương này có thể có nốt phỏng, vòm dày (tính chất của nốt phỏng độ III), đáy nốt phỏng tím sẫm, trắng bệch, xám, giảm cảm giác đau. Ngoài ra gây hoại tử: Hay gặp hoại tử ướt, màu trắng, phân biệt với bỏng độ IV là: Còn cảm giác đau, da không bị nhăn rúm, không có hình mao mạch huyết tắc. Sau 12 – 14 ngày rụng hoại tử hình thành mô hạt xen kẽ với các vùng biểu mô – hình ảnh đảo biểu mô. Có thể tự liền bằng hiện tượng tế bào biểu mô phủ kín các tổ chức hạt sau 30 – 45 ngày, để lại sẹo xấu. Nếu vết bỏng thiểu dưỡng, tỳ đè, nhiễm khuẩn…chuyển hoàn toàn thành bỏng sâu.
      • Bỏng độ III có khi được gọi là “bỏng trung gian”: Là loại bỏng nằm giữa giới hạn bỏng nông và bỏng sâu. Bỏng lan tới một phần của lớp tế bào đáy (lớp nông, phần uốn lượn lên xuống). Bỏng loại này tiến triển tốt, nhưng cũng có thể nặng lên và thành bỏng sâu, thường gặp bỏng nước sôi chỗ có quần áo.
    [​IMG]

    Các mức độ bỏng nông.



    4. Bỏng sâu (bỏng độ IV và độ V)

    Là mức độ bỏng nặng và rất nặng, tác nhân gây bỏng đã phá huỷ lớp tế bào đáy, để lại phần da bị dúm dó, đa số cần phải cấy ghép da. Hậu quả rất nặng nề từ sẹo đến phải cắt bỏ phần da, thậm chí là tử vong.




      • Bỏng độ IV (bỏng toàn bộ lớp da): Đám da trắng bệch (như thịt luộc), đỏ xám hoặc đá hoa vân. Lớp tế bào đáy bị phá huỷ, bỏng ăn lan tới trung bì, gây hoại tử da diện rộng. Vì mất lớp tế bào sinh sản, da không được bảo vệ, nên bỏng loại này hầu hết bị nhiễm khuẩn. Về lâm sàng loại bỏng này thể hiện dưới 2 hình thức: Đám da hoại tử ướt và đám da hoại tử khô. Thường gặp bỏng do xăng, acid, bỏng điện,…
      • Bỏng độ V: tác nhân gây bỏng phá huỷ hết da, bỏng ăn tới tận cơ, xương, cả một vùng của chi bị cháy đen. Về lâm sàng thấy da hoại tử khô tới nỗi rõ lưới mạch đã bị huyết tân của lớp dưới da, da hoại tử lõm sâu, mất cảm giác hoàn toàn. Thường gặp do điện cao thế, sét đánh, cháy nhà (trong các thảm hoạ cháy nhà cao tầng), cháy ô tô chở khách,…
    Không bao giờ áp dụng những cách tự chữa với bỏng sâu. Gọi cấp cứu ngay lập lức. Trong khi đợi xe cấp cứu, nâng vết thương cao hơn tim. Không nên cởi quần áo nhưng phải đảm bảo rằng quần áo không dính vào vết bỏng. Thời gian lành của bỏng sâu rất khó để xác định.


    Bỏng sâu – sau khi đã được can thiệp bằng phương pháp cấy ghép da.



    Biến chứng nguy hiểm

    Bỏng sâu là loại bỏng có nhiều biến chứng nhất, như nhiễm trùng, mất máu và sốc. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là bỏng nông không gây ra các biến chứng. Tất cả các loại bỏng đều làm tăng nguy cơ nhiễm trùng bởi vi khuẩn có thể xâm nhập vào vùng da bị hở. Nhiễm trùng máu có thể xảy ra trong những trường hợp nặng nhất và có thể dẫn đến sốc hoặc tử vong.

    Uốn ván cũng là một biến chứng có thể xảy ra với mọi mức độ bỏng. Cũng như nhiễm trùng máu, uốn ván là do nhiễm vi khuẩn. Uốn ván gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh, thậm chí có thể dẫn đến các vấn đề về co cơ. Mọi thành viên trong gia đình nên được tiêm uốn ván 5 năm một lần để phòng tránh nhiễm trùng loại này.

    Những vết bỏng nghiêm trọng cũng có thể đem lại nguy cơ hạ thân nhiệt và hạ kali huyết. Hạ thân nhiệt là khi thân nhiệt hạ xuống tới mức có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Hạ thân nhiệt có thể được coi như một biến chứng bất ngờ của bỏng, nhưng bản chất là do sự mất đi nhiệt độ cơ thể do vết thương gây ra. Hạ kali huyết xảy ra khi cơ thể mất quá nhiều máu vì vết bỏng.

    Sẹo là biến chứng của tất cả các mức độ bỏng. Những vết bỏng nghiêm trọng có thể gây ra sẹo lồi và đổi màu của vết sẹo trên da. Sẹo lồi không gây nguy hiểm nhưng có thể gây ra cảm giác khó chịu. Hình dạng vết sẹo có thể sẽ tệ hơn nếu tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.



    Hãy để #DermFactor chăm sóc vết thương bỏng của bạn ngay từ những giai đoạn đầu tiên !

    Để có thể điều trị vết thương bỏng triệt để, ĐẶC BIỆT LÀ BỎNG SÂU, các nhà khoa học đã đưa ra thị trường một loại vật liệu sinh học Dermfactor được bào chế từ SiO2, CaO, P2O2 , Na2O (bột rắn), với khả năng tương thích sinh học cao, khi rắc Dermfactor lên vết thương, vật liệu sẽ hấp phụ dịch tiết từ vết thương và tạo thành một môi trường vi mô khô. Đồng thời trao đổi ion với mô làm tăng pH cục bộ và tạo thành một mạng xốp trên bề mặt. Cơ cấu này có thể hấp thu một lượng lớn các chất có liên quan đến tái tạo mô như protein dạng sợi, collagen và yếu tố làm lành vết thương khác nhau (EGF, BDGF) và cải thiện tốt hơn việc chữa lành vết thương hiệu quả.

    [​IMG]

    Dermfactor – vật liệu sinh học liền nhanh vết thương, đặc trị vết thương bỏng.

    Mọi thông tin chi tiết liên hệ

    CTCP Thương mại & Đầu Tư Y tế Quốc tế
    Address : G3 0615 Vinhomes Greenbay Mễ Trì Nam Từ Liêm Hà Nội
    Mobile: 096 99 324 99
    Email: www.ganikderma@gmail.com
    website: inmed.vn
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi inmed
    Đang tải...


Chia sẻ trang này