Kinh nghiệm: Nhiễm Trùng Papillomavirus Ở Người Là Bệnh Thế Nào?

Thảo luận trong 'Sức khỏe gia đình' bởi tongdungit, 14/8/2019.

  1. tongdungit

    tongdungit kinh đô

    Tham gia:
    7/1/2019
    Bài viết:
    119
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    18
    Nhiễm trùng papillomavirus ở người (nhiễm HPV) là một yếu tố nguy cơ đặc biệt đối với ung thư miệng. Nó cũng làm tăng nguy cơ ung thư miệng

    Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xác định HPV16 và có thể là HPV18 là tác nhân căn nguyên của ung thư miệng 3 .


    Phân tích tổng hợp 6mối liên quan giữa ung thư miệng và nhiễm trùng HPV bao gồm tài liệu tiếng Anh từ 1980-98. 94 nghiên cứu chứa 4.680 mẫu được đưa vào phân tích tổng hợp. Kết quả cho thấy xác suất tìm thấy DNA DNA ở niêm mạc bình thường là 10% (khoảng tin cậy 95% 6.1 - 14.6), ở leukoplakia 22.2% (95% khoảng tin cậy 15.7 - 29.9) và trong ung thư biểu mô tế bào vảy 46, 5% (khoảng tin cậy 95% 37,6-55,5). Nguy cơ phát hiện nhiễm trùng HPV trong ung thư miệng là 5,37 lần (95% CI 2,49-11,55) so với niêm mạc khỏe mạnh. HPV16 và HPV18 có nguy cơ cao là những loại HPV phổ biến nhất. Nghiên cứu cho thấy rằng HPV không chỉ là yếu tố nguy cơ gây ung thư miệng.


    Chất lượng nghiên cứu: xuất sắc

    Khả năng áp dụng cho dân số Phần Lan: tốt

    Bạn nên biết:

    Dấu hiệu nhận biết bệnh sùi mào gà ở âm đạo

    Xét nghiệm sùi mào gà ở nữ


    Trong một nghiên cứu kiểm soát trường hợp ở Thụy Điển (132 trường hợp, kiểm soát 320) 5 , một phân tích đa biến được thực hiện từ năm 2000 đến 2004 để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố nguy cơ khác nhau đối với ung thư miệng và họng. Theo nghiên cứu, loại HPV nguy cơ cao là yếu tố nguy cơ cao nhất đối với ung thư miệng và họng (OR 63; 95% CI 14-280). Bệnh nhân loại virut papilloma có nguy cơ cao cũng có nguy cơ tái phát ung thư gấp 3 lần hoặc bị ung thư khác so với bệnh nhân âm tính với DNA DNA.


    Chất lượng học tập: chấp nhận được

    Khả năng áp dụng cho dân số Phần Lan: tốt

    Nhận xét: Niềm tin rơi vào khoảng tin cậy rộng.

    Kết quả phân tích tổng hợp các yếu tố nguy cơ ung thư đầu và cổ được Bychkov và các đồng nghiệp 2 tổng hợp vào năm 2016. Trong kết quả tổng hợp của ba phân tích tổng hợp, tỷ lệ nhiễm HPV ở bệnh nhân ung thư đầu và cổ dao động từ 21,9 đến 34,5 %. Đối với ung thư miệng, 2 phân tích tổng hợp cho tỷ lệ lưu hành là 23,5% và 38,1%. Có 3 phân tích tổng hợp về khoang miệng trong đó tỷ lệ nhiễm DNA DNA kết hợp dao động từ 35,6% đến 63,8%. Có 2 phân tích tổng hợp về vùng Larynx, với tỷ lệ phổ biến là 24,0-28,0%. Kiểu gen của HPV là HPV16, 18 và 33.


    Chất lượng học tập: chấp nhận được

    Khả năng áp dụng cho dân số Phần Lan: tốt

    Xem thêm: Đốt sùi mào gà bao lâu thì khỏi

    Một phân tích tổng hợp 1 , không bao gồm trong phân tích tổng hợp của Bychkov, đã kiểm tra tỷ lệ nhiễm HPV trong dân số châu Âu. Tổng cộng có 39 nghiên cứu với tổng số 3.649 bệnh nhân được đưa vào phân tích tổng hợp từ 2002 đến 2012. DNA DNA được phát hiện trong 40% của tất cả các mẫu (khoảng tin cậy 95% 34,6-45,5%). DNA DNA đã được tìm thấy trong 66,4% mẫu amidan, 25,7% trong ung thư lưỡi và 15,3% trong ung thư không amidan. Sự hiện diện của DNA DNA không thay đổi liên quan đến kiểu gen, vị trí địa lý, loại mẫu hoặc mồi được sử dụng trong xét nghiệm HPV. Chỉ có vị trí giải phẫu gây ra sự khác biệt đáng kể về sự hiện diện của DNA DNA.


    Chất lượng nghiên cứu: xuất sắc

    Khả năng áp dụng cho dân số Phần Lan: tốt

    Một tài liệu hệ thống đánh giá 4 về mối quan hệ giữa HPV và ung thư miệng và các mẫu khoang miệng có thể làm tăng nguy cơ ung thư miệng. Cái miệng bị cắt đứt. 39 nghiên cứu trong số 1.121 ấn phẩm đáp ứng các tiêu chí. Tổng cộng có 1.885 mẫu ung thư miệng và 2.248 mẫu đối chứng đã được phân tích. Ngoài ra, 956 mẫu từ các cơ sở có khả năng gây ung thư và 675 mẫu kiểm soát của chúng được đưa vào sử dụng cùng một tiêu chí.


    Kết quả cho thấy xác suất tìm thấy DNA DNA trong mẫu ung thư miệng là 3,98 lần (95% CI: 2,62-6,02) so với nhóm chứng. Xác suất xảy ra HPV16 trong các mẫu này là 3,86 lần (khoảng tin cậy 95% 2,16-6,86). DNA DNA được tìm thấy thường xuyên hơn trong những thay đổi có thể gây ung thư miệng so với các mẫu đối chứng (OR 3,87; khoảng tin cậy 95% 2,87-5,21). Trong phân tích thay đổi niêm mạc, người ta đã tìm thấy nhiều vi rút hơn đáng kể ở bệnh bạch cầu (OR 4.03; khoảng tin cậy 95% 2.34-6.92), lichenplasia miệng (OR 5.12; khoảng tin cậy 95% 2.40-10.93) và trong chứng loạn sản biểu mô thay đổi (HOẶC 5.10; khoảng tin cậy 95% 2.03 - 12.80).


    Do đó, nghiên cứu cho thấy rằng HPV không chỉ là yếu tố nguy cơ gây ung thư miệng mà còn là yếu tố nguy cơ tiềm ẩn cho những thay đổi trong ung thư miệng.


    Chất lượng học tập: chấp nhận được

    Khả năng áp dụng cho dân số Phần Lan: vừa phải

    Xem thêm thông tín tại khám bệnh xã hội Bắc Giang

    Nguồn:.kaypahoito.fi/nak03880
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi tongdungit
    Đang tải...


Chia sẻ trang này