Xưa có một gia đình rất đông con, đông đến nỗi bố mẹ không nhớ hết được tên từng đứa. Người chồng tên Đang, người vợ tên Phang. Tuy đông con như thế, nhưng hai vợ chồng nhờ phát được nhiều nương và vỡ được nhiều ruộng, nên đời sống không đến nỗi túng thiếu. Gặp năm trời hạn mất mùa, bao nhiêu lúa giống của hai vợ chồng để dành cho mùa sau đều bị bọn lang đạo cướp hết. Hai vợ chồng phải vào rừng tìm rêu đá, lá cây về cho các con ăn, nhưng kiếm bao nhiêu cũng không đủ; suốt ngày lũ con cứ gọi bố mẹ. Và kêu: - Đói lắm, bố mẹ ơi ! Hai vợ chồng thưong con, biết rằng rêu đá, lá cây không phải là món ăn có thể thay cơm gạo lâu dài được, hai người cố đi xin người làng, kẻ cho một nắm, người vài bông lúa giống, và giấu các con, lên rừng phát rẫy tìa lúa trái mùa. Ở nhà, đàn con đói quá, kéo nhau ra rừng tự kiếm cái gì ăn cho đỡ đói, nhưng đến đêm chúng lại về kêu đói suốt đêm: - Đói lắm, bố mẹ ơi ! Trong rừng khuya, nghe tiếng đàn con vọng tới, hai vờ chồng lòng đau như cắt. Hai vờ chồng thay nhau nói vọng về cho các con yên lòng: - Các con ơi! Lúa đang nãy mầm. Khi lúa đã ken xanh, họ lại gọi vọng về: - Các con ơi! Lúa đã lên xanh. Đến ngày lúa chín, thì hai vợ chồng kiệt sức nhưng khi nghe tiếng đàn con kêu đói thì hai người lại cố gắng nói to lên cho các con nghe: - Các con ơi! Lúa đang chín... Và khi mẻ gạo đầu tiên vừa giã xong thì hai vợ chồng liền đồ ngay một chõ xôi lớn, chia ra từng nắm một, rồi đem ngay xôi về nhà cho các con. Nhưng khi đến nhà thì họ không thấy bóng một đứa nào. Trong khi ấy, thì từ rừng sâu lại vọng ra những tiếng:L - Đói lắm, bố mẹ ơi! Tủi cực quá, hai vợ chồng gượng khiêng rá xôi vào rừng, nhưng không gặp đứa con nào cả. Trong khi ấy thì rừng cây trước mặt, sau lưng, bên trái, bên phải vẫn vọng ra tiếng kêu xé ruột: - Đói lắm, bố mẹ ơi! Lúc này thì sức hai người đã kiệt. Họ không thể theo tiếng vọng của rừng núi mà đi tìm con được nữa. Hai người đặt rá xôi xuống và cố sức gọi: - Các con ơi! Ra đây với bố mẹ mà ăn xôi. Tiếng gọi vừa dứt, thì một đàn chim từ các ngả bay đến đậu đầy cả khu rừng. Chim hót: - Bang! Bang! Bang! Bang! Chúng con ăn quả đã quen; còn xôi xin nhường bố mẹ! Bấy giờ hai vợ chồng mới biết đàn con của mình vì đói quá nên hóa chim mất rồi. Già yếu, đói khổ, lại thương xót đàn con đã hoá chim, hai vợ chồng gục đầu vào rá xôi mà chết. Thấy bố mẹ chết thảm quá, đàn chim kêu vang cả khu rừng , rồi chúng lấy những nắm xôi đắp mộ cho bố mẹ. Về sau, chổ mộ hai vợ chồng Đang, Phang mọc lên một cây rất lạ: Trên là cây, dưới là củ. Củ có màu trắng và khi luộc chín thì thơm dẻo như xôi. Đó là củ mài. Người ta nói rằng vợ chồng nghèo khổ ấy đã hoá ra củ mài đề cứu những con người cùng cảnh ngộ như mình. Còn lũ con của họ thì hoá thành chim "đang bang" thường kêu vang cả núi rừng vào mùa lúa chín, để nhắc lại cảnh khổ cực của bố mẹ ngày xưa.
Ðề: Sự tích củ mài truyện này mình nhớ là đọc từ hồi học cấp 1, lâu lắm rùi tự nhiên đọc lại lại thấy hay
Ðề: Sự tích củ mài Đọc câu chuyện thấy hay và cảm động. Câu chuyện thật sâu sắc về tình cảm gia đình. Hic, nhớ nhà quá.
Dân tộc Khơ mú cũng có truyện "Sự tích củ mài" như sau. Em gửi mọi người đọc thử SỰ TÍCH CỦ MÀI Ngày xưa, ở một bản nọ có đôi vợ chồng trẻ, chỉ mới lấy nhau mười năm mà đã đẻ mười hai đứa con. Con đông đến nỗi bố mẹ không nhớ hết tên từng đứa. Vợ chồng dẫu lam làm, chịu thương chịu khó làm nương rẫy, dẫu gặp mưa thuận gió hòa vẫn không nuôi nổi đàn con của mình. Khi gặp năm hạn hán, thiên tai, lại nạn thú rừng về phá hoại, họ sống rất chật vật khó khăn. Năm nọ mất mùa, cả bản đói to, mọi nhà đã vét hết cả mẻ lúa giống, ngô giống mùa sau ra ăn. Thương con, chị vợ bảo chồng: – Ta bớt ít lúa giống, ngô giống cho con ăn thôi. Người chồng dẫu thương con nhưng ôn tồn bảo vợ: – Đói thì tìm củ rừng, tìm rau rừng mà ăn, không làm nương ruộng thì mùa trước đói, mùa sau đói, không sống nổi đâu. Giấu con, vợ chồng trốn vào rừng phát nương, gieo lúa tra ngô. ở nhà đàn con đói quá kéo nhau vào rừng kiếm ăn, suốt ngày đêm khóc đói: “Pung pung đói mỏi Đói lòng lắm bố ơi mẹ à!” Nghe tiếng khóc, thương con, lòng xót như xát ớt vợ chồng thay nhau gọi lại an ủi: “Chớ chớ vội các con ơi Để bố mẹ phát cỏ làm nương hẵng” Và cứ theo thời gian, họ phát nương, nhặt cỏ, tra hạt, vun gốc… “Chớ chớ vội các con ơi Bố mẹ còn vun gốc nhặt cỏ…” Đến lúc trổ, lúa chín, một nắng hai sương: “Lúa đã trổ đã chín Bố mẹ suốt về thổi nấu cho các con ăn” Khi mẻ gạo đầu tiên vừa giã xong, họ đồ ngay lên một chõ. Người chồng quạt cho bay hơi, chóng nguội, người vợ nắm từng nắm. Vợ chồng hối hả bê ra xới, chạy thẳng về nhà cho con ăn. Nhưng khi về tới nhà, họ không thấy đàn con đâu nữa mà từ rừng sâu vẫn vọng về tiếng khóc đói: “Pung pung đói mỏi Đói lòng lắm bố ơi mẹ à!” Hai vợ chồng vừa khóc vừa bê bung xôi lập cập theo tiếng gọi vọng của núi rừng mà chạy mãi đến kiệt sức vẫn không gặp con. Họ đành đặt bung xôi xuống, cố gọi : “- Ôi các con thương con quý Cơm thơm trộn cá con trứng luộc Bố thương mẹ quý đưa đến đây Về nhà ăn với bố mẹ, các con ơi ?” Tiếng gọi vừa dứt thì đàn chim Pung bay đến sà xuống đậu quanh cả khu rừng hót vang: “Pung pung, pung pung Chúng con ăn quả và quả sấu đã quen Còn cơm xôi xin nhường bố mẹ Nằm cành sấu cành me đã ấm đã êm Chúng con không về nhà được nữa đâu bố ơi mẹ à!” Đến lúc đó, hai vợ chồng mới biết vì đói quá mà đàn con của mình đã tìm vào rừng kiếm ăn và hóa ra chim cả rồi. Lòng đau xót nước mắt chứa chan, họ lấy xôi tung ra cho chim. Vì thương con, vì đói, mệt, kiệt sức, vợ chồng gục vào bung xôi mà chết. Thấy bố mẹ chết thảm quá, đàn con kêu vang rừng “Pung pung!” rồi lấy những nắm xôi còn lại đắp mồ cho bố mẹ. Từ chỗ ấy về sau, mọc lên một cây lạ có củ, củ có bột trắng thơm dẻo như xôi. Đó là củ mài. Còn những nắm xôi được tung ra xung quanh lại mọc lên cây cơm xôi, quả chín ăn bùi và dẻo. Người ta nói: ấy là loại quả cứu đói người nghèo. Đàn con hóa ra chim kêu pung pung vang rừng vào mùa lúa chín để nhắc nhở lại cảnh khổ của bố mẹ ngày xưa phải một nắng hai sương mới có được hạt ngô hạt lúa nuôi con. Nguồn: http://********.vn/