Tại Sao Phật Lại Nói: ‘điều Ý Nghĩa Nhất Của Sinh Mệnh Con Người Chính Là Quay Trở Về’

Thảo luận trong 'Kinh nghiệm sống' bởi Minhhuongvn12d789, 27/11/2017.

  1. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    [​IMG]

    Sống trong cuộc đời, ai ai cũng phải tranh đấu ngược xuôi để có tiền quyền, danh lợi… Nhưng đến khi hai mắt khép lại, bao nhiêu phấn đấu cả cuộc đời cũng chìm vào hư ảo. Của cải ấy, ‘khi sinh không đem đến, khi tử không mang theo’. Vậy thì điều gì mới là ý nghĩa nhất với sinh mệnh đời người?

    Câu chuyện sau đây sẽ là câu trả lời cho điều đó.

    Năm 1921, Lewis Lawes trở thành giám đốc nhà tù nổi tiếng khủng khiếp ở Mỹ. Catherine, vợ của Lawes là một phụ nữ đặc biệt. Lúc Lawes tiếp quản nhà tù, Catherine vẫn còn khá trẻ dù họ đã có ba đứa con. Khi đó tình trạng trại giam khá hỗn loạn và nguy hiểm, ai cũng khuyên can, song họ không ngăn được bà thường xuyên đến đó.

    Dường như bà không thấy có bất kì sự nguy hiểm nào khi đối diện với các tù nhân, mặc dù nhà tù nơi chồng bà cai quản nối tiếng về những tù nhân bất trị, đã phạm những tội ác đáng sợ.

    [​IMG]
    Đây là nơi giam giữ các tù nhân cực kỳ nguy hiểm. (Ảnh youtube)

    Các tù nhân thường thấy bà đến, gương mặt bình thản, thân thiện, bà đẹp và dịu dàng, mỗi căn phòng nơi giam giữ các phạm nhân bà đều ân cần dừng lại, hỏi thăm, chia sẻ với họ đôi câu chuyện.

    Một hôm, nhà tù tổ chức giải đấu bóng rổ, bà đưa 3 con nhỏ của mình đến xem, bà còn không ngần ngại ngồi xem trận đấu chung với các tù nhân. ‘Vợ chồng tôi đều rất quan tâm đến họ. Và tôi tin họ cũng sẽ quan tâm đến chúng tôi. Tôi không thấy có điều gì cần đáng lo cả.’ – Bà nói khi ai đó lo ngại cho bà.

    Trong số tù nhân có một người mù, từng bị kết tội giết người, Catherine đã đích thân đến thăm anh ta. Bà cầm tay người tù hỏi:
    – Anh có được học chữ dành cho người mù không?
    – Người mù đọc chữ là sao, tôi không hiểu? – Anh ta trả lời.

    Vậy là bà bắt đầu dạy anh ta chữ nổi. Nhiều năm sau, anh vẫn thường khóc mỗi khi nhắc đến bà.

    Một người tù khác bị câm điếc, Anh không thể giao tiếp với mọi người. Thế là bà lặn lội đi học ngôn ngữ cử chỉ để về dạy cho anh. Trong gần 20 năm, bà thường xuyên lui tới nhà tù để giúp đỡ các tù nhân.

    Nhưng không may, một ngày khi đang trên đường bà bị tai nạn giao thông và qua đời. Lawes phải lo đám tang cho vợ nên vắng mặt và một người khác đã tạm thời quản lý nhà tù thay ông.

    Ngay lập tức, đã có chuyện không ổn xảy ra. Một đám đông tù nhân đã tập trung ở cổng lớn vào buổi sáng hôm mai táng Catherine, nhất định không chịu giải tán, trong đó có cả những tù nhân hung dữ với tội ác tày trời. Nhiều người trong số họ đã rơi nước mắt.

    Hiểu được tình cảm họ dành cho Catherine, người quản trại tạm thời nói:
    – Được rồi, các anh có thể đi tiễn Catherine, nhưng nhớ quay về trại trước khi trời tối.

    Sau đó, ông ra lệnh mở cổng chính để tất cả tù nhân đến nhà Lawes nhìn mặt Catherine lần cuối. Không có bất kỳ giám thị nào đi theo họ cả. Dòng người xếp hàng ngay ngắn, đi bộ suốt gần một dặm đến nhà Lawes. Đêm ấy, họ trở về đông đủ, không thiếu một ai.

    Mạnh Tử – Một học trò xuất sắc của Khổng Tử có câu: Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nghĩa là bản tính nguyên sơ của mỗi người trong chúng ta đều là lương thiện. Thế nên chúng ta thường thấy mỗi đứa trẻ khi mới sinh ra đều đẹp tựa thiên thần.

    [​IMG]
    Mạnh Tử đã từng nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”.

    Nhưng rồi trong dòng xoáy cuộc đời, trải qua bao năm tháng biến động, tranh đấu, bon chen, nhiều người trong họ có thể đã biến đổi thành tàn ác, xấu xa. Người đời cũng không ai muốn tôn trọng hay yêu mến họ nữa.

    Vậy tại sao Catherine có thể đối xử với họ như thế? Tại sao bà không thấy sợ, khinh bỉ hay căm ghét những người đã phạm phải lầm lỗi đáng sợ hoặc đáng khinh.

    [​IMG]

    Chẳng phải trong lòng bà không hề nghĩ chi đến những tội ác họ đã từng phạm phải, chẳng phải bà chỉ nhìn thấy ở họ một sinh mệnh vốn dĩ là lương thiện và bà tin rằng cái cội rễ ấy vẫn ở sâu thẳm trong tâm hồn họ và không bao giờ mất hẳn.

    Chẳng phải bà hiểu rằng, không ai hoàn mỹ, ai cũng có thể mắc sai lầm. Có thể lớn, có thể nhỏ. Nhưng nếu chỉ nhìn vào sai lầm hay cái xấu của người khác thì trong tâm trí ta cũng chỉ tràn ngập bóng tối của những thứ xấu mà thôi. Và điều đó cũng không thể khiến họ tốt hơn hay khác đi.

    Điều quan trọng hơn cả sự trả giá, là sự biết nhìn lại, nhận ra và ‘phản bổn quy chân’, quay trở về với bản tính thuần thiện trong trẻo mà mỗi chúng ta đều đã từng có và có thể đã đánh mất trong những năm tháng đầy biến động của cuộc đời.

    Nhà tù có thể giam giữ thân thể, nhưng bao dung và từ bi mới cứu chuộc được tâm hồn. Mới có thể thực sự đưa con người từ địa ngục trở về và thấu hiểu đến tận cùng giá trị của tình yêu thương, sự chân thành, tấm lòng lương thiện.

    "Những điều trao đi, chính là những gì sẽ nhận lại"

    [​IMG]
    Tình yêu thương sẽ sưởi ấm trái tim mọi con người. (Ảnh: Falundafa Art)

    Những người tù ấy, vào buổi sáng trên con đường đến tiễn đưa Catherine, trong tâm hồn họ chẳng phải sẽ tràn ngập ánh sáng chiếu rọi từ thiên đường, nơi tình yêu, sự chân thành, nhân hậu mà bà đã dành cho họ. Và chẳng phải cái mầm thiện lành bà đã gieo vào tâm hồn họ trong những năm tháng bà còn sống, bằng những ân cần, trìu mến và bao dung ấy đã nảy nở và đơm hoa trong tâm hồn những con người tội lỗi.

    Và ngay khi chẳng có quản ngục nào đi theo, chẳng có song sắt nào giam giữ thì chính sức mạnh vô hình ấy đã khiến họ không bao giờ làm điều xấu, đã không có tù nhân nào bỏ chạy. Bởi vì họ sẽ sống xứng đáng với sự từ bi, cao thượng mà bà dành cho họ.

    Phật gia cho rằng: ‘Điều ý nghĩa nhất của sinh mệnh đời người chính là quay trở về, trở về với bản tính thuần chân nguyên sơ trong mỗi người.‘ Và rằng, Chân – Thiện – Nhẫn là cội nguồn của những điều tốt đẹp...

    Nhẫn mới có thể tha thứ, bao dung với lỗi lầm của người khác, có Thiện mới có thể đem điều tốt lành trao cho người khác, có Chân mới có thể làm mọi việc từ đáy lòng mà không giả tạo.

    Hãy giữ gìn và vun xới hạt mầm tốt đẹp đó trong lòng mỗi con người, bởi vì không phải chính trị, tiền bạc, dầu mỏ, kim cương mà chính cội nguồn sâu thẳm tạo nên sinh mệnh và vũ trụ ấy mới có thể cứu rỗi thế giới này.
    Theo dkn.tv
    Xem tiếp
    Giang hồ ‘bẻ kiếm’ đi tìm đạo, thành người tu luyện giữa đời thường

    [​IMG]
    Thực ra, từ nhỏ, tôi bướng bỉnh, sẵn sàng phạm tội, nhưng tôi luôn tin có Đấng vô hình. Nhiều hoàn cảnh rất cam go, 100 người muốn dìm tôi chết nhưng 1 người lại mở lối cho tôi.

    “Người ta chỉ cần nghiện một thứ ma túy là đã chết, tôi thì nghiện ngập đủ loại, lại thêm bao bệnh tật trong người, vậy mà vẫn tồn tại. Trong sâu thăm thẳm tâm hồn mình, tôi chờ đợi một cái gì, tìm kiếm một cái gì mà không sao nói rõ ra được. Chỉ vào thời điểm bây giờ, khi viết lại những dòng tâm sự này, tôi mới biết ai là người theo tôi, bảo hộ tôi, tìm cơ hội giải thoát cho tôi đi về với Thiện Lương trong sạch…”

    [​IMG]
    Tôi không nghĩ cuộc đời mình lại có ngày được phản bổn quy chân trở thành người tốt.
    Nghiện ngập là bạn, trộm cướp là nghề, mỗi lần ra tù, ngón nghề càng thạo

    Tôi sinh năm 1973, là con thứ 2 trong một gia đình viên chức ở Nam Định. Cha mẹ đều nghèo. Ba tôi làm ở công ty vận tải đường sông Hà Nội, rất ít khi có mặt ở nhà, còn mẹ thì làm công nhân nhà máy hoa quả luôn phải vùi đầu lo bữa đực bữa cái. Thời bao cấp nuôi đủ được 4 miệng ăn không dễ dàng gì. Hoàn cảnh khó khăn buộc tôi phải nghỉ học lúc lên lớp 10. Từ năm 1989, tức là từ khi 16 tuổi, tôi đã là một con nghiện thuốc phiện, là một kẻ đi bụi với rất nhiều thành tích bất hảo. Mẹ tôi khóc đến ráo hoảnh, thẫn thờ. Cha tôi thức suốt đêm đợi con về, thân hình cứ tiều tụy, xơ xác, tóc cứ trắng từng mảng lớn. Ông ít nói và luôn nằm trên giường bệnh.

    Tôi không thể kể hết ngọn ngành những tội lỗi lớn nhỏ chất chồng theo năm tháng. Nói đúng ra, tôi trơ lỳ khi làm điều ác, đến mức nó như là cuộc sống tự nhiên của mình vậy.

    Năm 1990, tôi bị phạt 1 năm tù giam vì tội trộm cắp và cố ý gây thương tích cho người khác. Năm 1991, vừa ra tù, tôi lao vào ăn chơi, lại trộm cắp vặt, lại hút hít, lại đánh nhau, gây bè kết đảng mặc cho bố mình đang sống những ngày cuối cùng trong tuyệt vọng mong con quay đầu nhìn về bờ bến. Năm 1992, bố mất. Khi cầm bàn tay rằn rặt xương và nhìn khuôn mặt sạm đen với đôi môi mấp máy, tôi mới biết mình sắp mất cha. Tôi òa lên khi áp tai mình nghe cha dặn dò: “Con phải có trách nhiệm với em gái Út”.

    Mang một sứ mệnh lớn mà không biết thực hiện ra sao, lại sẵn thói quen trốn tránh nỗi buồn, tôi nghiện ngập hơn. Thời bấy giờ chỉ có những loại độc dược bảng A và B như moóc phin, đô la găng… Mỗi ngày tôi chích cả chục ống là chuyện thường. Năm 1993, khi cơn nghiện giày vò, chúng tôi quyết định tấn công cả phu nhân của vị cảnh sát hình sự trong tỉnh. Khi cô ấy vừa rời tiệm vàng, chúng tôi cướp luôn cả chục cây. Người ta hứa nếu trả thì sẽ không khởi tố.Tôi không ngờ ngoài số vàng được hoàn trả đầy đủ, người ta nói đang còn một số tiền mặt. Tôi không hề cầm tiền ấy. Nó đã không cánh mà bay. Chúng tôi không thể trả được khoản này.Thế là, bất ngờ một vụ xô xát xảy ra. Tay chân của tôi bị chém lòi cả xương, băng bó khắp nơi. Sự kiện này đã cho tôi vào nhà đá “gỡ lịch” 30 tháng tù tại trại giam Ninh Khánh, Ninh Bình bởi tội danh ăn cướp.

    Tình cảnh gia đình khánh kiệt. Chị tôi phải mua gạo lên bán tận Mộc Châu, Sơn La. Khi về mua ngô bắp bán cho người chăn nuôi. Một lần, liều lĩnh buôn ma túy bị phạt 3 năm tù. Năm 1996, vừa ra tù, tôi vào Sài Gòn. Gia đình quá kiệt quệ, tôi không ngần ngại tổ chức ăn trộm xe máy. Năm 1997, tại Ngã Ba Trung Lương tỉnh Tiền Giang, tôi bị giữ. Vì không có tang chứng vật chứng, người ta tạm giam tôi tại trại Tân Mỹ Chánh, Tiền Giang; khép vào tội “sử dụng chứng minh nhân dân giả” rồi cưỡng bức cải tạo ở Bến Giá, Duyên Hải, Trà Vinh. Cả hai nơi là 30 tháng.

    [​IMG]
    Ra tù vào tội tôi trở thành ‘đàn anh’ trong giới giang hồ, mức độ nghiện ngập nhiều loại ma tuý khác nhau nặng hơn.

    Cuối năm 1999, tôi ra tù, càng nghiện hê-rô-in nặng hơn. Năm 2001, ngựa quen đường cũ, tôi lại bị bắt vì tội trộm xe máy. Quận Gò Vấp cho xuống Mộc Hóa, Long An ngồi 15 tháng trong nhà giam. Năm 2003, lại ra tù. Lần này thì càng nghiện hơn thêm. Tôi không còn tâm sức để đi đào tường khoét vách. Không có ma túy là người tôi vô lực, mềm nhũn như sợi bún. Biết là tội trọng, dễ bị dựa cột nhưng không còn cách khác. Tôi trực tiếp gieo rắc cái chết trắng cho người, mong kiếm được “nó” hàng ngày để rủ thêm nhiều ma quỷ cho thế giới của mình. Tết năm 2002 – 2003, ra Nam Định, tôi lại trộm cắp xe máy.

    Khi ra Nam Định lần sau, chưa kịp “nhận hàng”, tôi bị ốp lên xe rồi đưa về trạm công an ở bến xe. Trước sự chứng kiến của mọi người, họ khám và lấy được bao thuốc ba số dẹt lớn với rất nhiều hê-rô-in. Người ta yêu cầu tôi nhận việc trộm xe thì sẽ thả. Hai cây hê-rô-in chỉ còn lại 1 chỉ, cộng với tội trộm xe. Tổng 2 khung hình phạt là 10 năm ở Trại giam Nam Hà, xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Do đánh nhau với đồng phạm khác, tôi bị đánh dập phổi. Sau 3 lần điều trị với những kháng sinh cao nhất, người ta nói, không thể có lần thứ 4. Tôi chờ cái chết nếu như nhiễm trùng trở lại.

    Lập băng đảng trở thành đàn anh có tiếng
    Năm 2011, tôi về lại Sài Gòn, tiếp tục là kẻ bất hảo. Lần này, tôi mở Tiệm Cầm Đồ Gia Long; số nhà 19/A2 đường Phan Huy Ích, phường 14, quận Gò Vấp. Nghề của tôi là cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê. Hàng ngày, tôi lại quen với những lời oán thán, những câu chửi sau lưng; những cảnh tan cửa nát nhà. Có cả máu và nước mắt. Nạn nhân là người thất cơ lỡ thế; những kẻ cờ gian bạc bịp. Và cả những kẻ giang hồ muốn vuốt râu hùm, định tranh lãnh địa của tôi.

    [​IMG]
    Ngôi nhà của tôi đông dần. Những kẻ bị truy nã về đó hội tụ.

    Tôi thuê nhà 20 triệu đồng một tháng. Rất rộng rãi cho anh em giang hồ tứ chiếng mà tôi kết giao trong Nam ngoài Bắc tụ tập. Ngôi nhà của tôi đông dần. Những kẻ bị truy nã về đó hội tụ. Tôi giao cho đàn em một đứa làm “đầu tổng về banh”, nghĩa là nắm những nơi cá độ bóng đá phi pháp trên diện lớn; không chỉ ở Sài Gòn mà vòi bạch tuộc khống chế mấy tỉnh miền Tây Nam Bộ. Một đứa đàn em nữa thì bao số đề. Cả ba người phối hợp với nhau, mỗi tháng kiếm vài trăm triệu là chuyện nhỏ!

    Có tiền, bọn tôi chơi bời phá phách như trong động quỷ. Thường xuyên những kẻ lấy “mạng banh, mạng đề” của tôi là những nô lệ ở các tỉnh. Họ lên giao nộp tiền và được cùng tham gia “hưởng lạc thú”. Một đêm chúng tôi nướng vào trò trác táng hàng chục triệu đồng là bình thường. Vòng xoáy ô tạp này được bắt đầu từ tối, mọi người tập trung chơi ma túy đá, bảy tám giờ tối thì đi nhậu. Đến 8 – 9 giờ lên quán karaoke ca hát. Từ 11 giờ bỏ thuốc lắc ra uống rồi cùng nhau lên vũ trường quận Một vừa uống rượu tây, vừa hút cỏ K. Sau đó, theo nhạc bay bổng đến 1 giờ sáng lại chơi Lắc với Cỏ K. Tới 3 giờ chơi ma túy hít sống trực tiếp (Khay) và cùng “em út” nằm nghe nhạc. Tới 4 giờ “xuống nhạc” đi ăn đêm. Về khách sạn lại dùng ma túy đá và lắc, tiếp tục những cuộc “mây mưa”. Sau đó, người thì mở mạng cá độ đá banh, người thì đánh bài ăn thua… Những kèo cá độ trên mạng thì ảo nhưng sáng mai nó là thật.

    Với những cuộc chơi bời hoan lạc bất tận như thế, tôi trở thành đàn anh được trọng vọng, là nỗi sợ hãi khiếp đảm của những con nợ… Triền miên trong thế giới ấy, tôi đã gặp hầu hết các hạng người, các hạng tuổi đang chơi ma túy, tôi cảm nhận được ma túy tổng hợp, con ma này đang làm đảo lộn trật tự xã hội. Dù kiếm được nhiều tiền, nhưng vì là đồng tiền bất chính nên cũng theo khói theo mây mà bay biến. Nhiều lúc trong một khoảnh khắc, tôi thấy cuộc sống thật trống rỗng vô minh, chẳng thoát khỏi ma tuý mà việc vào nhà đá “bóc lịch” là lẽ thường.

    Sau một thời gian tạm sống ngoài nhà tù, điều tốt đẹp duy nhất tôi làm được là thực hiện di nguyện của cha, mua cho cô em gái 300 m2 đất, làm 8 phòng trọ cho thuê.

    Muốn làm người lương thiện
    Một ngày rất đặc biệt, tự dưng tôi cảm nhận chán ngán cuộc đời đến cùng cực, tôi nói với gia đình là muốn tìm đến một chốn thật yên tĩnh để sửa đổi tâm tính. Tôi mơ hồ có một vị phúc Thần nào đó đã thầm thì với mình như vậy. Có phải là sự an bài chăng? Thực ra, từ nhỏ, tôi bướng bỉnh, sẵn sàng phạm tội, nhưng tôi luôn tin có Đấng vô hình. Nhiều hoàn cảnh rất cam go, 100 người muốn dìm tôi chết nhưng 1 người lại mở lối cho tôi. Người ta chỉ cần nghiện một thứ ma túy là đã chết, tôi thì nghiện ngập đủ loại, lại thêm bao bệnh tật trong người, vậy mà vẫn tồn tại. Trong sâu thăm thẳm tâm hồn mình, tôi chờ đợi một cái gì, tìm kiếm một cái gì mà không sao nói rõ ra được. Chỉ vào thời điểm bây giờ, khi viết lại những dòng tâm sự này, tôi mới biết ai là người theo tôi, bảo hộ tôi, tìm cơ hội giải thoát cho tôi đi về với Thiện Lương trong sạch.

    Tôi bắt đầu bỏ bê chuyện kiếm tiền, ngao du rất nhiều chùa để tầm sư học Đạo. Tôi ấn tống kinh Phật rất nhiều. Mỗi lần vài ngàn cuốn. Chùa nào có trẻ mồ côi, tôi đến làm Công Đức. Nếu có mười triệu tiền lời, tôi chi ra năm triệu. Mười ngày sau, nếu có năm triệu lời thì tôi bỏ ra hai triệu. Tôi nghĩ rằng, mình cần buông bỏ nhiều nữa thì mới có thể tìm thấy con đường trở về với Phật. Mấy em út giang hồ cũng vì thế bỏ tôi mà đi, hầu hết chúng đều bị bắt và vào tù.

    Công an Gò Vấp, rồi công an thành phố thường gọi tôi lên. Tôi hứa có hai việc không làm là bán ma túy và chứa mại dâm. Còn tôi sẽ phạm tội từ đâm thuê chém mướn đến siết nợ, cho vay… Tôi phải sống và phải trả 20 triệu tiền nhà… Mấy anh công an ở phường và cả ở thành phố cũng cười trừ. Bởi họ thấy tôi đã dần dần bớt làm phiền họ. Đơn giản là tôi không tha thiết gì tiền bạc. Và có một tiếng gọi bí mật từ đâu đó, cứ đêm sâu tha thiết gọi về…

    Làm chồng hai người đàn bà xa lạ
    Một buổi tối, vì phê quá, tôi về quên khóa cửa. Sáng mai, nhìn thấy một đống thù lù ở góc nhà. Nhìn mãi mới thấy một người phụ nữ trùm chăn kín mít. Ngắm mãi, thấy cô ta mang cái bầu lớn. Mái tóc nhuộm vàng hoe xơ xác, khuôn mặt trẻ con lấm lem son phấn. Cô thở phè phè như bị ai chặn họng. Thật tội nghiệp. Tôi cứ nhìn quên cả ăn sáng. Tôi lờ mờ nhớ tới vô số những gương mặt phụ nữ trong những “cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”. Đời mình không ra sao cả. Nhưng những kiếp phụ nữ này sao mà bất hạnh? Đứa trẻ chưa ra đời sao số kiếp đã bị đọa đày? Cô ta thức giấc, nhìn thấy tôi thì cuống cuồng nhớn nhác… Cô nói rằng, đứa trẻ trong bụng là con tôi. Rất có thể là như vậy. Tự dưng tôi có một gia đình. Tôi vô cùng khó chịu vì từ nay bị “vòng kim cô” định mệnh siết chặt.

    Rồi, chúng tôi như đã là vợ chồng. Mọi công việc bếp núc, chợ búa đến quần áo, tã lót, hộp sữa cho con cũng đến tay tôi. Không hiểu vì sao tôi lại học được tư thế ngồi thiền. Có đêm, tôi ngồi như vậy đến lúc trời sáng. Cũng có đêm, tôi lầm rầm chửi rủa, muốn dùng dao giải quyết cho tất cả thành máu. Có đêm, tôi cầm gậy múa cả mấy giờ. Cứ loang loáng và vun vút tiếng gió. Hai mẹ con cô bé đóng cửa. Nhưng tôi vẫn nghe tiếng trở mình; tiếng thở như nén chặt, đầy lo lắng…

    [​IMG]
    Một sáng thức dậy tôi bỗng dưng có vợ và con…

    Rồi một hôm, nước mắt ngắn dài, cô quỳ xuống chân tôi nói lên sự thật và mong tôi đùm bọc. Cô vào đây muốn làm ra tiền để chăm sóc cho cha mình bị trọng bệnh tại miền Trung. Đẩy đưa mãi phải làm gái. Và có bầu. Cô quyết định vào nhà tôi. Một là chết, hai là hy vọng được cưu mang… Tôi dịu lòng, coi mình là chồng, chăm nom cho hai mẹ con. Tôi bắt cô hứa không trở lại làm gái và đưa ra kế hoạch sẽ cho cô ta chục triệu đồng mở cái quán bán hoa ở trước cửa hiệu của mình. Tôi cũng nói cô có thể vay mượn những người xung quanh. Tôi bảo kê cho chuyện đó!

    Nhưng gia đình tôi không thể chấp nhận. Những ỳ xèo có thể dẫn tới đổ máu. Thế là, cô ta đã mang con và mọi vật dụng tôi sắm cho rời bỏ nhà, lánh biệt. Thời gian sau, một người phụ nữ khác, nhà gần tôi, cũng là gái chơi mà tôi thường chăn gối khi phê ma túy, lại tái diễn một vở kịch như trước. Lần này, tôi cảnh giác, đi thử ADN, biết không phải con mình nhưng “bỏ thì thương, vương thì tội”. Cô kia vừa chuyển đi thì cô này tới bắt tôi làm chồng… Tôi gợi ý cô hãy mở quầy bán hoa. Bởi nhà cô có truyền thống làm nghề này. Nhưng rồi, theo tiếng gọi giang hồ, cô lại bỏ tôi để thâu đêm bán thân, suốt ngày ma túy.

    Hành trình tầm sư học Đạo quá gian nan
    Những mệt mỏi với gia đình “không dưng mà có” đã làm tôi ngày một thêm chán nản. Tôi khoác ba lô đi lang thang các chùa. Hầu như chùa nào cũng từ chối. Có nơi, ở được vài hôm thì nhận ra rằng đó không phải là nơi gửi gắm. Đâu đâu, đồng tiền cũng là thủ tục đầu tiên! Tôi cũng đã lên một Thiền viện rất lớn. Có những sư tu hàng chục năm rồi mà vẫn có ý nghĩ hoặc hành động sai. Ở nơi tưởng như thiêng liêng vậy mà còn dung chứa những người buôn bán ma túy, còn có những kẻ đồng tính luyến ái sinh hoạt bại hoại. Tôi đã giải tán lũ người này nhưng sư lại lạnh nhạt, và nói trắng ra với tôi rằng:“Anh lên phá hoại người tu luyện!”.

    Quá thất vọng, tôi ra về. Càng nghiện ngập hơn. Tôi nhớ không rõ từ lúc nào, tôi đến nhà ai thấy cuốn CHUYỂN PHÁP LUÂN. Tôi đưa về nhà đọc vài trang rồi cất trên bàn thờ. Có ông Sư bên Mật Tông ở Thiền viện Phước Sơn đến nhìn thấy cuốn sách mượn về đọc. Ông nói với tôi: “Sách này chú không thể hiểu được đâu!“. Tôi nói ông ta giữ lại. Còn tôi tiếp tục đi các chùa mong gặp minh sư.

    Tôi nghĩ, mình phải cai nghiện xong thì mới tu được. Vậy là, tôi vào hầu hết các trung tâm. Mỗi lần mấy triệu đồng. Cai xong, tôi vào chùa. Không ai nhận mình làm đệ tử là phải về. Nhưng hễ về nhà là bạn bè lại đến rủ rê. Rồi đâu lại vào đấy! Nghiện vẫn hoàn nghiện!

    Một hôm, tôi nghĩ, mình không tu được là bởi đồng tiền mình làm ra không sạch sẽ. Tôi bán hết mọi xe cộ phương tiện, đồ vật rồi cho gia đình, bè bạn. Với bộ dạng thiểu não, tôi đi ra chợ. Tôi gọi các con nợ ra nói chuyện với giọng rất từ tốn chứ không “sắt đá” như thường ngày. Tôi hỏi:“Bấy lâu mày làm ăn thế nào?”. Mặt con nợ tái ngắt, mồ hôi rịn ra tầm tã, có cảm giác như khói bốc trên đầu: “Dạ, anh! Em vẫn đóng đầy đủ cho anh cả mà, em có sổ sách, anh có cần xem không ạ?“. Tôi xua tay, dịu giọng: “Anh chỉ hỏi chuyện làm ăn của chú, chứ có ý gì đâu”. Con nợ vái lia lịa như muốn quỳ rục xuống chân tôi:“Anh thương chúng em nên làm ăn cũng đỡ”. Tôi chùng xuống:“Anh lấy lãi như thế mà chú mày vẫn làm được thì cũng giỏi. Thôi, anh không biết vốn lời ra sao nhưng anh cho tụi mày tất cả. Ráng làm ăn lương thiện, đừng buôn ma túy và dẫn gái nữa, chắc sẽ sống được!“.

    Tôi phải đi cả ngày để xóa nợ cho các con nợ của tôi. Nhưng không ai tin. Có đứa phải trốn nhà, hôm sau thấy an toàn mới trở về… Tôi nghĩ:“Không tiền bạc, không có kế sinh nhai có lẽ mình sẽ đắc Đạo”. Tôi vào trung tâm cai nghiện Nhị Xuân (Hóc Môn), lần này không vật vã lên cơn. Sau 8 ngày, tôi ra trại rất bình thường như một người thường. Ra trại, lại lan man nỗi buồn. Lại chơi. Nhưng chỉ “đập đá” thôi, không động gì đến hê-rô-in nữa. Để tránh những rủ rê, tôi quyết định ra Bắc. Em út giang hồ đón tôi như thủ lĩnh. Tôi xin tụi nó cho một phòng khách sạn với cơm chay hàng ngày. Tuyệt đối không ai được quấy rầy.

    Tôi quyết định đi Hội Chùa Hương lễ Phật. Mấy đứa đàn em lo cho tôi rất chu đáo. Tôi không có mục đích đi ngắm cảnh. Chủ yếu là đi để bái lạy và cắm hương cho Phật. Sau đó những bạn giang hồ nói là trên ngọn trường thạch cao ngút trời kia còn có một “cái lán” hiếm ai đặt chân tới đó. Người ta còn kể rằng, trên ấy có vị Sư đã “lập cốc” tự tu, tu đơn độc mấy chục năm rồi. Sư vốn có nhà ở Hà Nội nhưng đã bán nhà, từ giã chốn phồn hoa lên với khe suối mây ngàn. Con đường lên núi là do Sư gánh đá để trải đường. Sư tự làm, tự sống, mai danh ẩn tích. Tôi mừng lắm, nghĩ rằng đây là người mình đi tìm suốt lâu nay.

    Sáng hôm sau, thuê người gánh gạo và các vật dụng cá nhân lên núi. Phải đến 3 giờ đồng hồ đi bộ rã chân tôi với người dẫn đường mới nhũng nhẵng đến nơi sư tịnh. Tôi trình bày mọi việc. Sư nói nơi này chỉ cần người thực tu. Sư cho mượn xoong nồi tự nấu tự ăn. Nói rằng từ nay cứ thế mà sống. Nếu hết củi thì lên rừng kiếm. Sư nói: “Chú cứ ở đây mấy ngày. Nếu được thì hãy về nhà làm giấy tờ có xác nhận của địa phương rồi lên đây tu tiếp”. Tôi rất mừng vì mình đã có thầy!

    Sư vừa xuống núi. Tôi thấy trống trải. Đêm không ngủ được, dù lấy hết mọi chăn áo cuộn vào mà vẫn cầm cập. Tôi biết cái lạnh kỳ dị này là do thiếu ma túy. Sáng, tôi xuống núi. Tắm rửa bên suối xong thấy lòng thanh thoát. Tôi chắp tay vái tứ phương xin chư Phật mười phương cho hoàn thành các thủ tục để bước vào con đường tu chính thức. Về nhà làm giấy tờ xong, tôi lại theo đường cũ lên núi.

    [​IMG]
    Một ngày đặc biệt tôi trở nên chán ghét mọi thứ, muốn tìm một cửa chùa để hồi tâm.

    Sư đưa tôi đi khắp nơi, đến đâu Sư cũng giới thiệu tôi là đệ tử trong giới giang hồ. Sư đi mua thực phẩm, rồi mua những thùng đựng nước khổng lồ với ý định sẽ tích nước trên núi để mọi người lên đó chữa bệnh. Tôi biết, có một người bị ung thư vòm họng đã lên trên ấy. Do khí hậu và nguồn nước tốt, anh ấy nói cảm thấy dễ chịu…

    Nhiều lúc đi giữa phố phường Hà Nội với áo nhà chùa, cái đầu cạo trọc, tôi rất sợ gặp lại những ai đã từng quen. Chúng nó lại rủ rê, chắc khó lòng thoát khỏi cám dỗ của đủ thứ ma túy đang đợi. Có lần, tôi gặp được sư nữ tu tại gia dưới Bình Đà. Cô ấy chỉ cho tôi tu pháp môn tiết thực Ohsawa Nhật Bản. Về núi, tôi nhịn ăn liền 7 ngày hy vọng kết hợp với ngồi Thiền, cơ thể được tịnh hóa. Ai ngờ tôi thấy mệt mỏi, người cứ mềm oặt ẹo. Ý nghĩ cứ lang thang, tâm hồn cứ thảng thốt bất định… Không thể ngồi thiền nổi, mặc dù tôi cũng đã tự nhủ rằng mình tự tu thôi. Bởi sư tu theo Tứ Niệm Xứ của Phật giáo thời nguyên thủy.

    Cơ duyên gặp gỡ
    Đang hoang mang thì một hôm có 2 người từ dưới thành phố lên xây chân móng cho những bồn đựng nước của nhà chùa. Hai ba ngày trôi qua, chỉ giao tiếp sơ sài lấy lệ. Ngày thứ Tư vì thiếu vật liệu, sư xuống núi. Tôi tò mò đến bên một người đẹp trai, tuấn tú, dáng vẻ rất trí thức đang chăm chú đọc một cuốn sách tôi thấy quen quen. Anh ta đang đọc mục: “Không trong ngũ hành, ra ngoài tam giới”. Tôi chẳng hiểu mô tê gì cả nhưng tò mò:“Ai là tác giả cuốn sách này hả anh?“.

    Anh ta giở những trang đầu cho tôi nhìn thấy một người đàn ông rất trẻ rất phúc hậu… Một người tôi nhìn rất quen nhưng ngồi nghĩ mãi không biết mình gặp đâu rồi. Tôi ngỏ ý muốn mua một cuốn sách như vậy. Anh chỉ cười. Tôi không thể nào diễn tả được cảm giác hạnh phúc an lành khi dán mắt mình vào cuốn sách ấy mà tim thì cứ thình thịch liên hồi. Xưa nay, tôi không có cảm xúc. Vì giang hồ cần thứ máu lạnh để làm đổ máu đỏ! Và tôi nhận ra cuốn sách ấy chính là cuốn CHUYỂN PHÁP LUÂN mà tôi đã từng có. Khá bất ngờ nhưng lần này trong tôi có một cảm xúc rất mãnh liệt muốn đọc và muốn có lại cuốn sách ấy.

    Tôi đưa cái chiếu nhỏ xin người đàn ông ấy được ngồi Thiền bên cạnh anh, để gần hơn cuốn sách có sức hút kỳ lạ ấy! Tôi phụ giúp mọi người. Hễ rảnh, tôi lại nói cái nguyện vọng có cuốn CHUYỂN PHÁP LUÂN. Anh San (tên người đàn ông cùng tuổi với tôi) hứa sẽ cho tôi mượn đọc. Nhưng thấy tôi cứ quấn quít với mọi người, anh San nói:“Nếu bạn tha thiết vậy, mình sẽ tặng bạn”.

    [​IMG]
    Sau bao gian nan tôi đã tìm thấy ánh sáng cuộc đời. Pháp Luân Công đã thực sự cải biến tâm tính con người tôi.

    Tôi mừng mà lo. Suốt đêm trông chờ sáng lên chỗ mọi người làm việc. Tôi nói với San là rất muốn có sách để dứt khoát rời khỏi ngọn núi này. San đã chạy xuống chỗ nghỉ ngơi, rồi chạy lên đưa sách cho tôi. Anh vội vàng ghi số điện thoại và lời nhắc nhở trong một mảnh giấy:“Không được vẽ hoặc gấp sách, phải trân trọng cuốn sách quý này...”. Mãi sau, xem trên mạng, nhìn thấy người quen quen, tôi mới biết bài: “Lời giãi bày bất ngờ của một ‘cao nhân’ – Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người” là viết về San, người bạn “hữu duyên” đã cho tôi gặp Pháp, tặng tôi cuốn sách quý giá này.

    Trong bài có viết:“Cuối năm 2014 khi có được trọn bộ Kinh Pháp của Pháp Luân Công, theo thói quen cũ, tôi lên núi “bế quan” đọc sách. Sau một thời gian tìm hiểu và trực tiếp đọc bộ Pháp này tôi đã hoàn toàn chấn động và hối tiếc sâu sắc vì những suy nghĩ nông cạn qua một vài thông tin đã vội vã đánh giá sai về Pháp Luân Công“. Như vậy, việc lên núi làm chân bồn nước cho sư, chỉ là cái cớ để anh được đọc Pháp trong tĩnh lặng cùng thiên nhiên.

    Thế là, tôi đành phải nói dối với Sư là về chịu tang bà nội, dù bà đã mất lâu rồi. Để lại những đồ dùng không cần thiết, tôi cẩn thận bỏ cuốn sách vào ba lô lao xuống dốc núi với một niềm hạnh phúc vô bờ bến dù chẳng biết nó cụ thể ra sao! Thật lạ, con đường xuống núi thường phải đi chừng 3 tiếng. Hôm ấy, như có ai nâng bổng chân mình, tôi xuống dốc chỉ mất chừng 1 tiếng thôi. Một mình tôi với con suối. Tôi lội mãi về phía rừng sâu. Ngồi trên phiến đá rêu xanh nhìn những loài cây dại xâm xấp nước, tôi soi tấm thân trần, thấy nhằng nhịt không biết bao nhiêu là sẹo. Tôi có cảm giác đó không phải là mình. Tôi rùng mình sợ kiếp giang hồ máu me tranh đấu. Những con cá nhỏ rỉa chân gọi tôi xuống dầm mình trong làn suối. Chúng rỉa khắp thân, nhồn nhột khiến tôi cười vang giữa núi rừng thanh khiết.

    Tôi ra chỗ cũ. Ánh nắng chan hòa. Bao nhiêu là những con chim lạ. Chúng dường như tụ tập trên tàng lá xanh, dưới phiến đá tôi ngồi thiền. Sau, tôi mới hiểu tại sao có điều kỳ diệu đó. Chả là, tôi treo ba lô lép kẹp trên cành cao. Trong ba lô có báu vật là cuốn Thiên Thư sẽ cho tôi làm lại một cuộc đời hoàn toàn mới! Tôi ôm chặt ba lô, cảm nhận một phiến chữ nhật cồm cộm nơi ngực mới yên tâm. Tôi đi bộ, đi xe ôm, đón xe buýt, về bến xe Kiệm Nghĩa, về Hà Nội; ghé qua nhà thắp hương cho nội rồi kêu taxi ra sân bay…

    Chặng đường tu luyện
    Tôi ngồi mải mê đọc cuốn Chuyển Pháp Luân trong phòng đợi. Khi đã ổn định chỗ ngồi, tôi đọc tiếp. Những dòng chữ cứ mờ dần bỗng sáng bừng lên lung linh. Tôi ngước mắt nhìn lên, thấy đèn sáng choang. Cô tiếp viên nở nụ cười thân thiện. Thì ra, trời đã tối…

    Em gái ra đón. Tôi ôm cuốn sách về nhà. Ăn xong, vào ngay trong buồng mở sách đọc tiếp. Rồi, tôi ngủ thiếp lúc nào không hay. Tôi không sao kể lại chi tiết những gì đã xảy ra đêm hôm ấy. Tôi chẳng biết mình thức hay ngủ. Chỉ biết rằng hình như có người đã ngồi sẽ sàng bên giường tôi. Bàn tay người ấy vuốt tóc, đầu tôi xoay như chong chóng rồi chậm dần… Một cảm giác thật thanh tịnh. Người tôi cứ nhẹ dần, nhẹ dần. Sáng sau, tôi dậy muộn, người nhơm nhớp như ai chà xà phòng miếng, quần áo ướt sũng, tanh hôi. Tôi đã đi vệ sinh nhiều lần ngay sau đó. Mà cũng kì lạ, không hiểu sao trong bụng tôi lúc ấy không biết ở đâu ra nhiều chất cặn bã thế… Tôi vào nhà tắm kỳ cọ cả giờ; vào phòng đọc sách quên luôn ăn sáng mà chẳng thấy đói. Đọc xong cả cuốn sách dày, tôi lên mạng tìm và tập theo hướng dẫn ở trên mạng. Ba ngày sau tôi đã thành thục 5 bài Công Pháp.

    [​IMG]
    Sau khi đọc sách tôi bắt đầu tập theo các động tác của năm bài công Pháp.

    Trở về Bình Dương, sau khi đọc đến lần thứ 4 cuốn sách, tôi nói chuyện với mọi người trong gia đình, mong họ cùng tu Phật với tôi. Lần trước, tôi bán mọi thứ, xóa hết những con nợ rồi đi biệt tích, gia đình đã cho tôi là phát điên, cho là ma túy đã đến thời kì tác oai tác quái. Lần này, mọi người mắt tròn mắt dẹt nhìn tôi như “quái thú” khi thấy tôi nói đến chuyện tu Phật. Mỗi người một thái độ, nhưng ai cũng chì chiết, coi tôi như kẻ đáng tởm lợm. Họ không muốn gặp tôi nữa.Tôi càng Nhẫn, người nhà của tôi càng làm tới. Họ cứ nhất quyết nói tôi điên thật rồi! Họ ngoảnh mặt quay lưng với tôi thật tàn tệ. Chuyện tôi tu Phật để trở thành một người tốt, một người lương thiện, rõ ràng với mục đích tốt đẹp là thế… mà không hiểu sao làm họ như phát cuồng…

    Buồn. Bế tắc. Tôi lại sa ngã, lại con đường xưa ma túy. Tôi đến nhà những ai đã mang ơn mình để xin tiền hút hít. Lần nào tôi cũng gặp những tình cảnh đau lòng. Tôi đến đứa em mà tôi đã từng cho tiền, đã khuyên giải hãy làm ăn chân chính… Nhà cửa nó xơ xác, chồng nói vợ mổ nhiều lần mà bệnh viện chẳng biết bệnh gì. Vợ nó vừa thiêu ở nhà xác buổi sáng thì chiều tôi tới. Về nhà, người tôi bủn rủn. Tôi nghĩ đây là một điểm hóa nghiêm khắc. Nằm một mình, tôi sợ lạnh toát người. Những cơn nghiện vẫn có sức mạnh của ma. Tôi vừa chơi ma túy, vừa nước mắt ngắn dài. Nhìn cuốn sách Pháp, tôi thấy ân hận. Nhưng vừa tỉnh ngủ, bọn đàn em đã chờ trước cửa…

    Một hôm, tôi cầm cuốn sách Chuyển Pháp Luân, thốt lên thành lời: “Sư Phụ hãy cứu con! Con hứa sẽ làm lại”. Để thể hiện sự quyết tâm của mình, tôi quyết định sẽ nằm hẳn trong nhà 7 ngày không ăn. Đến ngày thứ Tư, thì anh San gọi điện từ Hà Nội hỏi thăm. San khuyên tôi mở các sách khác của Đại Pháp để đọc. Tôi lên mạng, vừa đọc mấy trang bài giảng của Sư Phụ, tự dưng thấy bụng cồn cào. Nấu mì ăn xong, tôi lại đọc tiếp. Lần này, đọc đến đâu, tôi thấy thấm tới đó. Tôi bắt đầu hiểu nhiều điều mà trước tới giờ tôi không để ý hoặc còn lơ mơ. Tôi biết rằng muốn làm người tu Phật thì phải nghiêm túc phi thường chứ không phải là trò đùa con trẻ! Cả một tháng, mặc dù phải chống cự với những cơn khát thèm ma túy nhưng tôi đã cần mẫn đọc được rất nhiều sách của Đại Pháp.

    Sau 3 tháng, anh San giới thiệu cho tôi lên tập Công ở công viên. Rồi, hàng ngày đi hơn 30 km để cùng học Pháp với mọi người trong một đợt 9 ngày. Tôi nghĩ, mình là người tu Phật cho nên đi đâu cũng phải chỉn chu. Sực nhớ, đang còn một con nợ vay 200 triệu, mỗi tháng đóng lãi 72 triệu tiền lời. Tôi đến lấy tiền và may một bộ vest thật sang. Hôm ấy, ăn diện bảnh bao đi học Pháp nhưng tôi lại gặp bao nhiêu trở ngại. Lúc về, tôi tự giày vò: Chắc là mình đang sử dụng những đồng tiền bất chính nên mới ra nông nỗi ấy. Vậy là, tôi đi xe đạp ra ga Hòa Hưng, với ý định hàng ngày đi nhặt ve chai vừa đủ sống, thời gian còn lại dành cho đọc sách và luyện công. Tôi nghĩ bụng, thấy tình cảnh của mình thế này thì gia đình không có thể ỳ xèo; giới giang hồ không rủ rê mình trở lại. Và chắc mình sẽ thoát khỏi cái tình với em út nhiêu khê… Sau 3 giờ đạp xe, nhìn thấy mọi người đang tập Công ở công viên, tôi vào ngồi thiền cùng. Rồi, sau khi ngồi thiền, tôi từ bỏ ý định nhặt ve chai mà lại đạp xe về Bình Dương tìm kế sinh nhai khác.

    [​IMG]
    Luyện công đều đặn mỗi ngày khiến tôi trở nên khoẻ mạnh và tràn đầy năng lượng. Tôi thấy cuộc sống tràn đầy ý nghĩa.

    Mỗi ngày cứ đọc Pháp, luyện Công xong, tôi lại thấy mình thật sảng khoái, sức khỏe sung mãn. Đặc biệt, tôi đã không còn nghiền ma túy nữa. Cuộc đời của tôi có hơn 4 chục năm thì tới gần 18 năm là nằm trong tù, chưa kể nhiều lần phải ở trong trại cai nghiện. Tôi mắc nhiều bệnh tật lắm; mà bệnh do hút chích cũng rất nhiều. Tôi không thể dùng thuốc kháng sinh nữa, bởi loại nặng nhất đã dùng. Tôi bị viêm gan C, một bệnh được xếp vào những căn bệnh mãn tính với những tác hại khó kiểm soát. Nó treo cái chết lơ lửng suốt đời cho những người dính mắc vào nó. Thêm vào đó là đủ thứ bệnh nặng nhẹ về thần kinh, về mất ngủ, về những ảo giác yêu ma…

    Nhưng sau khi tôi đọc sách và tập các bài Công Pháp được một thời gian thì tất cả các bệnh tật giờ đây đã rủ nhau đi hết. Tôi như sống lại một cuộc đời mới, cuộc đời thứ hai. Ai gặp tôi cũng khen nước da hồng mịn, thần thái thiện lương của tôi bây giờ, thật là khác trước đây nhiều nhiều lắm. Nghe họ khen, hay những khi tự soi vào mình, tôi lại nghĩ đến Sư phụ của tôi:“Cho con tạ ân Sư Tôn. Ngài đã vớt con từ những tầng sâu nhất của địa ngục. Ngài là Cha, là Thầy mà con sẽ đi theo suốt đời mình!”. Tôi đã hiểu được ý nghĩa của câu: Quay đầu là bờ. Tất nhiên, việc tu Phật không hề đơn giản. Nếu biết buông bỏ, biết làm những điều Chân Thiện thì chúng ta mới tìm được con đường giải thoát khỏi những khổ đau, nhơ nhớp.

    Vậy là, hôm nay, tôi đã ngồi sau vô lăng chiếc xe taxi bốn chỗ ngồi. Tôi đã tự kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình. Tôi là một người tu Phật, và thấy mình đang rất nỗ lực để tu sửa mình, để trở thành người tốt, người lương thiện. Tôi thấy mình thật là có duyên với Phật Pháp nên mới có thể trở thành một người Chân Tu giữa chốn người thường này. Tôi rất hy vọng những người khách của tôi biết nhiều điều kỳ diệu về Pháp Luân Công. Tôi sẽ có được những người bạn mới cùng chung tình huynh đệ trong ngôi nhà ngập niềm hạnh phúc của thế giới Chân, Thiện, Nhẫn… Tôi không hề mặc cảm một chút nào về quá khứ bất hảo trước đây của mình. Tôi đã đủ tự tin nhìn về phía trước để vững bước đi lên. Vì bây giờ tôi thấy mình đã là một người tu Phật chân chính!

    Tôi không sao quên được cái cảm giác sau khi tắm và uống đến no bụng ngọn nước trong lành dưới chân núi Long Vân. Chưa vội rời bước, treo ba lô trên một cành cây cao, tôi tìm một phiến đá phẳng ngồi thiền lặng lẽ, nghe rất rõ những tiếng lá khô lạo xạo, tiếng nước khe rì rào, tiếng gió mơn man… Cả đời mình, tôi chưa bao giờ thấy được tâm hồn thuần tịnh, được gột rửa bằng những ý nghĩ dịu nhẹ, thiện lương như thế.

    Vâng! Được sống trong Phật Quang Phổ Chiếu, tôi thật hạnh phúc. Tôi chia sẻ câu chuyện về cuộc đời mình với hy vọng có nhiều người, nhiều gia đình đang rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng như tôi thuở nào có cơ hội làm lại cuộc đời mình. Tôi cũng muốn nói với những ai chưa biết về Pháp Luân Công, chưa biết về cuộc bức hại khủng khiếp mà những người tuân theo pháp lý Chân – Thiện – Nhẫn phải chịu…, có thể nhân câu chuyện đổi đời của tôi mà tìm hiểu, để rồi có cách nhìn nhận đúng đắn về một bộ môn tu Phật đang được phổ truyền rộng khắp trên thế giới. Tôi nghĩ rằng xúc phạm Thần Phật chắc chắn sẽ không tránh được quả báo. Bao nhiêu bài học thực tế rồi nhưng có người vẫn còn mê. Tôi vừa đọc được một câu nói rất đáng cho chúng ta cùng suy ngẫm: “Lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng bi kịch lớn nhất của giai đoạn chuyển tiếp xã hội này không phải là tiếng ồn ào đinh tai nhức óc của những người xấu, mà là sự im lặng đáng sợ của những người tốt” (Tiến sĩ Martin Luther King, Jr. người tạo nên thời kỳ dân quyền tại Hoa Kỳ).

    Phật Pháp đang hiện diện ở cõi người. Hy vọng mọi người hãy tìm đến với Phật Pháp để tu sửa bản thân mình, để tìm đường trở về với thiện lương, để được sống trong THÂN TÂM AN LẠC.

    Bình Dương ngày 2/9/2017
    Phạm Bá Long
    Số điện thoại: 0986328632
    Theo DKN.TV
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi Minhhuongvn12d789
    Đang tải...


  2. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Tình thương quặn thắt từ trái tim của mẹ đã thấu trời xanh – Thần tích là có thật
    [​IMG]

    Tình yêu thương của mẹ và ước nguyện mãnh liệt được sống của tôi đã chạm đến trời xanh. Thần tích đã đến với tôi.

    Khi nhận lại bệnh án, trong đầu tôi chỉ còn ý nghĩ: “Thôi chết đến nơi rồi! Thế là hết, tương lai và sự nghiệp coi như xong”. Từ viện về đến nhà, tôi đóng sập cửa ngồi trong phòng khóc thút thít một mình. Lúc bấy giờ mới khóc lên thành tiếng, than thở ông trời sao bất công thế, làm người tốt mà sao vẫn phải khổ…

    Tôi là Khổng Mạnh, năm nay 27 tuổi, kỹ sư ngành cơ khí chế tạo máy, quê ở Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Tôi xa quê lập nghiệp, hiện là Supervisor cho Công ty Nhựa và Cơ Khí, một doanh nghiệp Việt Nam. Tôi là con trai lớn trong nhà, sau còn một em gái. 7 năm ròng rã vật lộn với bệnh tật, nhiều lúc tưởng như chỉ còn một bước là đi vào cõi chết, cuộc đời tôi được lật sang trang mới nhờ điều kỳ diệu khó nói thành lời…

    Thời áo trắng học trò
    Tôi phát hiện ra mình bị nhiễm viêm gan B cấp tính từ năm lớp 10. Bụng tôi bị đau âm ỉ, rồi trong một ngày chuyển sang chướng bụng và đầy hơi. Sau vài hôm mắt tôi có biểu hiện màu vàng, rồi da cũng chuyển sang màu vàng, toàn thân cứ như cục nghệ. Bố tôi là bác sĩ, ông cũng nhận định tôi có thể bị bệnh gan. Bố đưa tôi đến bệnh viện khám cho chắc chắn rồi về điều trị tại nhà.

    Một bác sĩ ở quê tôi nói trêu là: “Thế này thì chết rồi, bị nhiễm siêu virút ấy, loại này thì không diệt được và cả đời sẽ phải mang bệnh”. Vì lúc ấy tôi mới học lớp 10 còn quá trẻ chưa có nhiều hiểu biết, nên không ý thức được mức độ nghiêm trọng căn bệnh mà tôi phải gánh chịu. Sau này khi mà bệnh ngày càng trở nên trầm trọng, tôi không thể ăn nổi cơm trong cả 1 tuần, đêm không thể ngủ được do bụng chướng đầy lên và rất đau. Tôi run rẩy nói với mẹ: “Con đói lắm mẹ ơi, cứ ăn vào thì lại nôn ra…”. Mẹ nước mắt lưng tròng thương tôi mà không thể làm gì. Tôi hiểu được nỗi buồn của mẹ nhưng vì quá đau đớn và khó chịu nên tôi chỉ còn biết bám víu vào mẹ để vơi đi sự dày vò của bệnh tật.

    Tôi vật vã điều trị ở nhà nhưng không hiệu quả, tôi phải nhập viện điều trị một tháng. Việc học của tôi vì thế mà bị đình trệ. Một lần tôi vô tình nghe được hai người bạn nói chuyện với nhau, họ nói: “Viêm gan B à, bệnh này có thể lây nhiễm đấy!”. Từ đó trong tôi luôn mang theo cảm giác mặc cảm, ái ngại khi giao tiếp với người khác. May mắn các bạn cùng lớp cũng rất tốt và hòa đồng, nên tôi cũng được an ủi phần nào tuy rằng trong sâu thẳm nỗi niềm ấy vẫn luôn trăn trở khiến tôi luôn mất tự tin khi giao tiếp.

    Sau bảy năm đằng đẵng trị bệnh bằng đông, tây y kết hợp cả cúng bái, nhưng bệnh của tôi vẫn cứ sớm nắng chiều mưa. Tôi buộc phải chấp nhận sống chung với cái bụng luôn luôn chướng, cảm giác đó khiến người ta sống dở chết dở. Lần ấy tôi đi khám lại ở bệnh viện tuyến huyện, cầm kết quả hội chẩn trên tay cùng lời khuyên của vị bác sĩ điều trị: “Nên kiểm tra lại ở bệnh viện tuyến trung ương” vì gan của tôi đã xuất hiện dấu hiệu bị xơ, mà xơ gan thì không thể chữa được, sau xơ sẽ là ung thư gan. Cách duy nhất để trị liệu cho giai đoạn xơ là chỉ có thể kéo dài và duy trì trạng thái kìm hãm bệnh được càng lâu càng tốt. Nó đồng nghĩa với việc sự sống của tôi cũng sẽ được kéo dài.

    Một mình chống chọi với trọng bệnh
    Tôi lặng lẽ giấu cha mẹ về Hà Nội khám lại. Tôi như chết trân sau khi vị bác sĩ nói: “Cháu không phải là có dấu hiệu bị xơ đâu mà chú khẳng định là cháu chính xác đã bị xơ gan rồi”. Đất dưới chân tôi như sụp xuống, đầu gối bủn rủn, tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực: Rõ là tôi vừa được nghe bản án tử rồi còn gì? Trong trí não tôi chỉ còn vẻn vẹn một câu: “Thôi chết đến nơi rồi! Thế là hết, tương lai và sự nghiệp coi như xong”. Trong khoảnh khắc ấy mọi ánh sáng, niềm vui sống, ý nghĩa cuộc đời như tắt phụt. Một cảm giác bế tắc tràn ngập tâm hồn tôi.

    [​IMG]
    Sau giai đoạn xơ gan sẽ là ung thư gan. (Ảnh minh họa)
    Tôi cố bình tĩnh hỏi lại bác sĩ: “Cháu xơ gan giai đoạn mấy và có thể chữa được không?”. Bác sĩ nói: “Gan của cháu cũng không bị xơ nhiều quá, nhưng khẳng định không ở giai đoạn đầu nữa vì chú đã nhìn thấy rất rõ vùng trắng rồi. Những vùng trắng ấy là tế bào gan đã bị xơ hóa nên không thể cho nó về bình thường được nữa, không thể chữa được mà chỉ có thể làm chậm lại quá trình xơ hóa gan”. Nghe thấy bác sĩ nói vậy tôi tự hiểu được nghĩa là gì, đã chấm hết thật sự, sống chỉ là đợi đến ngày chết thôi.

    Cầm đơn thuốc có ghi loại biệt dược đặc trị virut giá hơn 1,4 triệu/1 lọ và cứ ba tháng phải khám lại một lần, mỗi lần khám lại cũng mất gần hai triệu. Loại thuốc đặc trị ấy nó cũng chẳng khác gì thuốc độc, tác dụng chính thì ít mà tác dụng phụ thì nhiều vô kể. Nào nguy cơ chuyển biến sang đau dạ dày, sỏi thận, loãng xương và đặc biệt có nguy cơ đảo ngược quay lại làm xơ hóa gan hoàn toàn nếu dừng thuốc. Tôi thấy rất lo lắng khi uống thuốc, nhưng nghĩ lại không uống thì còn chết nhanh hơn, nên vẫn cứ phải uống.

    Từ viện trở về đến nhà, ngồi xuống ghế mà tôi như kẻ mất hồn, đóng sập cửa, ngồi trong phòng khóc thút thít một mình. Lúc bấy giờ mới khóc lên thành tiếng, than thở ông trời sao bất công thế, làm người tốt mà sao vẫn phải khổ. Rồi cũng không dám nói với mẹ vì sợ mẹ lo, không dám nói với bố vì bố cũng nhiều bệnh tật, lại thêm lo cho mình nữa thì bệnh lại càng nặng hơn.

    Cả gia đình bế tắc vì bệnh vô phương cứu chữa
    Cứ thế thời gian trôi đi, tôi trị bệnh ngoại trú được hơn một năm. Thế nhưng bệnh cứ lúc tăng lúc giảm, mỗi lần đi khám lại đổi thuốc một lần, cứ hết thuốc thì bệnh lại nặng. Rồi dần dần tôi cũng quen như thế, cứ sống như để cho ngày mai chứ không phải cho tương lai. Và rồi tôi cũng kết hôn, bạn gái tôi rất tốt, dù biết tôi bệnh nặng nhưng vẫn chấp nhận kết hôn. Không phải ai cũng làm được như cô ấy nên tôi rất trân trọng điều đó. Bố mẹ tôi dần dần cũng cảm nhận được tình trạng bệnh ngày một nặng của tôi dù tôi không nói ra.

    Khi mẹ biết tình trạng bệnh của tôi bà cũng rất đau buồn, hằng đêm đi ngủ cứ thui thủi khóc một mình mà không dám để phát ra tiếng động. Mẹ cũng bế tắc vì cho đến nay y học vẫn đầu hàng với căn bệnh này. Tôi và mẹ chỉ mong mỏi có một điều kỳ diệu xảy ra để giúp tôi có thể thoát được tai ương này. Bố tôi còn đau khổ hơn vì ông là bác sĩ nên càng hiểu biết quãng thời gian mà tôi được sống, ông cũng thẫn thờ và trở nên ít nói.

    [​IMG]
    Nghe đến thần tích mẹ đã chấn động trong tâm, nếu không có thần tích thì chữa làm sao được bệnh của con trai mẹ.
    Nhận sự ban thưởng của Thần Phật
    Có lẽ vì ước nguyện của mẹ con tôi đủ lớn đã làm lay động trời xanh. Điều ước thần kỳ đã xảy ra, vào một ngày mẹ được người bạn nói rằng Pháp Luân Công rất tốt, rất thần kỳ. Đã có nhiều thần tích xảy ra với người chân tu pháp môn này. Mẹ nghe đến thần tích thì đã chấn động trong tâm. Đây chẳng phải điều mẹ đang cầu, nếu không có thần tích thì chữa làm sao được bệnh của con trai mẹ, vì y học đã đầu hàng rồi.

    Ngay hôm đó mẹ đã nhờ người bạn ấy mua giúp sách hướng dẫn tập luyện và đĩa video hướng dẫn luyện năm bài công Pháp của Pháp Luân Công. Mẹ gọi cả bố tôi tập luyện cùng và rồi sau đó mấy bác đi tập thể dục buổi sáng cũng đến học. Tất cả đều luyện công ở sân nhà tôi. Trong vòng một tháng đã có khoảng hai mươi người đến luyện cùng.

    Sau một tháng, bố, mẹ và nhóm người cùng luyện Pháp Luân Công, mỗi người đều có những trải nghiệm riêng được cải thiện về sức khoẻ. Mẹ vui mừng nói với tôi: “Con ạ, mẹ thấy Pháp Luân Công tốt lắm, mẹ trước hay bị ho khi thay đổi thời tiết và thường sẽ bị rất nặng, bố cũng nhiều bệnh tật, cao huyết áp rồi sỏi thận, hen suyễn, tim mạch… Nhưng sau khi tập luyện cả bố và mẹ đều cảm thấy sức khỏe rất tốt, con hãy tập đi, biết đâu có hy vọng cho con”.

    Vì khi đó mẹ mới tu, còn có ước nguyện nhờ sự thần kỳ của Đại Pháp sẽ giúp tôi khỏi bệnh. Khi ấy, mẹ cũng chưa hiểu rõ Pháp Luân Công là một pháp môn tu luyện thượng thừa của Phật gia không phải dùng để trị bệnh. Người chân tu Đại Pháp trong quá trình tu luyện có được thân thể khoẻ mạnh vô bệnh, là quá trình buông bỏ những thói hư tật xấu, những suy nghĩ không tốt và tiêu cực, chỉ làm việc tốt luôn giúp đỡ người khác mà không cần báo đáp, chăm chỉ luyện năm bài công Pháp hàng ngày thì sẽ tự nhiên đạt được điều đó. Lúc ấy tôi đi làm xa nghe mẹ kể vậy cũng thấy mừng cho bố mẹ, tôi hẹn mẹ đến tết âm lịch về nhà sẽ nhờ mẹ hướng dẫn.

    Trải nghiệm kỳ diệu và chân tu trong Đại Pháp
    Tôi đã bước vào chân tu Đại Pháp như vậy, cơ duyên đến với Pháp Luân Đại Pháp từ bệnh tật. Tết năm đó là một mốc quan trọng trong cuộc đời. Ngay khi tôi về quê ăn tết mẹ đã hướng dẫn cho tôi năm bài công Pháp. Tôi vừa học vừa xem đĩa hướng dẫn luyện công do đích thân người sáng lập Pháp môn hướng dẫn. Cứ như vậy tôi học từ bài một đến bài năm, ba lượt như vậy thì tôi dừng lại ngồi xuống ghế nghỉ ngơi, thân nhiệt tôi tăng lên rất nóng.

    [​IMG]
    Sau khi kết thúc các bài công Pháp của Pháp Luân Công tôi luôn tràn đầy năng lượng. Tôi rất hạnh phúc khi có một thân thể mạnh khoẻ và trí tuệ sáng suốt.
    Sau khi ngồi nghỉ được năm phút, thân thể tôi bắt đầu có những phản ứng được tịnh hoá, người bồng bềnh cảm giác như say xe, bồn chồn, chóng mặt khó chịu toàn thân. Tôi ý thức được có cái gì đó đang được đẩy ra, tôi nghĩ đi ngủ chắc sẽ hết. Thật kỳ lạ tôi nằm đó mà không thể chợp mắt được, cả đêm trằn trọc mơ mơ tỉnh tỉnh…

    Dù mất ngủ cả đêm nhưng sáng ra tôi không bị mệt như mọi khi. Tôi lấy làm lạ lắm, ra kể lại với mẹ. Mẹ vui vẻ nói rằng: “Đó là những phản ứng tốt, cần đọc sách nữa”. Sau mấy ngày tết, tôi bắt đầu đọc Chuyển Pháp Luân và từ hôm đó tôi đã đọc đi đọc lại không ngừng nghỉ cho đến ngày hôm nay.

    Có một điều kỳ diệu xảy ra tức thì ngay lúc tôi bắt đầu đọc được vài trang trong cuốn Chuyển Pháp Luân. Cái khó chịu nôn nao trong thân thể khiến tôi trằn trọc cả đêm bỗng biến mất đến khó tin. Là một kỹ sư cơ khí, tôi có niềm tin lớn lao vào khoa học thực chứng, tuy nhiên từ lúc tiếp cận với Pháp Luân Công dù mới chỉ một chút, những gì đang xảy đến với tôi thật sự khó lý giải… Dù tôi có lục vấn lại, dùng lý luận này khác để biện minh cũng không thể giải thích được sự kỳ diệu mà chính tôi đang được trải nghiệm.

    [​IMG]
    Đọc Chuyển Pháp Luân hàng ngày giúp tôi luôn giữ được bình tĩnh và biết cách ức chế buông bỏ đi những suy nghĩ không tốt, tiêu cực.
    Khi tôi đọc Chuyển Pháp Luân, từng câu từng chữ lấp lánh khai mở trí tuệ trong tôi. Bao nhiêu câu hỏi từ nhỏ, những điều thần bí trong không gian vũ trụ mênh mông, Thần Phật có tồn tại hay không? Có linh hồn không? Tại sao con người phải chịu khổ? Chết rồi thì đi về đâu? Những gì khoa học chưa xác minh được, không sờ thấy, không nhìn thấy thì trong quá trình tu luyện tôi đã dần minh bạch ra tất cả. Chỉ là mỗi người một cảnh giới hiểu được đến đâu thì lại phụ thuộc vào tiêu chuẩn đạo đức của người đó như thế nào. Muốn hiểu thêm nội hàm thì người tu luyện Pháp Luân Công phải tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn đạo đức của mình lên, có như vậy khi đọc lại Chuyển Pháp Luân nội hàm trong đó mới triển hiện ra một tầng Pháp lý nữa. Ấy là tại sao những người tu Đại Pháp luôn lấy Chân Thiện Nhẫn để hành xử, để ước chế ma tính của bản thân, để giữ gìn phẩm hạnh của mình không bị bại hoại theo đạo đức đang tụt dốc ngày hôm nay.

    Đọc cuốn Chuyển Pháp Luân tôi hiểu thế nào là chân chính tu luyện. Chỉ có thực tu bản thân thì bệnh tật mới có thể tiêu tan. Đằng đẵng suốt 7 năm trời, lần đầu tiên tôi có được cảm giác thoải mái dễ chịu sau khi ăn. Bởi vì bình thường hễ ăn xong là bụng tôi lại chướng lên phải rất lâu, rất lâu mới tiêu đi được. Giờ sau mỗi giờ luyện công cảm giác đầy bụng đã hoàn toàn biến mất.

    Tu sửa tâm tính để đạt được thân – tâm khoẻ mạnh
    Mặc dù được giáo dục trong một gia đình khá nghiêm khắc, nhưng văn hóa trọng nam ở thôn quê vẫn ngấm sâu vào tư tưởng. Khi có vợ, lúc đi làm về dù mệt tôi vẫn tự nguyện vào bếp phụ giúp vợ, nhưng đôi khi cảm thấy chạnh lòng vì vừa phải làm trụ cột kinh tế vừa phải chia sẻ việc nội trợ.

    Khi ấy tâm tôi thường nghĩ: “Tại sao tôi lại phải làm những việc như thế này… Tại sao lại phải rửa bát… Một thằng đàn ông mà đi rửa bát thì thật là… việc của đàn bà…”. Xu hướng chung trong xã hội, người chồng thường không tham gia bếp núc, nhất là những người chủ lực kinh tế chính trong gia đình.

    Khi đọc nhiều lượt cuốn Chuyển Pháp Luân, tôi luôn ước thúc tâm tính mình qua ba chữ Chân Thiện Nhẫn. Từ trong sâu thẳm của sinh mệnh, tôi đã dần thay đổi. Tôi đặt mình vào hoàn cảnh của vợ, cô ấy cũng vất vả đi làm, thu vén cho gia đình, cũng mệt mỏi, tôi cần phải nghĩ cho cô ấy trước. Tôi giúp vợ từ nội tâm, vui vẻ, không còn vừa làm vừa suy nghĩ tiêu cực như xưa nữa… Khi vợ mang bầu mà đi làm về muộn tôi động viên vợ thu xếp về sớm không nên làm quá sức. Những hôm tôi về muộn vẫn thường đi chợ nấu cơm rồi rửa bát để cô ấy nghỉ ngơi dù biết các món ăn mình nấu có thể không được ngon. Gia đình nhỏ của tôi vì thế rất chan hoà hạnh phúc. Chúng tôi vừa đón chào một sinh linh bé bỏng xinh đẹp như Thiên Thần, niềm tự hào và tâm điểm của đại gia đình chúng tôi.

    [​IMG]
    Ngày trước tôi luôn trong cảm giác sống gấp. Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ có được một gia đình hạnh phúc và có được cậu con trai dễ thương như thế này.
    [​IMG]
    Nhờ có Chân Thiện Nhẫn, nhờ có Pháp Luân Đại Pháp mà gia đình chúng tôi luôn trong hạnh phúc đầm ấm. Cảm ơn mẹ đã chắp duyên cho con đến với Pháp Luân Công.
    Sau khi tu luyện khoảng gần 5 tháng tôi có tham gia đợt khám sức khoẻ định kỳ của toàn công ty. Kết quả thật bất ngờ, sức khoẻ của tôi từ loại 3 đã quay trở về loại 1. Thật là một điều kỳ diệu, một món quà quý giá mà Thần đã ban tặng cho tôi, người chỉ tin vào khoa học.

    Cảm ân đối với Đại Pháp
    Vậy là đã gần ba năm kể từ khi tôi quyết định chân tu Pháp Luân Đại Pháp, tôi đã có được một cuộc sống bình yên và mạnh khoẻ, lại không mất một đồng tiền thuốc nào. Trước kia khi vẫn còn dùng loại độc dược đó, thân thể tôi rất mệt và có nhiều phản ứng phụ. Bây giờ khi tôi chăm chỉ luyện các bài công pháp hàng ngày và một lòng tu sửa tâm tính tôi mới trải nghiệm được thế nào là khoẻ cả thân lẫn tâm. Lời chẩn đoán cũng như tiên lượng của bác sĩ năm xưa đã không thành hiện thực.

    Lời tâm sự của tôi được đăng trên Thời báo Đại Kỷ Nguyên, là cơ hội để tôi được bày tỏ lòng kính ngưỡng và biết ơn sâu sắc đến người sáng lập Pháp Luân Đại Pháp, Ngài đã cứu vớt tôi lên từ bể khổ, từ tột cùng bất hạnh, khi sự sống chỉ còn một khoảnh khắc ngắn ngủi phía trước.

    Qua bài báo này tôi muốn chia sẻ điều may mắn tốt đẹp mà Pháp Luân Đại Pháp đã ban cho. Khi tôi tuyệt vọng đối diện với cửa tử ở ngay trước mắt, chỉ còn một bước là kết thúc cuộc đời khi còn quá trẻ. Đại Pháp đã mở ra cho tôi cánh cửa khác với huy hoàng ánh dương, đó là sự sống mới, niềm vui và hạnh phúc dù nói vô vàn lần cũng không thể kể hết được.

    Tôi xin nguyện sẵn lòng giúp đỡ những số phận như tôi ngày trước, hoặc bất cứ ai muốn tìm hiểu về Pháp Luân Công. Tôi xin được gieo duyên phúc lành đến tất cả những người hữu duyên, để phúc ân của Phật Pháp từ bi chiếu rọi mỗi tâm hồn chúng ta.
    Xin cảm ơn Thời báo Đại Kỷ Nguyên.
    Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc ngày 26 tháng 10 năm 2017
    Khổng Mạnh
    Số Điện thoại: 0166.289.6419
    (Toàn bộ ảnh trong bài do tác giả cung cấp)
    Theo dkn.tv
     
    Sửa lần cuối: 13/12/2017
  3. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Lời giải cho cuộc đời: 30 tuổi lập cái gì, 40 tuổi mê điều chi?

    Đời người bất quá 100 năm, chúng ta mỗi ngày trôi qua đều đang dần trưởng thành, dần trầm tĩnh, dần có thể hiểu rõ được điều gì mới là quan trọng nhất đối với bản thân mình.

    [​IMG]
    khi đến ngưỡng 30 tuổi, 40 tuổi, 50 tuổi, 60 tuổi, 70 tuổi, chúng ta cần sống như thế nào? (Ảnh: Twitter)

    Khổng Tử từng nói: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ”, ý rằng: “Ta 15 tuổi chí ở học hành, 30 tuổi có thể tự lập, 40 tuổi không còn nghi hoặc, 50 tuổi biết được mệnh Trời, 60 tuổi ta biết điều phải trái, 70 tuổi tâm theo ý mình, có thể làm một cách tùy ý nhưng lại không vượt quá quy tắc”.

    Đây là tổng kết của Khổng Tử về cuộc đời mình, cũng là tấm gương cho những ai muốn theo đuổi một cuộc đời hoàn mỹ, đặc biệt là sau tuổi 30. Vậy thì khi đến ngưỡng 30 tuổi, 40 tuổi, 50 tuổi, 60 tuổi, 70 tuổi, chúng ta cần sống như thế nào?

    1. Tam thập nhi lập: 30 tuổi có thể tự lập
    30 tuổi là ngọn núi chia đôi dòng nước, chia đôi ngã rẽ của đời người. Con người ở độ tuổi này về cơ bản đã có thể xác lập được phương hướng phát triển cuộc đời mình. Họ cũng có thể dựa vào bản lĩnh của tự thân mà gánh vác những trách nhiệm mình cần đảm đương.

    “Nhi lập” ở đây là lập thân, lập gia, lập nghiệp.

    Lập thân là xác lập nhân cách và sự tu dưỡng của bản thân. Điều này bao gồm việc tu dưỡng trong tư tưởng và hàm dưỡng đạo đức, bồi dưỡng năng lực và có thể tự lực tự cường. Trong đó sự tự cường là cái gốc lập thân, là yêu cầu cơ bản nhất khi mỗi người muốn đứng vững trong xã hội.

    Lập nghiệp là xác lập công danh, sự nghiệp mà mình muốn theo đuổi. Người 30 tuổi nên có nghề nghiệp vững chắc. Dẫu theo đuổi bất kỳ công việc nào cũng cần có một năng lực nhất định. Nói theo cách hiện đại chính là có một sở trường về kỹ năng nào đó. Lập nghiệp là phương thức mưu sinh, là cơ sở để độc lập về kinh tế. Đây cũng là quá trình con người ắt phải trải qua để thực hiện giá trị nhân sinh.

    Lập gia là lập gia đình. Xã hội cạnh tranh mạnh mẽ ngày nay đã kéo dài tuổi lập gia đình của những người trẻ. Nhưng đứng từ góc độ sinh sôi nảy nở của nhân loại mà nói thì độ tuổi này lại rất phù hợp. Hơn nữa con người khi đến 30 tuổi sẽ hiểu rõ về hôn nhân và trách nhiệm.

    Ý nghĩa của gia đình là tổ ấm. Lập gia đình thì tâm hồn mới tìm được bến đỗ bình yên để ngơi nghỉ. Còn về trình tự lập nghiệp và lập gia đình, do tình huống của mỗi người mỗi khác, nên chúng ta không phải câu nệ thứ tự trước sau, mà hai điều này đều tương trợ cho nhau.[​IMG]

    2. Tứ thập nhi bất hoặc: 40 tuổi không còn mê hoặc

    40 tuổi là độ tuổi dùng điều bất biến để ứng vạn biến, là độ tuổi có thể nhìn thấu vạn vật trên thế gian, cũng là độ tuổi trưởng thành. “Bất hoặc” tức là tỉnh táo, là minh bạch về bản thân, về người khác và về thế giới.

    Con người sống trong xã hội thì không thể tách khỏi xã hội. Mối quan hệ giữa con người và xã hội là mối quan hệ giữa cá thể và quần thể. Cá thể là một phần tử trong quần thể. Lý tưởng và nguyện vọng của một cá nhân phải được kiến lập dựa trên cơ sở của một xã hội hiện thực. Trong tâm cần có một sức mạnh điềm nhiên khi ứng phó với thế giới bên ngoài.

    [​IMG]
    40 tuổi là thời kỳ huy hoàng trong đời người, cũng là thời kỳ có cống hiến lớn nhất cho gia đình và xã hội. (Ảnh: Travel Lemming)

    Hiểu thấu bản thân mình

    Chính là khiến nội tâm mình dần dần trở nên lớn mạnh trong quá trình tôi luyện, biến những thứ bên ngoài trở thành năng lượng bên trong. Người 40 tuổi là người có độ tuổi thực tế nhất, không nên phạm quá nhiều sai lầm và đi đường vòng.

    Hiểu rõ trách nhiệm của bản thân
    Đặc điểm lớn nhất của người 40 tuổi là hiểu rõ trách nhiệm của bản thân mình. Họ phải gánh vác trách nhiệm xã hội, trách nhiệm gia đình, hiếu thuận với cha mẹ, và chịu trách nhiệm dưỡng dục con cái.

    40 tuổi là thời kỳ huy hoàng trong đời người, cũng là thời kỳ có cống hiến lớn nhất cho gia đình và xã hội.

    3. Ngũ thập nhi tri thiên mệnh: 50 tuổi biết được mệnh Trời

    Mệnh Trời còn gọi là số mệnh, 50 tuổi biết mệnh Trời. Người 50 tuổi đã tới giai đoạn chín muồi trong cuộc đời. Lúc này có rất nhiều việc trong đời dường như đã thành hình.

    Người 50 tuổi hiểu biết hơn về xã hội nên càng thấu hiểu bản thân hơn. Họ học được cách thản nhiên đối mặt với mọi việc. Họ không oán Trời, không trách người, không lười nhác.

    Hiểu về thiên mệnh

    Người 50 tuổi sức khỏe không còn như trước. Họ càng hiểu rõ hơn về sự yếu nhược của sinh mệnh, hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là vốn liếng của sinh mệnh. Không khi nào con người lại có trải nghiệm sâu sắc như thế về sức khỏe như ở độ tuổi này. Họ sẽ chú trọng tới việc dưỡng sinh hơn trước và bắt đầu tích cực rèn luyện.

    Người 50 tuổi đã có sự đánh giá khá chuẩn xác về bản thân mình. Họ rất ít khi dao động, khiến tâm trạng lên lên xuống xuống vì một chuyện gì đó. Trải qua bao nhiêu năm vất vả họ cũng có một điều kiện kinh tế nhất định, tham vọng tiền tài cũng không còn mạnh mẽ như khi còn trẻ nữa.

    Biết trân trọng tình cảm[​IMG]

    Người 50 tuổi đã trải qua sự gột rửa của thời gian. Họ sẽ biết trân quý hơn người bạn đời đồng cam cộng khổ trong đời mình, biết trân trọng hơn đứa con đã trưởng thành và những người bạn cũ luôn kề vai sát cánh bấy lâu nay… Tình thân, tình bạn, tình yêu, những điều này dần sẽ trở thành những điều quan trọng trong số những điều được coi trọng trong lòng họ. Tâm danh lợi của họ cũng dần tiêu tan.

    4. Lục thập nhĩ thuận: 60 tuổi tai biết điều phải trái

    Tới khi 60 tuổi, dẫu cho ai nói ngả nói nghiêng, dù gặp phải trắc trở, khó khăn thế nào thì con người cũng đều không quá kích động. Họ có thể suy nghĩ mọi sự một cách điềm tĩnh và thuận theo quy luật của sự vật. Họ có thể thản nhiên trước vinh nhục, ngộ ra ý nghĩa đời người, nhìn thấu kiếp nhân sinh và coi nhẹ danh lợi.

    [​IMG]
    Ý nghĩa của sinh mệnh là nghĩ cho người khác nhiều hơn là đòi hỏi cho riêng mình. Khi bạn đã làm được thì cũng không còn gì phải nuối tiếc nữa. (Ảnh: Dailymail)

    60 tuổi nhìn thấu kiếp nhân sinh

    Từ khi nghỉ hưu, họ chuyển từ vai trò chính ngoài xã hội về với vai trò chính trong gia đình, vui hưởng đạo cùng trời đất. Người 60 tuổi đã minh bạch những điều này, nên có thể vui vẻ tiếp nhận cuộc sống hiện thực và hiểu rõ cuộc sống nên có của một người ở độ tuổi này.

    60 tuổi nhìn thấu sinh mệnh

    Người 60 tuổi phải sống thật mạnh khỏe, vui vẻ, điều này cũng là một sự cống hiến đối với xã hội. Ý nghĩa của sinh mệnh là nghĩ cho người khác nhiều hơn là đòi hỏi cho riêng mình. Khi bạn đã làm được thì cũng không còn gì phải nuối tiếc nữa.

    Người 60 tuổi nhìn thấu danh lợi, nhờ trải qua sự tôi luyện của tháng năm mà lưu lại những kinh nghiệm phong phú của bản thân mình.

    Trong cuộc sống nhàn nhã, họ thường hồi tưởng về những ký ức đắng cay ngọt bùi như một trải nghiệm đặc biệt trong mùa thu cuối đời. Khi đã về hưu thì họ chỉ còn sót lại một danh xưng: “Người về hưu”. Lúc này duy chỉ có sức khỏe là của bản thân mình. Vậy nên giữ gìn chăm sóc sức khỏe cho mình, sống mạnh khỏe, hạnh phúc mới là điều quan trọng nhất.

    5. Thất thập tòng tâm sở dục: 70 tuổi tâm theo ý mình

    Người 70 tuổi có thể muốn gì làm nấy theo cách nghĩ của mình. Họ biết cách sống thuận theo tự nhiên, thích ứng với mọi hoàn cảnh, cũng không được vượt quá quy củ.

    Cơm ăn không quan trọng cao lương mỹ vị hay đạm bạc đơn sơ, chỉ cần thấy ngon miệng là được. Phòng ốc không quan trọng lớn hay nhỏ, chỉ cần sống vui vẻ là được. Hãy làm những chuyện bản thân thấy hứng thú, đừng oán người, trách trời, trách đất, cũng đừng để tâm lo nghĩ quá mức tới người khác. Thấy sức khỏe suy giảm từng ngày cũng đừng hoảng hốt, thấy cái chết cận kề mỗi ngày cũng đừng khiếp sợ. Mọi thứ cứ thuận theo tự nhiên, tùy cảnh mà an.

    Mỗi giai đoạn trong đời người đều có những trải nghiệm riêng trong từng giai đoạn ấy. Chúng ta không nhất định cứ phải làm theo một thước đo hay một chuẩn mực nào đó. Nhưng mỗi một giai đoạn chúng ta đều nên có sự kỳ vọng về bản thân mình. Tệ nhất thì 10 năm một lần chúng ta cũng nên ngẫm nghĩ lại về bản thân. Những điều không thể quên chính là hồi ức, nhưng điều vẫn tiếp diễn là cuộc sống. Hãy sống hết mình mỗi ngày để có thể sống trọn vẹn cả một đời.
    Theo ĐKN

     
  4. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Chữ Nhân hàm chứa đạo làm người

    [ChanhKien.org] Theo chiết tự tiếng Trung, kết cấu chữ “人” (nhân) gồm một nét phẩy và một nét mác. Cũng theo lý luận của Đạo gia, phía bên trái là dương bên phải là âm. Bởi vậy nét phẩy bên trái, nét mác bên phải để hợp thành chữ “人” (nhân), đây cũng chính là thể hiện của Đạo.

    Nguyên lý thái cực cho rằng tương ứng với âm dương lần lượt là vật chất và ý thức. Đối chiếu với con người chúng ta thì chính là thể xác và tinh thần. Trong đó tinh thần là thuộc về dương, thể xác hay thân thể người là thuộc về âm, dương là thể (chủ thể, chủ ý thức), âm là dụng (thân thể, ứng dụng).

    Như thế đối với con người mà nói, tinh thần mới thực sự chính là bản thân mình. Thân thể con người vì có tinh thần mới sống và hoạt động. Bởi vậy trong cách viết chữ “人” (nhân) nét phẩy thường dài còn nét mác thường ngắn, nét phẩy thường cao còn nét mác thường thấp.

    Tinh thần mới thực sự là chủ thể của bản thân chúng ta. Bởi vậy, một cuộc sống có chất lượng tinh thần cao mới là điều mà con người cần hướng tới. Lời giáo huấn của các bậc thánh hiền luôn hàm chứa một giá trị tinh thần thâm sâu, lớn lao. Chỉ một câu ví như “Nhân chi sơ, tính bản thiện” cũng đã có ý nghĩa trải dài suốt mấy nghìn năm trong đời sống các dân tộc Á Đông.

    Đối với truy cầu lợi ích vật chất và các thứ dục vọng, người ta chẳng nên quá coi trọng. Coi trọng chúng quá thì hoá thành tự ràng buộc, tự lấy dây trói chặt mình lại, không cách nào thăng hoa. Đề cao tinh thần mới chính là con đường duy nhất thăng hoa hạnh phúc của đời người. Thân thể con người tồn tại được là vì có tinh thần. Tinh thần không phải là nô dịch cho thân thể.

    Nếu một người đeo đuổi dục vọng, truy cầu vật chất, tiền tài quá độ, rơi rớt hết cả tinh thần, đạo đức, ý thức thì đã không còn là một người bình thường nữa, đừng nói đến việc có thể làm người trí huệ. Kiểu người như vậy chính là “âm thịnh dương suy“. Cách viết của chữ “人” (nhân) sẽ bị đảo ngược, trở thành chữ “入” (nhập). “Nhập” chính là: nhập mê, nhập vào dục vọng, nhập vào ngu dốt, cuối cùng tiến nhập vào địa ngục.

    Những từ đồng âm với chữ “人” (nhân) là “仁” (nhân), “忍” (nhẫn), “韧” (nhận), “任” (nhậm). Đây đều có thể coi là yêu cầu, quy phạm đạo đức làm người. Theo giải thích của Khổng Tử, cái gọi là “仁” (nhân) chính là yêu thương con người. Lòng nhân ái chính là hạt nhân cơ bản của đạo làm người. Chữ “忍” (nhẫn) chính là chỉ ý khoan dung, độ lượng, có khí phách của người quân tử. Bởi vì thế giới này vô cùng rộng lớn, rất nhiều người có tính cách và lối sống không nhất định phù hợp với quan niệm của chúng ta, ngay chính lối sống của chúng ta cũng không nhất định là phù hợp với quan niệm của người khác, cho nên mọi người đều nên khoan dung, nhường nhịn, hòa thuận với nhau. Chữ “韧” (nhẫn) chính là có ý nói con người cần có ý chí kiên cường, trải qua phong ba, bão táp vẫn không thay đổi, chí vững như bàn thạch. Chữ Nhậm (任) khuyên chúng ta làm người phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình.

    Con người là thể hiện của Đạo, làm người nên phải có tâm cầu Đạo, cũng nên tu Đạo đắc Đạo, trở thành “Chân Nhân”, đây mới là mục đích duy nhất để làm người.
     
  5. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Lý giải về chữ “Hiếu”
    [ChanhKien.org] Văn hóa truyền thống Trung Hoa là văn hóa Thần truyền, chữ “Hiếu” cũng là do Thần truyền lại để quy phạm các hành vi của con người. Tại sao lại có những quy phạm này? Có câu nói rằng: “Con cái là cái nợ”, đã là nợ thì nhất định phải có người thiếu nợ và người đòi nợ, theo quy luật luân hồi thì khi con người sống ở thế gian sẽ tạo rất nhiều nghiệp (còn người làm việc thiện cũng sẽ tích được rất nhiều đức), giữa con người với nhau sẽ vì thế mà nảy sinh ân oán. Khi tiếp tục chuyển sinh làm người thì những ân oán này đều phải được giải kết, cho nên nhiều khi họ sẽ được sắp xếp thành người thân trong một nhà.

    Thần đã an bài như vậy, đồng thời Thần cũng định ra cho con người rất nhiều quy phạm luân thường đạo lý, chữ “Hiếu” là một trong nhưng đạo lý như vậy. Nếu con người có thể nghe lời Thần thì có thể thiện giải được rất nhiều ân oán, gia đình hòa thuận, con người sẽ sống hạnh phúc, lạc quan, người già có nơi nương tựa cuối đời, xã hội cũng sẽ ổn định. Chữ “Hiếu” kỳ thực là sợi dây ràng buộc con người, ví như quá trình cha mẹ nuôi dưỡng con cái rất vất vả chính là để trả nghiệp, cha mẹ vì con cái mà hao tâm tổn trí cả cuộc đời, con cái sau khi trưởng thành theo lẽ tự nhiên lại báo đáp ơn phụ dưỡng của cha mẹ, vậy là vô hình chung ân oán trước đây đã được trả xong, đây quả là sự an bài kỳ diệu.

    Có thể thấy rằng Thần đã vận dụng trí huệ và dụng tâm vất vả để an bài cuộc đời cho con người trả nghiệp, cũng như đặt ra những quy phạm đạo đức ước thúc con người, mục đích sâu xa là để bảo hộ con người. Người xưa đều biết điều này cho nên họ vô cùng kính trọng và tín ngưỡng vào Thần. Toàn bộ nền văn hóa truyền thống Trung Hoa đều dựa trên nền tảng kính ngưỡng Thần Phật, sự bác đại tinh thâm trong nền văn hóa nửa Thần của Trung Hoa cũng chính là lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm quy phạm đạo đức con người. Theo lý giải của tôi, “Hiếu” là một quy phạm đạo đức thâm sâu hơn, nói cách khác, “Hiếu” chịu sự ước thúc bởi luân lý cao hơn. Thời xưa có rất nhiều câu chuyện “đại nghĩa diệt thân” (vì đại nghĩa không quản người thân), những câu chuyện này khuyên bảo con người rằng hiểu rõ thị phi, không chấp vào tình riêng mới là nghĩa cử phù hợp với đạo lý, cũng chính là nói người nếu có thể nhảy ra khỏi cái tôi nhỏ bé để tuân thủ quy phạm đạo đức của Thần mới đúng là người đại nghĩa, ngược lại nếu vì tình thân mà đẩy cha mẹ hoặc con cái vào đường bất nghĩa thì sẽ gây tội với trời.
     
  6. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Khoan dung nhân từ, cảm hóa đạo tặc

    [ChanhKien.org] Ngày xưa có một người tên là Vương Liệt, ông là người hiểu biết, rộng lượng, thấu hiểu lòng người.

    Thời đó trong nước có một người trộm trâu bị người chủ trâu bắt được. Người trộm trâu nói: “Tôi trước đây mê muội không biết nên sống như thế nào, từ nay về sau tôi xin hối cải làm lại cuộc đời. Ông đã tha tội, dung thứ cho tôi thì xin đừng để cho Vương Liệt biết”. Sau đó, Vương Liệt biết được chuyện này, tỏ ý muốn tặng cho người trộm trâu này một ít vải vóc, thưởng cho anh ta vì có thiện tâm biết xấu hổ mà hối cải, để khích lệ anh ta.

    Vài năm sau, có một ông lão đi đường gánh một gánh nấm rất nặng, có người đã giúp ông gánh đi hơn chục dặm đường. Ông lão muốn mời anh ta về nhà, nhưng anh ta đặt gánh nấm xuống liền rời đi luôn, hỏi tên anh ta không nói.

    Ông lão tiếp tục đi, trên đường đi lại bị rơi mất thanh kiếm. Có người nhặt được thanh kiếm, vốn định để kiếm ở ven đường rồi đi, nhưng lo rằng người phía sau sẽ nhặt mất, liền cầm kiếm đứng ở bên đường đợi đến tận tối. Ông lão quay lại tìm bảo kiếm bị mất, phát hiện ra người nhặt được kiếm đợi ở ven đường để trả lại kiếm cho mình chính là người hảo tâm đã gánh nấm giúp mình lúc trước. Ông lão kéo áo vị ân nhân nói: “Lúc trước anh đã gánh nấm giúp tôi, tôi còn chưa biết tên anh. Bây giờ anh lại ở đây trông giữ kiếm và trả lại cho tôi. Không có ai nhân nghĩa được như anh. Xin cho tôi biết danh tính của anh, tôi cần phải nói cho Vương Liệt biết”. Anh ta liền cho ông lão biết tên rồi rời đi. Ông lão nói cho Vương Liệt, Vương Liệt nói: “Ta chưa bao giờ thấy người nhân nghĩa như vậy trên đời”. Ông cho người đi điều tra, hóa ra là người trộm trâu ngày trước.

    Chính nhờ Vương Liệt đã tặng vải vóc cho người trộm trâu, khích lệ anh ta hối cải hướng thiện, nên người trộm trâu mới trở thành người lương thiện, nhân nghĩa, giúp người gánh nặng, nhặt được bảo kiếm trả lại người mất. Cảm hóa đạo tặc trở thành người tốt, chỉ có thời xưa mới có chuyện như vậy.

    Giả như người trộm trâu sống trong xã hội Trung Quốc ngày nay thì cuộc đời đã kết thúc rồi, không phải bị phê bình đấu tố thì cũng bị đưa đi cải tạo lao động, ở trong thùng thuốc nhuộm lớn này thì chỉ có càng cải tạo càng hỏng, ra khỏi tù cũng không có đường sống trong xã hội, chỉ có thể tiếp tục ăn trộm mà sống, lại thêm cảnh sát đòi cống nạp thì không muốn ăn trộm cũng phải ăn trộm, suốt đời chìm ngập trong xã hội “ăn thịt người” này.

    Tài liệu tham khảo: “Thái Bình ngự lãm, quyển 9, bộ Bách thú, Thập nhị Ngưu hạ” do Lý Phưởng đời nhà Tống biên soạn.
     
  7. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Tại sao chúng ta lại tức giận?

    [ChanhKien.Org] Con người ngày nay thường hay tức giận, khả năng kiềm chế rất kém, gặp chút sự việc nhỏ cũng dễ “bốc hỏa”. Bởi con người khó kiềm chế dẫn đến toàn bộ xã hội khó tìm thấy sự yên bình. Sống trong môi trường xã hội căng thẳng như vậy, cảm giác hạnh phúc của con người cũng ngày càng ít dần.

    Lấy một ví dụ nhỏ, hiện nay trên đường phố người người, xe cộ đi lại tấp nập, tuy nhiên bởi đạo đức của con người tăng không kịp với tốc độ phát triển của giao thông, dẫn đến rất nhiều người mắc phải hội chứng “cáu gắt đường phố”. Đi trên đường, nếu chúng ta để ý quan sát sẽ phát hiện ra hiện tượng: người điều khiển xe đi đường không nhìn đường mà chỉ mải chơi điện thoại, người đi bộ thì mắng người lái xe không đi cẩn thận, không biết nhường đường cho người khác, người điều khiển xe cũng chửi bới nhau, nào là ai đó dừng giữa đường, ai đó chạy chậm, ai đó vượt xe v.v. Tóm lại là chúng ta không thể cảm nhận được bầu không khí hòa ái khi đi trên đường.

    Tính nóng giận của con người rất dễ gây ra tranh đấu. Tục ngữ có câu: “Lùi một bước biển rộng trời cao, nhẫn một lúc sóng yên gió lặng”. Có nhẫn mới an, nhưng con người hiện nay đa phần là tâm địa hẹp hòi, không thể nhẫn được, không thể nhường nhịn được. Vợ chồng chỉ vì chút việc nhỏ mà cãi nhau rồi thành ra thù hận nhau, kết cục hôn nhân tan vỡ; trong công việc chỉ vì chút lợi nhỏ mà tranh giành đến mức kẻ sống người chết, nơi đâu cũng trở thành chiến trường. Nhất là ở Trung Quốc đại lục, con người qua lại với nhau chỉ một câu không hợp là bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, tranh đấu. Người ta chẳng qua cũng chỉ để bảo vệ cho cái “danh” của bản thân mà thôi, cảm thấy bản thân mình oan uổng hoặc mất mặt, cảm thấy nhục nhã không chịu nổi, phải nói ra cho thỏa cơn tức này, phải có kẻ thắng người thua. Trong thần thoại Hy Lạp cổ đại có kể về câu chuyện cuộc chiến thành Troy, nguyên nhân cũng chỉ vì hai người đàn ông cùng tranh giành một mỹ nữ tên là Helen, kẻ không giành được người đẹp quá tức giận mà khơi mào ra cuộc chiến. Chính cái tâm lý tranh hơn thua của con người đã gây ra tấm bi kịch này.

    Có người cho rằng nhẫn nhịn là thể hiện của sự nhu nhược, cho nên phải vùng lên tranh đấu, kỳ thực tranh đấu mới là không vượt qua được chính bản thân mình. Người có thể nhẫn nhịn không phải là người nhu nhược, mà là thể hiện của ý chí mạnh mẽ và phẩm chất cao thượng. Người có phẩm chất cao thượng không nhận thức giống như người bình thường, họ có thể khống chế những cảm xúc tiêu cực của bản thân bằng ý chí mạnh mẽ. Tôi có biết một người như vậy, bà ấy thực sự có thể nhẫn nhịn trong mọi hoàn cảnh, gặp chuyện không vừa ý vẫn luôn vui vẻ, suy nghĩ khoáng đạt. Bà ấy có thể đối mặt với mâu thuẫn trong cuộc sống bằng tâm thái lạc quan, cuối cùng hóa giải được mâu thuẫn theo chiều hướng tốt lên. Một lần, con rể và con gái bà cãi nhau, con rể tỏ thái độ rất hung hăng, không kiềm chế, người bình thường hẳn sẽ phải làm cho ra nhẽ với con rể, bệnh vực cho con gái mình, nhưng bà ấy đã nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, tìm ra nguyên nhân gây tranh cãi mà không thiên vị bên nào, vừa an ủi con gái, vừa giáo dục con rể, bà đã chỉ ra thiếu sót của con gái một cách có thiện ý, cuối cùng con gái bà nhận ra vấn đề của mình và làm hòa với chồng, gia đình bà đã tránh được một cuộc ly hôn không đáng có. Con trai bà đi làm xa bị người ta lừa tiền, cầu cứu khắp nơi nhưng thân cô thế cô không ai giúp đỡ, bà khuyên con trai hãy “chịu thiệt làm phúc”, còn cho con ít tiền để làm lại từ đầu. Chồng bà tính tình nóng nảy và luôn cay nghiệt với bà, bà cũng không để trong tâm, luôn nói với mọi người rằng chồng mình là người tốt, chỉ ác khẩu chứ bản chất lương thiện.

    Có thể có người cho rằng người nhẫn nhục như vậy thật quá ngốc. Nhưng nhìn từ một góc độ khác, con người ai cũng phải đối mặt với những phiền phức trong cuộc sống, nóng giận, tranh đấu chỉ khiến bản thân càng thêm đau khổ chứ chẳng thể thay đổi được gì. Người có tấm lòng quảng đại, không tính toán được mất, hơn thua mới có thể khéo léo thoát khỏi mâu thuẫn, gặp dữ hóa lành.

    Người xưa gửi gắm đạo lý này qua câu tục ngữ “bụng tể tướng có thể chèo thuyền”, con người nếu không có sự nhẫn nhục lớn, tấm lòng khoáng đạt thì không thể làm được tể tướng, không làm được việc lớn. Đạo lý là vậy nhưng đa phần người ta đều bị cảm xúc khống chế, không dễ mà kìm nén được sự tức giận. Sau này, tôi mới biết người phụ nữ kể trên là một người tu luyện Pháp Luân Công, người tu Chân, Thiện, Nhẫn quả là có tấm lòng rộng lượng hơn người bình thường. Xem ra sức mạnh của đức tin thật to lớn.
     
  8. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Phật dạy: Làm những điều này bạn sẽ vượt mọi sóng gió trong cuộc đời

    [​IMG]
    Con người có may mắn đều là nhờ phúc báo.
    Cuộc đời ai cũng đều trải qua ít nhất 1 lần khó khăn đầy sóng gió, nếu may mắn có thể sớm vượt qua và sống hạnh phúc trở lại, nhưng để có được diễm phúc đó nên theo lời Phật dạy.
    Phật giáo tin rằng, phúc báo là điểm mấu chốt để vượt qua tất cả những khó khăn và bất an trong cuộc đời. Người ít phúc khí thì gặp chuyện nhỏ cũng bi thương, sầu não, tuyệt vọng, oán hận mà sinh ra bất an. Người nhiều phúc khí thì mạnh mẽ, tự tin, vững vàng trước sóng gió.
    Phúc báo chính là biển rộng, biển càng rộng càng bao dung, người ta nói, trăm ngàn bất an không bằng chút phúc, có phúc sẽ được hộ thân.
    Muốn hết bất an thì nên tạo phúc. Mà Phật dạy, hành thiện tích phúc, nghiệp lành đời đời. Chăm làm điều thiện, tránh xa điều ác thì không cầu phúc cũng tự đến.
    Hành thiện không chỉ là bản thân thiện mà còn truyền sự thiện của mình cho những người khác, để người người thiện, nhà nhà thiện, gia tăng sự thiện ở đời. Vì thế, tặng sách là việc thiện nhận được phúc báo lớn nhất. Vì chúng ta không chỉ trao đi một cuốn sách mà còn trao đi một cơ hội, cơ hội được hiểu biết hơn, được tốt đẹp hơn, được tươi sáng hơn.
    Những việc nên làm để có phúc báo theo lời Phật dạy thực ra không hề khó khăn, hãy để tâm vào bạn sẽ được báo đáp.
    Làm việc thiện
    Thấy người khác khó khăn thì giúp đỡ, không bày chuyện hại người, sống nhân ái, thiện lương chính là cách để tích đức tốt nhất.
    Tu khẩu
    Vết thương ngoài da còn có thể lành, nhưng vết thương từ lời nói thì không biết bao giờ mới lành được. Tâm tốt nhưng nếu luôn nói lời không tốt, thì vinh hoa phú quý cũng sẽ mất dần.
    Hóa giải hận thù
    Ngay cả khi ai đó xúc phạm bạn, vu khống bạn, hãm hại bạn. Thì cũng nên đối đãi một cách thiện lành nhất, và nên cảm ơn họ. Bởi cũng chính sự xúc phạm, vu khống, hãm hại của ai đó sẽ loại bỏ đi tội lỗi mà chính bạn đã gây ra trong quá khứ. Đồng thời trong lòng bạn cũng không chứa đựng hận thù. Nếu dù chỉ giữ một chút hận thù, không những không tiêu trừ được nghiệp lực, mà nó sẽ càng nặng hơn lên.
    Từ bi đối đãi
    Nếu muốn bản thân bạn khỏe mạnh, trường thọ và tràn đầy trí tuệ, thì bạn phải có tấm lòng nhân ái đối với chúng sinh, đối đãi người khác bằng thiện tâm, từ bi và hòa ái.
    Theo Khoa học Tâm linh

     
  9. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Lòng an định mới hiểu được vạn vật, tâm tĩnh lặng mới thấu được lòng người

    Lòng yên tĩnh mới có thể nghe được thanh âm của vạn vật, tâm thanh tĩnh mới có thể nhìn thấu bản chất của con người. Duyên đến duyên đi đều tùy duyên, người đến người đi đều tùy ý.
    [​IMG]
    Duyên đến duyên đi đều tùy duyên, người đến người đi đều tùy ý. (Ảnh: Tsqs)

    Gặp chuyện không nên hoảng loạn, nhìn người không thể phán xét quá nhanh
    Đôi khi, bạn muốn đưa ra một kết luận nào đó, đừng ngại ngần mà chờ thêm một chút, mọi chuyện có thể không hoàn toàn như vậy, những chuyện bạn đã thấy, đã nghe, lại chưa chắc là sự thật.
    Khi bạn nghe được những lời bán tán sau lưng, đừng ngại ngùng mà hãy nghe một chút. Nếu như chính mình có điều gì sai, thì mau chóng sửa đổi lại, còn nếu như không có gì sai, thì có thể mỉm cười bỏ qua.[​IMG]
    Một lời nói vô tình, có thể sẽ dẫn đến những tranh chấp không đáng. Một câu nói thiện ý, có thể làm cho nhân tâm sinh thiện niệm.
    Bồi dưỡng một con người cần thiên ngôn vạn ngữ, nhưng hủy hoại một con người chỉ cần một câu nói. Cho nên, khi phát ngôn cần thận trọng, như vậy mới giảm thiểu được những tranh chấp vụn vặt; lúc hành sự cần đắn đo, mới có thể giảm bớt đi những nuối tiếc.
    Một câu nói, rất nhẹ nhưng cũng rất nặng. Một lời nói tuy rất bình thường, những lại có sức ảnh hưởng rất lớn, vậy nên cần cân nhắc khi mở miệng.[​IMG]
    Con người thống khổ có nguyên nhân chủ yếu là 2 chữ “so đo”. So đo càng nhiều, tâm càng mệt mỏi, để ý càng nhiều, tâm càng tổn thương.
    Quay đầu nhìn lại những sự việc từng làm bạn tức giận, mới phát hiện rằng nó không có gì đáng kể. Nhìn lại những sự tình từng khiến bạn thống khổ không chịu nổi, lại thấy hết thảy đều tựa như gió thoảng mây trôi.
    [​IMG]
    Một lời nói vô tình, có thể sẽ dẫn đến những tranh chấp không đáng. (Ảnh: QTCS)
    Thanh tỉnh là một loại lý trí, khờ khạo là một loại trí tuệ. Không sợ người khác làm mình tổn thương, mà chỉ sợ chính mình không buông tha được cho mình.
    Nhìn không thấu, thì người thống khổ chính là mình. Nghĩ không ra, tổn thương không ai khác cũng lại là mình.
    Tâm như con thuyền lá nhẹ lướt, trừ mình ra, không ai có thể độ mình được…
    Không phải tất cả mọi người đều có thể trở thành bằng hữu; không phải tất cả trái tim đều chân thành.
    Có một số người, không đáng để tận tâm tận lực
    Có một số việc, không đáng để phó xuất chân tâm
    Có bỏ qua, mới có đổi mới
    Có buông thả, mới có thu nạp
    Có tuyệt giao, mới có tri kỷ.

    Gặp người hoài nghi bạn, bạn càng chân thành thì lại càng giống như nói dối, cho nên phải học được cách im lặng.
    Gặp người đối với bạn lòng mang ác ý, bạn lương thiện chính là mềm yếu, cho nên phải học được cách rời xa.
    Gặp người xem nhẹ bạn, cho dù bạn có “nặng” gấp 2 lần đi nữa, cũng sẽ bị coi nhẹ tựa lông hồng, cho nên không cần lãng phí thời gian.
    Người yêu bạn sẽ không cần giải thích, bởi vì họ có thể hiểu được. Người không yêu bạn, thì cũng không cần giải thích, bởi vì không đáng.
    Có một số người, xem nhẹ là duyên, quý trọng là thù. Có một số việc, khờ khạo là yêu, sáng suốt lại là hận. Duyên đến duyên đi đều tùy duyên, người đến người đi đều tùy ý.
    Theo tinhhoa.net
     
  10. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Hai người bạn và sự hối tiếc của một vị quan

    [​IMG]

    Con người ai sinh ra đều có số mệnh và không thể thoát nổi luân hồi chuyển kiếp, tùy theo đức nghiệp để hưởng phúc hay mạt vận.
    Có hai người bạn chí cốt chơi với nhau từ bé và ở gần nhà. Lớn lên cha mẹ gửi đi học trường tốt để quyết chí dùi mài kinh sử sau đỗ đạt thành danh và đem vinh hoa phú quý về cho bản thân và gia tộc.
    Một ngày nọ được nghỉ học, hai người bạn một họ Lý, một họ Trịnh cùng nhóm bạn rủ nhau ra suối bắt cá. Trên đường đi bỗng có một người bị cảm rồi lăn ra không thở. Cả nhóm hốt hoảng vội xúm vào hô hấp tìm cách cứu người nhưng chẳng ăn thua. Đang bối rối không biết làm sao họ gặp một vị cao tăng thần thái khác người từ phía núi đi tới. Nhóm học trò vội nhờ cậy cao tăng giúp đỡ. Vị cao tăng xem qua lắc đầu nói rằng: “Con người ai cũng có số mệnh, chư vị đây đã tới lúc phải rời thế gian để luân hồi có làm gì cũng chẳng nổi. Muốn thoát số kiếp chỉ còn cách tu Chính Pháp mà thôi”.
    Nói rồi cao tăng bình thản lên đường đi tiếp. Họ Lý thấy cao tăng nói vậy chợt như bừng tỉnh, bảo họ Trịnh hãy từ bỏ thi cử học hành, theo cao tăng để hỏi cách thoát số kiếp con người. Tuy nhiên họ Trịnh từ chối, nói rằng tu hành đâu dễ, chưa nói đã là người cứ phải phấn đấu và thành đạt mới rạng danh tổ tông.
    Buồn bã họ Lý đành từ biệt các bạn và lên đường đi theo học hỏi cao tăng kia.
    Lại nói họ Trịnh nhờ thông minh hơn người và quyết tâm dùi mài kinh sử nên đã đỗ đầu bảng và được làm quan. Dần dần nhờ tài trí và sự khéo léo, họ Trịnh đã được thăng hàm quan nhất phẩm, của cải danh vọng vạn người mơ, lấy được vợ đẹp, thê thiếp đầy nhà, con cái cũng rất nhiều.
    Thời gian dần qua họ Trịnh vẫn sống trong danh vọng và giàu sang, thỉnh thoảng có nhớ về người bạn thuở thiếu thời mà không hiểu hiện đang phiêu bạt phương nào học đạo.
    Họ Trịnh đến cái tuổi ốm đâu, uống bao thuốc bổ, dùng rất nhiều sản vật quý hiếm để nâng cao thể lực mà vẫn không có tác dụng, cảm thấy phiền muộn trong lòng. Hôm ấy sai gia nhân cáng ra ngoài ngắm cảnh thiên nhiên cho tinh thần thư thái sau chuỗi ngày dài cáo ốm nằm nhà dưỡng bệnh.
    Họ Trịnh đang vãn cảnh núi non sông suối trong tâm trạng chẳng thấy khá hơn thì bỗng dưng nhìn thấy một vị cao tăng trẻ cốt cách phi thường đang tiến về phía mình. Nhìn kỹ thấy cao tăng rất quen nhưng không đoán là ai. Cao tăng tới gần họ Trịnh gật đầu chào. Họ Trịnh thấy vậy hỏi cao tăng: “Xin hỏi các hạ là ai sao tôi thấy vừa quen vừa lạ?”. Cao tăng từ bi đáp rằng: “Ta là bằng hữu xưa của quan, ngài không nhận ra ta sao?”. Quan họ Trịnh vẫn chưa thể nhận ra đó là ai, cao tăng đáp: “Ta họ Lý, mấy chục năm qua không gặp rồi…”.
    Quan sững người như không thể tin nổi mắt mình: “Không nhẽ, huynh không hề già đi, vì sao vậy??”.
    Cao tăng từ bi đáp rằng: “Ta từ đó tới giờ tu luyện, gạt bỏ mọi phiền lụy tham vọng thế gian, còn người chìm đắm trong thứ đó và sắp phải từ giã cõi đời này rồi. Thật tiếc thay”.
    Quan Trịnh nghe vậy cảm thấy hụt hẫng và buồn phiền da diết, định cất tiếng hỏi tiếp cao tăng thì nghe nói rằng, “khi nào người được hưởng lộc vua ban là lúc định mệnh, mong kiếp sau đắc thân người và đừng phí hoài cơ hội quý báu này”.
    Nói rồi cao tăng nhẹ bước đi tiếp, quan Trịnh ngoảnh đi ngoảnh lại đã không thấy gì.
    Mấy hôm sau quan Trịnh thấy sức khỏe khá lên, phấn chấn trong người nên vào chầu. Vào tới nơi được vua lệnh ban thưởng hậu hĩnh vì lập công lớn chưa được luận. Quan vui sướng mở tiệc ăn mừng mời rất nhiều các quan khác trong triều tới dự. Vợ con, cháu chắt, thê thiếp ai nấy ăn mặc đẹp đẽ, xiêm y là lượt nghe chừng vui sướng lắm.
    Nhưng sáng hôm sau phu nhân tỉnh dậy đã thấy quan lìa đời từ lúc nào.
    Vinh hoa phú quý quan Trịnh đã hưởng và còn nhiều gia sản để lại, nhưng không thể mang đi được xuống Cửu Tuyền để đầu thai. Làm người không dễ vì luân hồi chuyển kiếp biết đâu mà lần, hãy cố gắng tận dụng kiếp người để tu thoát khổ trần gian. Giàu sang vinh hoa đến mấy nhưng rồi cũng đều có kết cục như ai.
    Biên dịch từ Epoch Times tiếng Trung
     
  11. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Đường Tăng thật trong lịch sử đi thỉnh kinh như thế nào?

    Nhiều người thường nghĩ rằng, câu chuyện thầy trò Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh bên Tây Thiên trong bộ phim Tây Du Ký chỉ là tưởng tượng. Song trong lịch sử, quả thực có một người tên là Huyền Trang đã vượt muôn ngàn gian khổ để đến Ấn Độ thỉnh kinh.
    Trần Huyền Trang (Đường Tam Tạng) là nhân vật có thật trong lịch sử, ông tên thật là Trần Huy, sinh vào khoảng năm Nhân Thọ thứ 2 đời Tùy Văn Đế Dương Kiên (năm 602) tại huyện Câu Thị, nay là tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Hai người anh trai của Trần Huy xuất gia làm sư ở chùa Tịnh Thổ Lạc Dương nên từ nhỏ, ông đã theo anh tụng kinh niệm Phật, đồng thời đọc cả sách Nho, Đạo…
    Không giống như trong tiểu thuyết và phim ảnh, Đường Tăng trước khi lên đường được vua Đường nhận làm huynh đệ, tặng cho chiếc bát vàng, áo cà sa quý và bày tiệc rượu tiễn ra tận cửa thành, trên đường đi gặp được 3 đồ đệ có phép thần thông… thì ở đời thực, Đường Tăng chỉ một thân một mình cưỡi con ngựa già lên đường đi Ấn Độ để tự mình tìm hiểu, mà không hề được sự ân chuẩn của Hoàng đế Đại Đường dù đã 2 lần dâng biểu xin đi.
    Ông đã phải trải qua muôn vàn gian khổ, mất khoảng 17 năm, qua 128 quốc gia lớn nhỏ, mới đạt được ước nguyện trở về. Khi về nước, ông phải dùng 24 ngựa, voi, lạc đà để tải 657 bộ kinh Phật, 150 xá lợi tử (tinh cốt Phật), tượng Phật.
    Lịch sử có ghi chép lại rằng, cảnh tượng nhân dân thời bấy giờ nghênh đón Huyền Trang vô cùng long trọng, từ trước tới nay chưa từng có: “Đạo tục bôn nghênh, khuynh đô bãi thị” (Tạm dịch: Người thế tục nghênh đón người tu Đạo chật kín cả đường phố).
    Sau đó, ông dành 19 năm để dịch 75 bộ kinh Phật và cuối cùng công thành viên mãn. Bộ Đại Đường Tây vực ký 12 quyển là những ghi chép đầy đủ về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán của 128 nước mà ông đã đi qua. Giờ đây, những tài liệu của ông để lại vẫn còn giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia khảo cổ Ấn Ðộ và họ cũng công nhận những ghi chép của Đường Tăng là chính xác.
    Ngày nay, tháp Đại Nhạn tại Tây An cũng được chính Huyền Trang dựa theo kiến trúc tháp nhà Phật thời Ấn Độ cổ để xây dựng.
    “Đại Từ Ân Tự Tam Tàng Pháp Sư truyện” là cuốn sách do hai đệ tử của Đại sư Huyền Trang viết nên từ những điều mà bản thân Huyền Trang trải qua. Đây thực sự là cuốn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá. Trong cuốn sách đó có ghi lại một nạn sinh tử hiểm ác mà Đại sư đã trải qua.
    Câu chuyện về Đường Tăng thật trong lịch sử vượt nạn sinh tử khi đi lấy kinh
    [​IMG]
    Tượng Đường Tăng tại Đại Nhan tháp (Ảnh: orchina-event.net)
    Khi Đại sư Huyền Trang đi bộ tới khu vực trung Ấn Độ, một hôm ông đã kết bạn với hơn 80 người tại địa phương, cùng họ ngồi thuyền thuận theo sông Hằng tới nước A Da Mục Khư. Trên đường đột nhiên có mười mấy chiếc thuyền của bọn cướp đột nhiên xông ra từ rừng cây ở hai bên bờ. Chiếc thuyền mà Huyền Trang ngồi nhanh chóng trở nên náo loạn, có người sợ quá đã nhảy xuống sông để tìm cơ hội thoát thân.
    Đại sư Huyền Trang đã từng nhiều lần gặp phải bọn cướp, những tên sát nhân cơ bản đều được Huyền Trang giáo hóa. Nhưng bọn cướp lần này tuyệt đối không tầm thường chút nào. Chúng không những cướp của mà còn muốn cướp một chàng trai tuấn tú để tế lễ cho vị nữ Thần mà chúng thờ phụng.
    Mùa tế lễ sắp qua, mà bọn cướp lại đang phiền não về việc chưa tìm kiếm được người để tế Thần. Ngay lúc đó có tên vừa nhìn thấy Đại sư Huyền Trang liền hét lên: “Dùng tên hòa thượng cao to, tuấn tú này hiến tế, thực là quá may mắn!” Đại sư Huyền Trang khuyến thiện không thành, những người bạn đồng hành van xin bọn cướp cũng vô ích, cuối cùng họ đều bị bọn cướp giải đi.
    Những tên cướp đã sửa xong đàn tế lễ, hai tên cầm đao dí sát vào Đại sư Huyền Trang và dẫn ngài lên đài. Đại sư tự biết đã vô vọng, bèn xin bọn cướp cho một chút thời gian, để ông tự mình đả tọa viên tịch. Bọn cướp thấy vậy vô cùng khiếp sợ trước phong thái và sự bình tĩnh của Đại sư mà tự thoái lui. Những người bạn đồng hành của Đại sư khóc thành một dãy dưới đàn tế Thần, còn Đại sư thành tâm niệm Phật, phát nguyện vãng sinh, muốn được nghe chân kinh của Phật Di Lặc, sau đó còn hạ thế cứu độ những tên cướp đã giết hại ông.[​IMG]
    Có lẽ, trong lúc đối mặt nạn sinh tử, ông đã chứng ngộ được cảnh giới đại từ bi của bậc giác giả nhà Phật, làm cảm động trời đất, trời đất liền thay đổi. Trong tích tắc, gió đen nổi lên, cuốn theo cát đá, sóng dâng ngập trời, thuyền gần như bị lật úp. Bọn cướp sợ hãi lập tức quỳ sụp xuống lạy trời, hỏi mọi người: “Vị hòa thượng này là ai? Lai lịch là gì?”
    Có người nói với bọn cướp: “Đây là Pháp sư Huyền Trang từ Đông Thổ Đại Đường đi lấy kinh. Việc các ngươi làm đều khiến thượng thiên phẫn nộ, các người còn không mau sám hối!”
    Bọn cướp vội vàng khấu đầu bái lạy trước Đại sư Huyền Trang. Lúc đó Huyền Trang đã đả tọa nhập định, nhìn thấy mình bay qua ba tầng trời Tu Di Sơn, chứng kiến sự trang nghiêm nơi xứ Phật…
    Sóng gió dần dần đi, bọn cướp lấy tay chạm vào người Đại sư Huyền Trang. Đại sư liền xuất định và hỏi: “Đã đến lúc rồi sao?” Ông nghĩ rằng đã đến lúc bị bọn cướp chém đầu rồi.
    Bọn cướp lập tức hoan hô vui mừng nói: “Pháp sư vẫn chưa tọa hóa!” (Ngồi thiền mà ra đi). Chúng lập tức đến bên ông vái lạy mà sám hối. Huyền Trang khai thị Phật Pháp cho chúng và khuyên bảo chúng rằng đừng vì lợi ích nhất thời mà gieo xuống hậu quả khôn cùng. Kết quả, tất cả bọn cướp đều vứt bỏ hung khí, từ bỏ sát nhân, thụ ngũ giới và quy y chính đạo. Từ đó về sau, chúng gặp ai cũng ca tụng uy đức của Đại sư Huyền Trang và kể về niềm vui khi được độ của mình. Người đời cũng tán tụng không ngớt.
    [​IMG]
    Nhân vật Đường Tăng do diễn viên Từ Thiếu Hoa thủ vai được coi là thành công nhất trong phim Tây Du Ký. (Ảnh: hkgalden.com)
    Khác với hình tượng Đường Tăng trong tiểu thuyết và phim ảnh là một tín đồ đạo Phật thành tâm, rất tốt bụng, nhưng trước khó khăn thì đành chịu, thậm chí nhút nhát, cẩn thận dè dặt quá mức, ở ngoài đời, thực, Đường Tăng lại là một vị đại sư gan dạ, giàu lòng bác ái và luôn tin tưởng vào sự thành tâm của đạo Phật.[​IMG]
    Chuyến đi của Đường Tăng không gặp phải yêu tinh ăn thịt người nhưng cũng gặp không ít khó khăn vất vả. Có khi ông phải nhịn đói nhịn khát suốt 7, 8 ngày ròng rã giữa sa mạc nắng chang chang, không một bóng cây, không người qua lại. Hay bị thổ dân ăn thịt người bắt giữ, song lần nào ông cũng tự nhủ: “Thà đi về phía Tây mà chết chứ quyết không quay về Đông mà giữ lấy mạng sống”.
    13 năm lưu trú tại Ấn độ, Đường Tăng đã đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, ở lại chùa Na Lan Ðà, học đạo trong 6 năm. Sau 6 năm học tập, Đường Tăng là một trong ba người học trò giỏi nhất của vị cao tăng Giới Hiền. Theo sách khảo cứu Pháp văn, Đường Tăng là một nhà sư có đạo đức và là một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một nhà địa lý học đa tài, một nhà ngôn ngữ học xuất chúng, một nhà phiên dịch giỏi không ai bằng. Lúc còn ở Tây Phương, đi đến đâu, thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương.
    Trưa Mùng 5/2/664, Đường Tăng đã viên tịch vì bệnh tại chùa Ngọc Hoa, thọ 69 tuổi. Sử chép rằng, ngày cử hành tang lễ có đến một triệu người ở Trường An và các vùng lân cận theo về để đưa tiễn. Đám táng xong, có đến 3 vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Có lẽ từ xưa đến nay đến đế vương cũng chưa có vị nào được ngưỡng mộ sùng bái bằng vị thánh tăng có một không hai này.
    tinhhoa.net
     
  12. Trần Thông

    Trần Thông Thành viên chính thức

    Tham gia:
    3/12/2015
    Bài viết:
    131
    Đã được thích:
    12
    Điểm thành tích:
    18
    trong con người đều có 2 phần thiện và ác, điều quan trọng là ta có chế ngự được bản năng để hướng tới đạo đức hay ko
     
  13. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Lòng tốt luôn tuần hoàn: Trao gửi duyên lành, nhận về trái ngọt

    Cuộc sống xoay vần, cho đi yêu thương sẽ nhận về yêu thương,đôi khi chúng ta giúp đỡ hoặc biết ơn người khác có thể lại là một vòng tuần hoàn cho những người tốt việc tốt mai sau.
    [​IMG]
    Cuộc sống xoay vần, cho đi yêu thương sẽ nhận về yêu thương. (Ảnh: Twitter)

    Ngày nay, trong xã hội đầy rẫy những bất ổn và đấu tranh, nhiều người dường như đang đi mất niềm tin và hy vọng vào lòng tốt của con người.

    Tuy nhiên, tình người luôn điều không thể thiếu trong cuộc sống và hàng ngày vẫn đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới này. Một điều không thể phủ nhận là “Thiện niệm chính là nhân tố cơ bản nhất để duy trì một xã hội ổn định và gắn kết giữa người với người”.



    Người phương Tây có một khái niệm phổ biến về “vòng tuần hoàn của việc tốt”, người phương Đông tin vào luật Nhân – Quả, khi bạn làm điều tốt bạn sẽ nhận lại được điều tốt và ngược lại. Dưới đây là một câu chuyện như thế.

    -***-

    Một buổi chiều nọ vào hơn 100 năm trước, tại một cánh đồng ở miền quê nước Anh, có một người nông dân nghèo đang trồng trọt. Bỗng nhiên ông nghe thấy xa xa có tiếng kêu cứu, thì ra là một cậu bé không may bị rơi xuống nước.

    Người nông dân không hề chần chừ nhảy xuống nước cứu sống cậu bé.

    Sau này mọi người mới biết rằng cậu bé được cứu sống này là con của một gia đình quý tộc.

    Vài ngày sau, gia đình quý tộc nọ đích thân mang quà đến cảm ơn, nhưng người nông dân đã từ chối nhận quà.[​IMG]

    Đối với ông, khi đó cứu người chỉ xuất phát từ lòng tốt của ông mà thôi, ông hoàn toàn không thể tham lam tiền bạc của người khác chỉ vì xuất thân cao quý của họ được.


    [​IMG]
    Cậu bé được cứu là con trai của một nhà thuộc tầng lớp quý tộc. (Ảnh: Pinterest)[​IMG]
    Câu chuyện đến đây vẫn chưa kết thúc…

    Gia đình quý tộc nọ vì kính phục sự lương thiện và cao thượng của người nông dân cũng như biết ơn ông, thế nên họ quyết định hỗ trợ con trai của ông để cậu bé được học đại học ở London.

    Người nông dân đã chấp nhận món quà này, để con mình được đi học là ước mơ nhiều năm của ông.

    Người nông dân vui lắm, bởi vì cuối cùng thì con trai của ông cũng có được cơ hội bước ra thế giới bên ngoài kia để thay đổi số phận của mình. Gia đình giàu có nọ cũng rất vui, bởi vì cuối cùng họ đã thực hiện được ước mơ của ân nhân.



    [​IMG]
    Alexander Fleming được trao giải Nobel Y học vào năm 1945. (Ảnh: Antena)

    Nhiều năm sau, con trai của người nông dân đã tốt nghiệp ngành y Học viện Saint Mary ở London với học lực ưu tú, sau đó còn được Hoàng gia Anh phong tước hiệp sĩ vào năm 1944 và được trao giải Nobel Y học vào năm 1945.

    Người này chính là Alexander Fleming, người đã phát hiện ra chất kháng sinh penicillin.

    Cậu con trai nhà quý tộc kia cũng đã trưởng thành, người này mắc chứng viêm phổi nặng vào những năm Thế chiến thứ II, nhưng may mắn là nhờ có penicillin mà ông đã bình phục rất nhanh.

    Cậu con trai nhà quý tộc chính là Thủ tướng Churchill của Vương quốc Anh.

    [​IMG]
    Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill. (Ảnh: Indiansnews)

    Dù là người nông dân hay gia đình giàu có, họ đều đã đưa tay ra giúp đỡ khi người khác cần, nhờ vậy mà đã gieo mầm những hạt giống tốt đẹp cho thế hệ sau của mình và thậm chí là cho cả quốc gia.

    Trong cuộc sống luôn xảy ra rất nhiều những việc không ngờ đến, đôi khi chúng ta giúp đỡ hoặc biết ơn người khác có thể lại là một vòng tuần hoàn cho những người tốt việc tốt mai sau.

    Lòng tốt có thể kỳ diệu đến thế…

    Lòng tốt có thể lan truyền như vậy…

    Vậy thì sao chúng ta không cố gắng làm thật nhiều việc tốt kể từ ngày hôm nay!
    Tinhhoa.net
     
  14. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Tình yêu kiểu ‘bao bọc’ thường tạo ra những con người vô ơn

    Cuộc sống quanh ta có không ít những câu chuyện về việc con cái đối xử tệ bạc với cha mẹ. Nguyên nhân có nhiều loại, nhưng một trong số đó chính là sự cưng chiều quá mức của đấng sinh thành, cuối cùng tạo nên những em bé to xác và vô ơn.
    [​IMG]

    Tình yêu tốt nhất giữa những người thân kỳ thực là: Hãy buông tay cho họ tự do bay lượn bằng đôi cánh của chính mình. (Ảnh: Reuters)

    Sự nuông chiều của một người mẹ và cái kết buồn

    Ngọc Mai 36 tuổi, sau khi ly hôn cô đưa con về sống với mẹ đẻ. Cũng từ đó cô ấy mang theo những rắc rối bất tận cho mẹ của mình. Trước kia cô cũng nợ một khoản tiền lớn. Sau này cô cả tin vào một “người bạn” không hề quen biết, cùng hùn vốn làm ăn với họ. Chẳng bao lâu sau số tiền vốn ấy cũng đội nón ra đi.

    Điều khiến người ta không thể hiểu được là: Cô ấy biết rõ rằng người bạn này có hành vi không ngay chính, nhưng vẫn giấu kỹ sự thực này khiến mẹ cô phải vay mượn họ hàng cả trăm triệu cho cô buôn bán.

    Kết quả là việc làm ăn thất bát và mẹ cô phải cõng cả một khoản nợ kếch xù trên lưng. Chủ nợ thường tới nhà đòi nợ, đe dọa liên miên, khiến người nhà luôn phập phồng lo sợ, bất an. Nhưng thu nhập của cô ấy không cao lại chẳng có tiền tiền kiệm.



    Cho nên hai món nợ này đều do mẹ cô gánh vác. Nhưng kỳ lạ là trong hoàn cảnh túng quẫn như vậy, cô vẫn không chăm chỉ làm ăn mà lại để con cho mẹ già chăm sóc. Còn cô suốt ngày bù khú ăn chơi nhậu nhẹt với đám bạn xấu.

    Quá bất lực hai hàng nước mắt của bà lăn dài. Bà vừa khóc vừa nói:“Nếu con vẫn không hối cải mẹ sẽ không tiếp tục lo lắng cho hai mẹ con con nữa. Con hãy ra khỏi nhà của mẹ và học cách sống tự lập!”. Nhưng cô con gái không thấy xấu hổ mà cầu xin mẹ tha thứ.

    Ngược lại, sự oán hận của cô còn lớn hơn cả mẹ mình. Cô nói rằng cô mới là người phải chịu oan ức, đây đều là sai lầm của mẹ. Mẹ cô tròn mắt kinh ngạc, không ngờ cả đời che chở và yêu thương, chăm lo cho con gái lại đổi lại những lời vong ơn bội nghĩa như thế này.

    Sự đùm bọc của anh trai và người em chỉ biết ăn chơi hưởng thụ

    Câu chuyện của Ngọc Mai khiến tôi nhớ đến Nam, một người họ hàng xa, cũng chẳng để tâm đến việc nhà hay ngó ngàng đến con cái. Suốt ngày anh ấy chỉ biết ăn chơi hưởng thụ và kết bạn kết bè. Nam cũng bị một người bạn không đáng tin cậy lừa đến mức suýt chút nữa phải lưu lạc đầu đường xó chợ. Cuối cùng nhờ anh trai chạy đôn chạy đáo vay mượn tiền mới giúp Nam giữ được căn nhà.

    “Những em bé lớn xác” chưa trưởng thành về tâm hồn và trí tuệ

    Nam và Ngọc Mai có khá nhiều điểm tương đồng. Họ đều không biết chịu trách nhiệm về những việc mình làm, đầu óc khá đơn giản, cả tâm hồn và trí huệ đều chưa trưởng thành.

    Những người như thế này trong tâm lý học gọi là “những em bé lớn xác”.

    Đặc điểm chủ yếu của những em bé lớn xác là tuổi sinh lý đã đạt được tiêu chuẩn của người trưởng thành, nhưng tâm hồn và trí tuệ lại chỉ như những đứa trẻ.

    Cách chung sống tốt nhất giữa con người với con người chính là: Cuộc sống của bạn tôi chỉ chúc phúc chứ không can thiệp, quyết định của bạn tôi chỉ tôn trọng chứ không ép buộc.

    Nhân cách của những em bé lớn xác này rốt cuộc được hình thành như thế nào?

    Kỳ thực chủ yếu bắt nguồn từ hai phương diện: Một là giáo dục gia đình, hai là môi trường xã hội.

    Mẹ của Ngọc Mai là một phụ nữ khá cứng rắn. Nghe nói mọi chuyện trong nhà từ việc lớn đến việc nhỏ đều do bà quyết định. Con cái và chồng xưa nay chỉ đóng vai những người phục tùng vâng lệnh. Tức là mọi chuyện đều do mẹ cô nắm giữ. Ngay cả hai món nợ của Ngọc Mai cũng do mẹ cô chịu trách nhiệm bồi hoàn.

    Còn anh trai của Nam thì vô cùng gia trưởng. Khi cha mẹ qua đời, Nam vẫn là một đứa trẻ. Mọi chuyện trong nhà đều do một mình anh trai quyết định. Ngay cả việc Nam lấy vợ như thế nào, làm công việc gì, thậm chí con cái Nam sẽ học trường nào, cũng đều phải nghe theo sự sắp đặt của anh trai.

    Anh trai thường không yên tâm về Nam và cho rằng em trai mình không biết cách giải quyết việc nhà. Vậy nên trước sau anh trai Nam vẫn không chịu buông tay, không để cho Nam có cơ hội tự mình lo liệu mọi chuyện.

    Bao nhiêu năm qua, anh trai Nam đã dốc biết bao tâm sức hoạch định cuộc đời cho em trai mình, hết lòng lo lắng, vun vén cho Nam. Nhưng kết quả lại khiến lòng người băng giá. Anh ấy càng quản chặt thì Nam lại càng không có chí tiến thủ. Nam càng không có chí tiến thủ thì anh trai lại càng lo lắng. Lâu dần đã hình thành nên một vòng luẩn quẩn.

    Trên thực tế, trong một mối quan hệ, những người được người khác “chăm sóc” đương nhiên dễ hình thành một lối tư duy dựa dẫm, ỷ lại. Ngược lại những người bao bọc quá phận sự lại cho rằng họ đang che mưa che gió, giúp người thân của mình giải quyết những phiền phức. Vậy nên những người được chăm sóc kỹ càng trên thực tế đều không thực sự trưởng thành. Nói cách khác là họ đã bị tước đoạt cơ hội trưởng thành.


    [​IMG]
    Càng nắm chặt càng mất nhiều, hãy trao sự tôn trọng và tự do cho những người bạn yêu thương. (Ảnh: Mummyitsok)

    Càng nắm chặt càng mất nhiều, hãy trao sự tôn trọng và tự do cho những người bạn yêu thương

    Trong quá trình trưởng thành của những em bé lớn xác, hầu như không có ngoại lệ, bên cạnh họ đều có một người thân có cá tính khá mạnh mẽ và hết lòng yêu thương họ. Cả ngày họ được coi sóc và chăm chút và không được có ý kiến của riêng mình. Nên sự quan tâm quá mức của người thân lại trở thành sự khống chế, tình yêu lại trở thành sự tổn thương.

    Kết quả là: Những bậc phụ huynh cứ dốc cạn tâm huyết của mình cho tới tận khi tóc bạc da mồi. Nhưng cuối cùng họ không thể nuôi dạy nên những người con hiếu thuận, thay vào đó lại tạo ra những kẻ vô ơn, bất tài vô dụng.

    Thiếu cảm giác về sự giới hạn, thiếu ý thức tôn trọng, chính là vấn đề phổ biến tồn tại trong tình thân kiểu gia trưởng.

    Những đứa trẻ trưởng thành trong hoàn cảnh này luôn được người thân che chắn, bảo vệ, chăm bẵm. Họ sẽ dần mất đi khả năng tự phán đoán và sức chịu đựng rất mong manh. Họ không có cơ hội tự mình đối diện với cuộc sống và tiếp xúc trực tiếp với xã hội. Vậy nên họ không thể nhìn thấy những khiếm khuyết cần hoàn thiện và những kỹ năng cần học hỏi.

    Tình yêu tốt nhất giữa những người thân kỳ thực là: Hãy buông tay cho họ tự do bay lượn bằng đôi cánh của chính mình

    Quang có hai cô con gái song sinh 10 tuổi. Hai năm trước, cô bé nói rằng muốn nuôi thú cưng trong nhà. Khi nghe thấy đề nghị của cô con gái bé bỏng, Quang đề nghị hai cha con trước tiên hãy lên một kế hoạch nhận nuôi chúng, bao gồm: Tới nhà nào nhận nuôi thú cưng, đường đi như thế nào, thủ tục cần những gì.

    Hai bố con còn phân công những công việc sau đó như ai phụ trách vệ sinh, ai phụ trách cho chúng ăn uống… Sau này khi không có cha mẹ ở nhà hai cô bé đã tự mình đi nhận nuôi một chú cún nhỏ, tự mình ký tên và lăn vân tay.

    Vài năm qua chú chó nhỏ này đều do 2 cô bé chăm sóc, mà không làm phiền gì tới cha mẹ. Hai cô bé tỏ ra rất có tinh thần trách nhiệm. Quang mỉm cười nói với tôi:“Tôi không hy vọng là bọn trẻ sẽ có thói quen hứng thú nhất thời, sau đó lại để lại hậu quả cho cha mẹ giải quyết”. Anh ấy mong rằng qua việc này sẽ gây dựng ý thức về tinh thần trách nhiệm cho con mình.

    Mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Kỳ thực, Quang luôn áp dụng cách này để giáo dục con trẻ, anh chỉ tham gia, cố gắng trao quyền tự chủ, chứ không bắt ép chúng.

    Sự thực chứng minh rằng điều Quang làm rất đúng đắn. Điều này khiến hai cô bé trở nên ưu tú hơn, có kỷ luật hơn so với những đứa trẻ cùng tuổi khác. Trong việc học hành hai cô bé cũng không cần cha mẹ phải đốc thúc mà rất tự giác. Chúng hiểu rõ rằng học là vì tương lai của chính bản thân mình, chứ không phải vì cha mẹ.

    Quang thường nói: “Tình yêu tốt nhất giữa những người thân kỳ thực là hãy buông tay cho họ tự do bay lượn bằng chính đôi cánh của chính mình”.

    Con cái có trở thành kẻ vô ơn hay không, quan trọng là ở những người làm cha mẹ

    Khi kết hôn, mẹ chồng nói với chúng tôi rằng: “Các con đều đã trưởng thành rồi, chuyện của mình các con tự lo. Mẹ chỉ chúc phúc, chứ tuyệt đối không can thiệp”.[​IMG]

    Sau này tôi và chồng quyết định mua nhà như thế nào, đổi công việc gì, tiêu tiền vào đâu, khi nào sinh con, cha mẹ chồng đều không hề can thiệp.

    Mặc dù tôi thường hỏi ý kiến của các cụ, nhưng cha mẹ đều nói: “Con làm chủ, con cứ tự mình quyết định”.

    Tôi không biết mối quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu như thế nào mới được coi là hòa hợp. Tôi chỉ biết rằng khi những người cô ruột của tôi tâm sự về mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu khó khăn và đau đầu như thế nào tôi chẳng nói được lời nào. Bởi lẽ tôi không hề có cảm giác đó.[​IMG]

    Kỳ thực mẹ chồng rất yêu mến chúng tôi. Nhưng chính vì tình yêu của mình, cha mẹ mới lựa chọn cách thông minh và lý trí hơn. Đó chính là ủng hộ và tôn trọng quyết định của chúng tôi.

    Vài năm nay, điều duy nhất mà tôi và chồng làm là báo đáp sự tôn trọng mà cha mẹ dành cho chúng tôi bằng tình yêu thương sâu sắc hơn. Trong mắt ông bà, chúng tôi chắc chắn là những người con trai và con dâu tốt nhất trên đời này. Cho nên, con cái có trở thành kẻ vô ơn hay không thì điều quan trọng là ở những người làm cha làm mẹ.

    [​IMG]
    Cách dạy con tốt nhất là cố gắng trao quyền tự chủ, chứ không bắt ép chúng. (Ảnh: Huffingtonpost)

    Dẫu là người bạn thương yêu nhất thì họ cũng có quyền tự quyết định cuộc sống của mình

    Cách chung sống tốt nhất giữa con người với con người chính là: Cuộc sống của bạn tôi chỉ chúc phúc chứ không can thiệp, quyết định của bạn tôi chỉ tôn trọng chứ không ép buộc. Nếu bạn mong muốn tự lập tôi sẽ không hoa chân múa tay chỉ trỏ này nọ. Đây chính là cảm giác về giới hạn.

    Trong những gia đình mà ít có cảm giác về giới hạn hợp lý, đa phần đều tồn tại những vấn đề nghiêm trọng như: cha mẹ con cái không hòa hợp, con cái chẳng thành tài. Còn trong những gia đình có thể buông tay một cách phù hợp, đa số cuộc sống đều rất hạnh phúc, hai thế hệ yêu thương và kính trọng lẫn nhau. Mối quan hệ giữa các thành viên vô cùng hòa hợp.

    Suy nghĩ độc lập, tự do tín ngưỡng chính là một đôi cánh bay vào thế giới của chính mình

    Một tác gia nổi tiếng từng nói: “Chúng tôi hy vọng có 2 di sản vĩnh viễn có thể truyền lại cho con cháu: Một là nguồn cội, hai là đôi cánh”.

    Nguồn cội là gì? Nguồn cội chính là tinh thần và tín ngưỡng của một gia đình. Nhưng một người không độc lập về nhân cách sao có thể nhắc tới một tinh thần vĩ đại và một tín ngưỡng cao quý? Những đứa trẻ còn cần có một đôi cánh. Điều cần làm là để chúng học cách tự bay lượn bằng đôi cánh của chính mình. Các bậc phụ huynh đừng mãi làm chiếc ô bao bọc cho con cái mà tước đoạt quyền trưởng thành và tự do bay lượn của chúng.

    Đối với người thân, vợ chồng, buông tay chính là buông tay mà thôi. Bởi lẽ không ai là tài sản của riêng bạn cả, họ lại càng không phải là một phần của bạn. Điều bạn cần làm chính là ủng hộ người bạn đời của mình được là chính bản thân họ, được theo đuổi lý tưởng nhân sinh của mình.

    Dẫu con đường phía trước đầy trông gai trắc trở, hay là hoa nở giữa trời xuân ấm áp thì mỗi người cũng đều cần tự bước đi trên chính đôi chân mình. Hãy tạo nên một con đường tràn ngập ánh sáng rạng rỡ vạn dặm của chính mình.

    Trên đời này, tình mẹ tốt nhất chính là sự rút lui một cách phù hợp. Tình thân vĩ đại nhất là biết buông tay đúng lúc. Tình yêu chân chính kỳ thực lại là bớt yêu đi một chút: Cho phép, ủng hộ, tôn trọng người bạn đời của mình nhiều hơn. Hãy để họ được là chính mình, sống thực với những gì mình mong muốn. Đó mới là lời chúc phúc tốt đẹp nhất.

    Theo ĐKN
     
  15. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Có câu rằng: “Trải qua một cuộc bể dâu”, vậy bể dâu có ý nghĩa gì?
    Những thay đổi lớn trong cuộc đời, trong xã hội, thường được người Việt ví với hai chữ “bể dâu”. Đây vốn là những từ đơn giản, nhưng tại sao hàm ý lại nói lên sự thay đổi lớn của trời đất, của cuộc đời?
    [​IMG]

    Những thay đổi lớn trong cuộc đời, trong xã hội, thường được ví với “bể dâu”. (Ảnh: Sohu)

    Trong tác phẩm “Truyện Kiều”, tác giả Nguyễn Du có viết: “Trải qua một cuộc bể dâu; Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Hai câu thơ này vốn thông dụng đến nỗi nó thường được các bà các mẹ ngâm nga khi ru con ngủ.

    Đa phần người Việt Nam đều cho rằng ý nghĩa của câu nói đó chỉ đơn giản là vậy, không có gì phải suy tư hay đặt câu hỏi. Cũng chính vì lý do này mà trong từ điển dân gian đã xuất hiện hai từ “bể dâu”, nhiều người tùy theo sở học của mình mà đưa ra nhận thức khác nhau về ý nghĩa của hai từ này.

    Theo lẽ đó, từ “bể dâu” hiện được dùng trong hai trường hợp: khi gặp chuyện bất hạnh, người ta thường dùng nó để miêu tả về hoàn cảnh của mình; hoặc khi gặp thay đổi to lớn trong cuộc sống, người ta cũng dùng hai từ này để nói về sự thay đổi chóng vánh ấy, nói khái quát thì có thể hiểu giống như đời người xảy ra trăm biến cố, mỗi chuyện đều là một cuộc “bể dâu”. Ngoài ra còn vài lối nghĩ suy diễn khác nữa, nhưng ý nghĩa thực sự của nó là gì? Sau đây xin dùng một chút nhận thức của bản thân để lý giải.


    Có thể nói những thành ngữ của Việt Nam đa phần đều xuất hiện từ nền văn hóa 5000 năm của Trung Hoa, với nhiều điển cố, điển tích, và cả thần tích. Do đó nếu không dẫn lại những câu chuyện thuộc nền văn hóa Hoa Hạ xưa, thì việc lý giải này sẽ dẫn đến lủng củng và rối rắm, người nghe càng thêm mơ hồ khó hiểu.

    Hai chữ đơn giản này vốn dĩ được rút kết từ một câu thành ngữ, và ý nghĩa của câu thành ngữ lại xuất phát từ một điển tích cổ. Do giới hạn dung lượng của thể thơ lục bát, thi hào Nguyễn Du không cách nào truyền tải toàn bộ ý nghĩa vào câu thơ. Do đó cũng cần nói một chút về vài điển cố trong lịch sử.

    Nguồn gốc hai từ “bể dâu” vốn không chỉ là câu nói dân gian đơn thuần hay là ngôn từ địa phương. Nó xuất phát từ câu thành ngữ: “Thương hải vi tang điền”, nghĩa là “Biển xanh biến thành nương dâu”, qua thời gian dài truyền miệng, người ta lại tóm lược một lần nữa thành “bể dâu”. Điều này khiến câu thành ngữ càng trở nên khó hiểu nếu người nghe chưa từng xem qua điển tích đằng sau nó.



    Ý nghĩa chân thực của câu thành ngữ

    Thực ra câu thành ngữ này cũng không xa lạ gì đối với phần lớn người Việt hiện nay. Nếu ai đã từng xem phim Tây Du Ký phiên bản 1986, chắc hẳn đều nghe qua bài hát mở đầu và kết thúc bộ phim do đạo diễn Dương Khiết thực hiện có tên “Ngũ bách niên tang điền thương hải”, nhạc Hứa Cảnh Thanh, lời Diêm Túc có đoạn:

    Ngũ bách niên tang điền thương hải,

    Ngoan thạch dã trường mãn thanh đài,

    Trường mãn thanh đài.

    Ngũ bách niên tang điền thương hải,[​IMG]

    Ngoan thạch dã trường mãn thanh đài,

    Trường mãn thanh đài

    Chỉ nhất khoả tâm nhi vị tử,

    Hướng vãng khán tiêu dao tự tại,

    Tiêu dao tự tại.

    Na phạ thị dã hoả phần thiêu.

    Na phạ thị băng tuyết phúc cái,

    Y nhiên thị chí hướng bất cải,

    Y nhiên thị tín niệm bất suy.

    Tha đà liễu tuế nguyệt,

    Kích đãng trứ tình hoài,

    Vi thập yêu? Vi thập yêu?

    Thiên hữu giá dạng đích an bài.

    Vi thập yêu? Vi thập yêu?

    Thiên hữu giá dạng đích an bài.

    Vi thập yêu? Vi thập yêu?

    Thiên hữu giá dạng đích an bài.

    Vi thập yêu? Vi thập yêu?

    Thiên hữu giá dạng đích an bài.

    [​IMG]
    Cảnh Tôn Ngộ Không bị nhốt dưới Ngũ Hành Sơn 500 năm. (Ảnh: Crawvn)

    Dịch thơ:



    Năm trăm năm biển hóa nương dâu,
    Tảng đá ương ngạnh cũng phủ đầy rêu xanh,
    Phủ đầy rêu xanh.
    Năm trăm năm biển hóa nương dâu,
    Tảng đá ương ngạnh cũng phủ đầy rêu xanh,
    Phủ đầy rêu xanh.

    Chỉ còn một trái tim là chưa chết,
    Hướng về (thời) tiêu dao tự tại,
    Tiêu dao tự tại.
    Dù cho lửa hoang thiêu đốt,
    Dù cho băng tuyết bao trùm.
    Vẫn một chí hướng kia không thay đổi,
    Vẫn một niềm tin luôn vững bền.
    Đã phí hoài bao năm tháng,
    Xốn xang bao tình cảm nhớ mong.
    Bởi vì sao? Bởi vì sao?
    Lại có an bài như thế này?
    Bởi vì sao? Bởi vì sao?
    Lại có an bài như thế này?

    Bởi vì sao? Bởi vì sao?
    Lại có an bài như thế này?

    Bởi vì sao? Bởi vì sao?
    Lại có an bài như thế này?


    Dù nghe bài hát trên bằng tiếng hoa được đọc dịch tiếng việt, nhiều người vẫn có thể đã cảm thụ được phần nào ý vị của ca từ, bối cảnh câu chuyện được kể trong đoạn phim, trong đó có cụm từ “Năm trăm năm biển hóa nương dâu”, nên phần nào cũng hiểu thêm về câu thành ngữ.

    ‘Bể’ hóa ‘nương dâu’ ý chỉ một quãng thời gian dài đằng đẵng, xa thì hàng trăm năm, gần thì ít nhất cũng cả một kiếp người, vạn sự vạn vật đều đổi dời. Tuy nhiên đó là lý giải nhân sinh cho câu thành ngữ, còn ý nghĩa thực sự của nó thì không thể không nhắc đến câu chuyện mà từ đó xuất sinh ra câu nói này.

    Nền văn hóa Trung Hoa vốn dĩ là văn hóa tu luyện, phần nhiều những điển cố điển tích đều liên quan đến ý nghĩa của việc tu hành, và câu chuyện này cũng không ngoại lệ.Câu thành ngữ gắn liền với một vị Thần trong văn hóa Trung Hoa tên là Ma Cô.

    Ma Cô là vị nữ thọ tiên trong truyền thuyết dân gian Trung Quốc. Về lai lịch, Ma Cô xuất hiện sớm nhất là ở trong Thần tiên truyện của Cát Hồng đời Tấn, lưu hành cũng tương đối rộng. Trong Thần tiên truyện nói rằng: Ma Cô tuổi khoảng chừng 18 đôi mươi rất xinh đẹp, tóc đen tuyền vấn thành búi, còn dư thả xuống tới ngang hông, mặc áo gấm thêu lóng lánh, tư thái vô cùng kiều diễm.

    Vì sao Ma Cô được dân gian tôn làm nữ thọ tiên, cũng có nhiều thuyết đề cập đến. Có thuyết nói rằng Ma Cô từng nói mình đã thấy biển Đông 3 lần biến thành ruộng dâu, đồng thời căn cứ vào mực nước ở Bồng Lai hiện tại so với trước đó mà bà từng thấy đã ít đi một nửa, tiên đoán rằng, biển Đông sẽ biến thành đất liền. Từ đó đã diễn hoá thành điển cố “thương hải tang điền” (biển xanh biến thành ruộng dâu).

    Theo truyền thuyết, biển xanh cứ một lần biến thành ruộng dâu phải mất cả ngàn vạn năm. Thế mà Ma Cô đã thấy qua 3 lần, cho nên tướng mạo bề ngoài giống như một cô gái xinh đẹp thực ra tuổi của bà đã rất cao, không thể xác định được. Thế nên Ma Cô đươc gọi là thọ tinh là điều không cần nghi ngờ.

    Cũng có thuyết nói rằng Ma Cô từng ở trong tiệc sinh nhật của Vương Mẫu Nương Nương dâng lên Hội Bàn Đào loại linh chi tiên tửu chúc thọ Vương Mẫu. Đây chính là nguồn gốc của truyền thuyết dân gian liên quan đến việc Ma Cô hiến thọ.

    [​IMG]
    Hội họa Trung Quốc: “Ma Cô hiến thọ đồ”. (Ảnh: Chanhkien)

    Do đó, ngoài ý nghĩa thông thường ra, câu thành ngữ này thực sự mang thêm một tầng ý nghĩa vượt trên nhận thức phổ thông của con người. Trong mắt người thường, sự việc biển xanh hóa thành nương dâu là một quá trình dài đằng đẵng, không biết được bao nhiêu đời người mới xảy ra. Nhưng trong mắt một vị thần tiên mà nói, thì đó chỉ là chuyện sớm hôm.

    Có câu rằng: “Một ngày trên trời, ngàn năm dưới mặt đất“. Nhiều người có lẽ cũng nghe qua câu chuyện Từ Thức gặp tiên. Từ Thức đến chốn Tiên hết một năm, thì khi về nhân gian đã 200 năm trôi qua. Thế nên nếu ngẫm về ý nghĩa thực sự của câu nói, có lẽ điển tích này còn có một ý nghĩa nữa nhắn gửi con người: đời người trăm năm qua đi, trải qua bao nhiêu thay đổi, tất bật ngược xuôi, thì trong mắt thần tiên mà nói, đó chỉ là một cái chớp mắt.

    Đối với một con người dường như ai cũng có cùng cảm giác này, khi đã đi đến cuối cuộc đời, nhìn lại những chuyện khi xưa chỉ như mới như ngày hôm qua. Một đời đi qua rồi, nếu không có duyên tu hành thì cũng chỉ như hư ảo, mọi thứ sớm tan như mây khói, không biết bao giờ mới lại có thân người, hối tiếc cũng là đã muộn. (tinhhoa.net)

     
    Van_nguyen_2016 thích bài này.
  16. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, đâu là yếu tố quyết định thành bại ở đời?
    Xưa nay, “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” là ba yếu tố quan trọng quyết định thành bại ở đời. Mạnh Tử giảng, thuận cơ trời không bằng được địa lợi, được địa lợi lại không bằng được lòng người. Vậy rốt cuộc đâu mới là yếu tố quyết định?

    Sức mạnh của “nhân hòa”
    Trong văn hóa truyền thống, nội hàm của “hòa” vô cùng phong phú và thâm sâu. Người xưa rất coi trọng “hòa”. Họ giảng rằng, giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia đều phải giữ được “hòa”.[​IMG]

    “Hòa” chính là sự tôn trọng, hòa thuận, điềm đạm, hữu nghị và thân thiện trong đối nhân xử thế và kết giao của con người. Hơn nữa giữa con người với trời đất, thiên nhiên cũng phải “hòa” (hòa hợp, thuận theo). Bản ý của “hòa” chính là sự hòa thuận, hài hòa, sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai bên.

    Về sức mạnh của “hòa”, trong “Chu dịch” viết: “Nhị nhân đồng tâm, kì lợi đoạn kim”, ý nghĩa chính là hai người đồng lòng thì sức mạnh sẽ giống như lưỡi dao sắc bén cắt đứt được cả kim loại. “Chu dịch” cũng viết: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, ý nói rằng những người có cùng tiếng nói thì thường ứng hiệp nhau, những người có cùng chí hướng thì sẽ tìm đến kết hợp với nhau. “Luận ngữ” cũng có câu: “Lễ chi dụng, hòa vi quý”, ý nói tác dụng của lễ nghĩa thì hòa là quý.

    Để làm thành được việc lớn, Mạnh Tử lại đề cao “nhân hòa” nhất trong ba yếu tố “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa”. Ông giảng rằng: “Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa”, ý nói thuận cơ trời không bằng được địa lợi, được địa lợi lại không bằng được lòng người. Nhân hòa có thể làm nên nghiệp lớn, nhưng để có nhân hòa thật không phải là việc dễ dàng. “Nhân hòa” chính là lòng người, là sự đoàn kết ở bên trong, không có “nhân hòa” thì không có sức mạnh to lớn.

    Những bậc quân chủ thánh minh thời xưa luôn “đồng cam cộng khổ” cùng dân chúng, vui với niềm vui của dân chúng, cảm thông với nỗi khổ của họ, trong lòng có thiên hạ. Như vậy, họ mới được lòng người, được dân chúng ủng hộ.

    Xưa nay, trong gia đình, người chồng muốn tạo dựng được sự nghiệp thì không thể thiếu sự đồng lòng của người vợ. Những người làm được việc lớn trong thiên hạ thì thường không thể thiếu vắng “nhân hòa”.

    “Hòa” tạo nên một xã hội thái bình

    Có thể thấy, cổ nhân rất coi trọng và đề cao tác dụng của “hòa”. Đối với một cá nhân, “hòa” chính là khiến tấm lòng rộng mở, khoáng đạt, cương nhu phù hợp. Đối với một đoàn thể mà nói, “hòa” chính là nguyên tắc sống, phải chung sống thuận hòa, hài hòa với nhau. “Quý hòa” luôn luôn là đạo đức truyền thống mà người xưa sùng bái.


    Trong sách “Thượng Thư”, tác phẩm kinh điển của Nho gia miêu tả thời đế Nghiêu, đế Thuấn chính là cảnh tượng thiên hạ thái bình. Khi đó, trên dưới hòa thuận, dân chúng an cư lạc nghiệp, đúng như câu: “Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì dừng”. Đây cũng chính là xã hội lý tưởng của Nho gia. Mà điều hình thành nên một xã hội như vậy chính là “hòa”.

    Gia tộc hòa thuận, quan lại hòa thuận, quốc gia láng giềng hòa thuận thì thiên hạ ắt sẽ thái bình. Nhưng để mọi người hòa thuận thì phải yêu cầu mỗi người đều tự giác tuân thủ chuẩn tắc xã hội cộng đồng, đạo đức xã hội. Về vai trò của người thống trị trong việc xây dựng sự hòa thuận trong xã hội, cổ nhân nhấn mạnh rằng, phải dùng tài trí và đạo đức phục vụ dân chúng.[​IMG]

    [​IMG]
    Thuận cơ trời không bằng được địa lợi, được địa lợi lại không bằng được lòng người. (Ảnh: Nipic)

    Thời xưa, khi Quốc vương Hung Nô thấy các Vương tử bất hòa liền nghĩ cách tập hợp họ lại. Ông đưa cho mỗi Vương tử một mũi tên và bảo họ tự mình bẻ gãy. Các Vương tử rất dễ dàng bẻ gãy những mũi tên đó. Quốc vương Hung Nô lại đưa cho mỗi Vương tử một bó tên và bảo họ bẻ gãy, nhưng kết quả là không Vương tử nào làm được.

    Lúc ấy, Quốc vương Hung Nô mới nói: “Hiện giờ huynh đệ các con bất hòa, mỗi người giống như một mũi tên, thật dễ dàng để kẻ địch tiêu diệt. Nhưng nếu huynh đệ các con hòa thuận thì sẽ giống như một bó tên, không ai có thể chiến thắng được các con. Đây là sức mạnh của ‘hòa’”.

    “Dĩ hòa vi quý” không phải vô nguyên tắc

    Ngày nay, một số người khi không đưa ra chính kiến của bản thân, đứng trước phải trái đúng sai, thiện ác thì không phân biệt rạch ròi, thậm chí cho rằng đó là “dĩ hòa vi quý”. Kỳ thực, đây là tư tưởng biến dị, khác biệt hoàn toàn với “dĩ hòa vi quý” mà cổ nhân giảng.

    Khổng Tử giảng: “Lễ chi dụng, hòa vi quý”, trong tác dụng của lễ thì hòa là cảnh giới cao nhất. Các loại quy phạm xã hội đặt định ra đều nên để thúc đẩy sự hài hòa giữa người với người và con người với thiên nhiên.

    Nhưng Khổng Tử cũng cho rằng, “hòa” không phải vô nguyên tắc, ai nói gì cũng đồng ý. Ông nói, người quân tử và kẻ tiểu nhân khi kết giao là có sự bất đồng. Trong đó, người quân tử có chủ trương, chủ kiến của bản thân mình, đồng thời lại có thể rộng lượng với người khác. Vì thế, họ không sống “nước chảy bèo trôi” nhưng lại có thể hòa thuận cùng người khác. Đây chính là “hòa mà không đồng”.

    Còn kẻ tiểu nhân thì dễ bị ảnh hưởng bởi người khác, bảo sao hay vậy, a dua nịnh hót, nhưng một khi có xung đột về lợi ích thì sẽ không thể hòa thuận được nữa, đây chính là “đồng mà không hòa”.

    Khổng Tử còn nói: “Quân tử hòa nhi bất lưu”, tức là quân tử hòa thuận, khoan dung đối đãi người khác nhưng không mù quáng tuân theo. Người xưa xưng những người có tu dưỡng, có phẩm chất đạo đức cao thượng là người quân tử và rất tôn kính họ, nhưng cũng có yêu cầu tương ứng. Cổ nhân còn giảng: “Quân tử thành nhân chi mĩ, bất thành nhân chi ác”, người quân tử giúp người khác làm việc tốt, không giúp người làm việc ác.

    Đối với việc kết giao, làm sao xây dựng được mối quan hệ hòa thuận, cổ nhân cũng lưu lại rất nhiều ngạn ngữ sâu sắc. Trong “Trang Tử” có viết: “Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ. Quân tử đạm dĩ thân, tiểu nhân cam dĩ tuyệt”, tức là tình cảm giao hảo của người quân tử nhạt nhẽo như nước lã, tình cảm giao hảo của kẻ tiểu nhân lại ngọt ngào như rượu ngọt. Tình cảm của người quân tử tuy nhạt nhẽo nhưng lâu dài thân thiết, tình cảm của kẻ tiểu nhân tuy ngọt ngào, vồ vập nhưng lại dễ dàng dẫn đến tuyệt giao.
    Theo Trithucvn
     
  17. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Những tác phẩm xuất sắc đều “được viết bằng trái tim”
    Các tuyệt tác văn học có thể mang đến nhiều cảm xúc và nuôi dưỡng tình cảm tốt đẹp trong trái tim con người. Nhưng làm thế nào để viết được những bài văn hay cuốn sách hay? Và làm thế nào để tìm được nguồn cảm hứng sáng tác?
    [​IMG]

    Một cảnh trong danh tác “Hồng Lâu Mộng” được vẽ bởi họa sĩ thời nhà Thanh Tôn Văn. (Tranh: Sevilledade / Wikipedia)

    Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên, chúng ta hãy cùng gặp gỡ ông Vương Quán Minh, nhà phê bình ngôn ngữ của thời báo Epoch Times, ông bắt đầu viết bài cho báo và web từ tháng 12/2005. Ông Vương có khá nhiều điều chia sẻ về phương thức để có được những bài viết hay.

    Đọc là cơ sở để viết, viết là sự mở rộng của việc đọc

    Theo ông Vương, một bài báo có sâu sắc và giá trị hay không được quyết định bởi phẩm chất đạo đức và chiều sâu tư duy của tác giả. Ông cho biết chìa khóa của chiều sâu tư duy nằm ở mức độ đọc và trải nghiệm cuộc sống của người đó. Đỗ Phủ, một nhà thơ nổi tiếng thời Đường từng viết: “Đọc hơn vạn quyển sách, hạ bút như có thần”.

    Ông Vương nói: “Đọc là cơ sở để viết; viết là sự mở rộng của việc đọc”.

    Ông Vương đã đưa ra một vài ví dụ đơn giản để minh họa cho tầm quan trọng của việc đọc. Người bắt đầu viết thư pháp phải luyện tập bằng cách bắt chước người khác cho đến khi họ có thể phát triển phong cách riêng của mình. Diễn viên mới bắt đầu cũng phải học hỏi từ người khác trước khi tìm ra phong cách riêng cho mình. Vì vậy, người viết cũng phải bắt đầu bằng cách đọc các tác phẩm của người khác.

    [​IMG]
    Đỗ Phủ, một nhà thơ nổi tiếng thời Đường từng viết: “Đọc hơn vạn quyển sách, hạ bút như có Thần”. (Tranh: roo72/Wikipedia)

    Dĩ nhiên, chúng ta cũng cần phải chọn lọc những gì nên đọc. Ông Vương khuyến nghị nên đọc những cuốn sách có chiều sâu như tứ đại danh tác của Trung Hoa: Tây Du Ký, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử….

    Ông Vương cũng khuyên nên đọc những quyển sách mình yêu thích hoặc hữu ích cho viết lách nhằm phát triển tư duy và có thể áp dụng những gì trong sách vào thực tế, đồng thời cũng để kích thích trí tuệ ẩn sâu trong tâm trí và thúc đẩy khả năng sáng tạo làm nên thành công.

    Việc đọc phải đi kèm với trải nghiệm

    Ông Vương nói, chỉ đọc mà thiếu trải nghiệm thực tế thì không đủ để mở rộng tầm mắt. Ông cho rằng đi các nơi để tìm cảm hứng sẽ làm phong phú vốn sống của con người. “Nếu bạn đi đây đó với mục đích tốt đẹp, bạn sẽ học được nhiều điều từ những trải nghiệm quý giá”, ông Vương nói. Là một tác giả, ông có thể hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc sống thông qua việc ngắm nhìn núi non, biển cả.


    Là con người, chúng ta nên vững vàng như núi và rộng lượng như đại dương, ông nói. “Người khác có thể nói bạn tốt hay xấu. Họ có thể giúp bạn hay làm bạn tổn thương. Bạn đối xử với việc này như thế nào? Là một con người, chúng ta nên khoan dung với sai lầm của người khác. Không nên quá để tâm vào những lỗi lầm nhỏ nhặt đến nỗi đêm ngủ không yên. Chúng ta nên có một trái tim rộng lượng”, ông Vương nói.

    Các nhà hiền triết vĩ đại trong lịch sử Trung Hoa như Khổng Tử, Lão Tử, và Mạnh Tử, đều trải qua những điều tương tự khi đi vân du và dạy học. Những chuyến đi như vậy là cơ hội tốt để học hỏi và kiểm chứng suy nghĩ của bản thân. Do đó, “đi vạn dặm”cũng quan trọng như “đọc vạn cuốn sách” vậy.

    [​IMG]
    Chân dung Mạnh Tử. (Tranh: PhidiasNL / Wikipedia)

    Nâng cao tâm tính sẽ mang lại thành công trong văn chương

    Những tác phẩm vĩ đại đều “được viết bằng trái tim”. Câu nói này dường như đơn giản nhưng lại chứa đựng rất nhiều ý nghĩa. Trong khi đọc, người đọc nên chắt lọc những tinh túy từ tác phẩm và tích lũy càng nhiều càng tốt. Sau đó, trước khi viết, cần có được cái nhìn tổng thể, sắc thái, kết cấu cũng như kết thúc của câu chuyện. Khi có được tất cả những điều này, bạn có thể bắt đầu viết bằng cả trái tim.

    Chúng ta cũng phải chú ý đến chất lượng của bài viết. Chất lượng bài viết là gì? Ông Vương cho biết:

    “Một bài văn thực sự hay có thể nuôi dưỡng tâm hồn người đọc, hướng người đó đến những điều tốt đẹp và cứu người đó khỏi cái xấu. Dĩ nhiên, khó mà có thể viết được một tác phẩm thực sự hay, vì nó cần được chắt lọc từ nhiều năm tháng tích lũy kiến thức”.

    Văn hay đã ở đó, chúng ta chỉ tình cờ gặp được

    Về cảm hứng, ông Vương nói: “Cho dù người ta có kỹ năng viết và nền tảng văn học tốt, nhưng không có cảm hứng thì cũng không thể tạo ra bất kỳ tác phẩm nào và chỉ có thể sao chép của người khác”.

    Nhà thơ nổi tiếng Lục Du nói: “Văn thơ là từ trên Trời rơi xuống, ta chỉ tình cờ bắt được mà thôi”.

    Ông Vương cho rằng khi một người có thể tu dưỡng tâm tính theo các nguyên tắc đạo đức truyền thống, thì bài văn của người này sẽ có vẻ đẹp thuần khiết và lương thiện. Người đọc nhiều khi sẽ bị cuốn hút và phải thốt lên rằng: “Đây thực sự là một kiệt tác!”.[​IMG][​IMG]

    Từ thời cổ đại, Khổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều dạy con người hướng thiện, ông Vương nói: “Nếu một tác giả biết tu tâm hướng thiện thì bài viết của anh ta sẽ mang lại lợi ích tốt nhất cho thế gian. Anh ta sẽ đạt được thành tựu to lớn, bởi vì Trời sẽ luôn giúp người có thiện tâm”.

    [​IMG]
    Một tác phẩm hay có thể tạo nên nhiều cảm xúc và nuôi dưỡng trái tim người đọc. Bức tranh: Một cảnh trong “Hồng Lâu Mộng”.
    Hồng Liên, theo Vision Times
    Theo tinhhoa.net
     
  18. Minhhuongvn12d789

    Minhhuongvn12d789 Thành viên mới

    Tham gia:
    21/11/2017
    Bài viết:
    37
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    8
    Khoan dung nhân từ, cảm hóa đạo tặc
    [ChanhKien.org] Ngày xưa có một người tên là Vương Liệt, ông là người hiểu biết, rộng lượng, thấu hiểu lòng người.

    Thời đó trong nước có một người trộm trâu bị người chủ trâu bắt được. Người trộm trâu nói: “Tôi trước đây mê muội không biết nên sống như thế nào, từ nay về sau tôi xin hối cải làm lại cuộc đời. Ông đã tha tội, dung thứ cho tôi thì xin đừng để cho Vương Liệt biết”. Sau đó, Vương Liệt biết được chuyện này, tỏ ý muốn tặng cho người trộm trâu này một ít vải vóc, thưởng cho anh ta vì có thiện tâm biết xấu hổ mà hối cải, để khích lệ anh ta.

    Vài năm sau, có một ông lão đi đường gánh một gánh nấm rất nặng, có người đã giúp ông gánh đi hơn chục dặm đường. Ông lão muốn mời anh ta về nhà, nhưng anh ta đặt gánh nấm xuống liền rời đi luôn, hỏi tên anh ta không nói.

    Ông lão tiếp tục đi, trên đường đi lại bị rơi mất thanh kiếm. Có người nhặt được thanh kiếm, vốn định để kiếm ở ven đường rồi đi, nhưng lo rằng người phía sau sẽ nhặt mất, liền cầm kiếm đứng ở bên đường đợi đến tận tối. Ông lão quay lại tìm bảo kiếm bị mất, phát hiện ra người nhặt được kiếm đợi ở ven đường để trả lại kiếm cho mình chính là người hảo tâm đã gánh nấm giúp mình lúc trước. Ông lão kéo áo vị ân nhân nói: “Lúc trước anh đã gánh nấm giúp tôi, tôi còn chưa biết tên anh. Bây giờ anh lại ở đây trông giữ kiếm và trả lại cho tôi. Không có ai nhân nghĩa được như anh. Xin cho tôi biết danh tính của anh, tôi cần phải nói cho Vương Liệt biết”. Anh ta liền cho ông lão biết tên rồi rời đi. Ông lão nói cho Vương Liệt, Vương Liệt nói: “Ta chưa bao giờ thấy người nhân nghĩa như vậy trên đời”. Ông cho người đi điều tra, hóa ra là người trộm trâu ngày trước.

    Chính nhờ Vương Liệt đã tặng vải vóc cho người trộm trâu, khích lệ anh ta hối cải hướng thiện, nên người trộm trâu mới trở thành người lương thiện, nhân nghĩa, giúp người gánh nặng, nhặt được bảo kiếm trả lại người mất. Cảm hóa đạo tặc trở thành người tốt, chỉ có thời xưa mới có chuyện như vậy.

    Giả như người trộm trâu sống trong xã hội Trung Quốc ngày nay thì cuộc đời đã kết thúc rồi, không phải bị phê bình đấu tố thì cũng bị đưa đi cải tạo lao động, ở trong thùng thuốc nhuộm lớn này thì chỉ có càng cải tạo càng hỏng, ra khỏi tù cũng không có đường sống trong xã hội, chỉ có thể tiếp tục ăn trộm mà sống, lại thêm cảnh sát đòi cống nạp thì không muốn ăn trộm cũng phải ăn trộm, suốt đời chìm ngập trong xã hội “ăn thịt người” này.

    Tài liệu tham khảo: “Thái Bình ngự lãm, quyển 9, bộ Bách thú, Thập nhị Ngưu hạ” do Lý Phưởng đời nhà Tống biên soạn.
     

Chia sẻ trang này