Thông tin về bệnh võng mạc ở trẻ sinh non ROP

Thảo luận trong 'Sức khoẻ của trẻ' bởi Suri's Mum, 19/11/2009.

  1. Suri's Mum

    Suri's Mum Thành viên sắp chính thức

    Tham gia:
    19/2/2009
    Bài viết:
    92
    Đã được thích:
    24
    Điểm thành tích:
    8
    BỆNH VÕNG MẠC TRẺ SINH NON (ROP)
    Mục đích của tài liệu này là góp phần cung cấp thêm thông tin cho những gia đình có trẻ em sinh non mắc bệnh võng mạc (ROP), giúp các gia đình có thể hiểu rõ hơn về căn bệnh, những biện pháp phòng ngừa bệnh tiến triển, cách chuẩn đoán và điều trị, cũng như chăm sóc các cháu bé.
    Tài liệu được dịch và biên tập chủ yếu dựa trên các tài liệu tiếng Nga của GS.TSKH.Troanovskii R.L., TS. Baranov A.V., I.V.Saphronov, và một số nguồn tư liệu tiếng Anh khác.
    Tài liệu này là một phần nỗ lực của chúng tôi nhằm chia sẻ với các gia đình Việt Nam có con em mắc bệnh. Chúng tôi hi vọng rằng tài liệu này sẽ hữu ích cho người đọc.

    Mục lục
    1. Thế nào là bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP)
    2. Mắt hoạt động như thế nào
    3. Đặc điểm võng mạc mắt của trẻ sinh non
    4. Phân loại quốc tế bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP)
    4.1. Phân loại theo vị trí tổn thương
    4.2. Phân loại theo giai đoạn bệnh
    5. Khám và phát hiện sớm bệnh bong võng mạc Trẻ sơ sinh (ROP)
    6. Các phương pháp điều trị
    6.1. Phương pháp lạnh đông (cryotherapy)
    6.2. Phương pháp laser (laser photocoagulation)
    6.3. Phương pháp phẫu thuật
    7. Vấn đề điều trị ROP các giai đoạn 1-3
    8. Vấn đề điều trị ROP phẫu thuật các giai đoạn 4-5
    9. Các biến chứng muộn của bệnh ROP
    10. Bong võng mạc vào thời điểm muộn
    11. Phụ lục sơ lược giải phẫu mắt


    Nội dung

    1. Thế nào là bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP):
    Bệnh võng mạc trẻ sinh non(ROP) – Đây là bệnh nguy hiểm hàng đầu dẫn tới bị mù, tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Nga, hàng năm, có vài nghìn trẻ em bị mắc bệnh.
    Căn bệnh quái ác này bắt đầu được biết tới kể từ sau năm 1942, khi bác sĩ Nhãn Khoa người Mĩ – Therry, lần đầu tiên miêu tả và gọi tên là bệnh “xơ hóa sau thấu kính”. Bệnh trở nên phổ biến, song song với sự hoàn thiện các phương pháp hồi sức, chăm sóc trẻ sinh non với trọng lượng thấp khi sinh và ngày nay bệnh có đặc điểm thường là nặng và tiến triển nhanh.
    ROP có thể dẫn tới mù hoàn toàn. Tại Mĩ, hàng năm có khoảng 500 trẻ bị mất thị giác do hậu quả của bệnh ROP.
    Số lượng trẻ em sinh non chiếm từ 3 - 16% trong số trẻ em sơ sinh. Chỉ số trẻ sinh non thấp nhất tại Canada (3,06%) và Hà Lan (3,5%).
    Tại Nga, chỉ số này cao gần gấp đôi (6%). Trong số trẻ em sinh non, có khoảng 2% (1500 Trẻ sơ sinh hàng năm) số trẻ có trọng lượng khi sinh cực thấp (< 1000 gram)
    Tại Saint-Petersburg, tỉ lệ sinh non đã tăng từ 5,7%(năm 1991) lên 6,1% (năm 2003). Dĩ nhiên là, tần số mắc bệnh võng mạc cũng tăng lên, và chiếm từ 15% tới 81% (theo số liệu của các tác giả khác nhau). Ví dụ, theo số liệu của Viện Khoa Học Nghiên Cứu Các Bệnh Mắt mang tên Gelmgolsa tại Moscow, tần số bệnh võng mạc khi trọng lượng cơ thể trẻ sinh non thấp hơn 999 gram chiếm 73,7%,còn từ 1000 đến 1500 gram – chiếm 38%, trong đó các dạng nặng của bệnh được phát triển ở 10-16% trường hợp ( mà cuối cùng dẫn tới mù). Chỉ số này tại Saint-Petersburg cũng chiếm 14-19%.
    Chẩn đoán bệnh võng mạc được đặt bởi bác sĩ Nhãn Khoa khi thăm khám đáy mắt của trẻ sinh non,mà có mức khác biệt đáng kể so với trẻ bình thường.

    Bất chấp tỉ lệ phần trăm tương đối cao những trẻ em được khám phát hiện thấy có các dấu hiệu của bệnh võng mạc, những trẻ em này có thể không cần tới can thiệp phẫu thuật. Điều này là do ở phần lớn trẻ, bệnh chuyển sang giai đoạn phát triển ngược lại dưới sự tác động của điều trị laser kịp thời. Ngày nay, can thiệp bằng laser được coi là phương pháp hiệu quả nhất (trong đó, thời điểm thực hiện thủ thuật này có ý nghĩa quan trọng!). Tuy nhiên, tất cả những trẻ em từng mắc bệnh ROP giai đoạn bất kì, đều cần sự theo dõi định kì suốt đời bởi bác sĩ Nhãn Khoa. Bởi vì, các cháu có nguy cơ cao hơn về (của sự) phát triển các tật cận thị, loạn thị. Do vậy mà các cháu cần mang kính từ khi còn nhỏ, để phát triển thị giác bình thường.


    Nhưng, tiếc rằng, ở những trẻ em từng mắc bệnh ROP giai đoạn 1-3, thì cận thị hoặc loạn thị chưa phải là những biến chứng duy nhất. Ở độ tuổi lớn hơn, ở các trẻ em này có thể phát triển bong võng mạc do co kéo. Điều này xảy ra do trong quá trình sinh trưởng của nhãn cầu, sự gia tăng dần dần của quá trình sẹo. Điều này xảy ra khi nào? Không một ai biết. Vì vậy, những cháu bé đó phải được thăm khám định kì bởi bác sĩ Nhãn Khoa trong suốt cuộc đời, và nếu cần thiết thì điều trị dự phòng:
    - Phương pháp laser : Với mục đích cố định võng mạc. Trong vài trường hợp, ngay cả việc này cũng chưa đủ. Khi đó, bác sĩ Nhãn Khoa có thể đề nghị điều trị phẫu thuật dự phòng.
    - Ép vòng tròn của củng mạc: Dạng phẫu thuật này là đủ có hi vọng, nếu được thực hiện đúng lúc.

    Trong các trường hợp nghiêm trọng hơn, khi tác động co kéo của thể kính đã biến đổi không được loại đi bằng hai phương pháp vừa nêu, các bác sĩ Nhãn Khoa phải áp dụng dạng phẫu thuật phức tạp hơn – cắt bỏ thấu kính (đồng thời lấy đi các sẹo xơ khỏi mắt).

    Sau đây, chúng tôi sẽ cố gắng giới thiệu một cách chi tiết với độc giả sự phát triển bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP), các thời hạn và các dạng điều trị,theo các tiêu chuẩn quốc tế hiện đại.
    2. Mắt hoạt động như thế nào:

    Đôi mắt của chúng ta thực hiện chức năng cũng giống như những chiếc máy ảnh. Phần trước của mắt bao gồm các cấu trúc, giống như vật kính, mà tập trung hình ảnh và điều hòa lượng ánh sáng vào mắt. Phần trước này bao gồm giác mạc, thấu kính và mống mắt. Khoang nhãn cầu được chứa đầy cấu trúc trong suốt dạng keo – gọi là thể kính chứa dịch kính. Trong phần sau, có võng mạc – là cấu trúc bán trong suốt rất mỏng, bao gồm các tế bào thần kinh. Võng mạc thực hiện chức năng giống như cuộn phim, nghĩa là nó tạo và truyền đạt hình ảnh nhận được.

    Giống như khi không có phim thì máy ảnh không thể tạo được ảnh, cho nên khi không có võng mạc thì mắt không thể nhìn thấy.

    3. Đặc điểm võng mạc mắt của trẻ sinh non:

    Mắt của trẻ em sinh đủ tháng có võng mạc được hình thành hầu như trọn vẹn. Các mạch máu (đảm bảo dinh dưỡng cho võng mạc) bắt đầu sinh trưởng từ phần sau (từ đĩa thần kinh thị giác) tới trước, kể từ tuần thai thứ 16. Từ phía mũi của võng mạc, sự phát triển của những mạch máu kết thúc vào khoảng tuần thai thứ 36, còn từ phía thái dương – tuần thai thứ 39-40. Như vậy, vào thời điểm sinh ra của đứa trẻ, sự hình thành các mạch máu võng mạc phải được hoàn thành.

    [​IMG]




    Khi đứa trẻ được sinh ra sớm hơn, võng mạc được hình thành chưa trọn vẹn. Võng mạc khi đó chỉ có các mạch máu ở phần sau, tại vùng thần kinh thị giác, còn ở phần trước thì vẫn chưa có các mạch máu (gọi là “vùng không mạch máu”). Mức độ chưa phát triển đầy đủ của các mạch máu võng mạc phụ thuộc tỉ lệ với thời hạn sinh non. Ở trẻ nhỏ với mức sinh non tuần thai thứ 33-34, trong phần lớn các trường hợp, võng mạc đã được phát triển hầu như hoàn toàn.

    Ở các trẻ em được sinh ra với thời hạn thai kì ít hơn 31-32 tuần, sự thiếu phát triển của võng mạc được biểu hiện đáng kể hơn (điều này có quan hệ tỉ lệ nghịch với thời điểm được sinh ra).

    Trên hình 2 được phản ánh mắt của trẻ sinh non : Vùng của võng mạc với các mạch máu phát triển được thể hiện bằng màu đỏ,còn vùng chưa phát triển đầy đủ-“vùng không mạch máu” – được thể hiện bằng màu trắng.

    Hai yếu tố xác định sự mất thị giác trong bệnh bong võng mạc trẻ sinh non (ROP):
    - Mức độ thiếu phát triển của các mạch máu võng mạc trong sự phụ thuộc vào thời điểm sinh.
    - Mức nặng của diễn biến bệnh (phụ thuộc vào vị trí của “vùng không mạch máu” trên đáy mắt).
    Để xác định những yếu tố này,đáy mắt được phân chia ra làm 3 vùng (được mô tả trên hình 3).
    Như đã nhắc lại, các mạch máu sinh trưởng trong võng mạc từ phần sau (vùng I) đến phần trước (vùng II – III ) và mức độ thiếu phát triển ( nghĩa là cả độ nặng của bệnh ) phụ thuộc trực tiếp vào vị trí thiếu vắng của các mạch máu ở vùng này hay vùng khác.
    Bệnh diễn biến nặng khi thiếu vắng các mạch máu tại vùng II và đặc biệt nặng khi thiếu vắng các mạch máu tại vùng I (xem hình 3).




    4. Phân loại quốc tế bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP):
    4.1. Phân loại theo vị trí tổn thương:
    Sự phát triển cấp máu cho võng mạc khởi nguồn từ vùng của thần kinh thị giác ra ngoại vi (nghĩa là từ phía sau ra phía trước).Vị trí RP theo phân loại quốc tế ICROP được xác định theo mức phát triển cấp máu bình thường của võng mạc trước lúc bị thương tổn. Tiên lượng trong tổn thương vùng 2 xấu hơn trong thương tổn tại vùng 3, còn sự xuất hiện của RP tại vùng 1 là nguy hiểm nhất, vì điều này có nghĩa là mô sẹo đã được hình thành, thực tế là toàn bộ võng mạc.
     Vùng 1: bề mặt không lớn của võng mạc xung quanh thần kinh thị giác và vùng điểm vàng (macula) – phía sâu trong mắt.
     Vùng 2: từ viền ngoài của vùng 1 đến bề mặt phía mũi của mắt và một chút phần phía thái dương.
     Vùng 3: từ viền ngoài của vùng 2, bao gồm bề mặt phía thái dương của mắt.
    Dạng hình cầu của đáy mắt còn có thể được chia ra các kinh tuyến – 24 múi giờ. Mức độ lan rông của RP được xác định theo số lượng các “ múi giờ” của thương tổn.
    4.2. Phân loại theo giai đoạn bệnh:
    Bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP) là bệnh phát triển theo giai đoạn. Bệnh luôn luôn bắt đầu từ giai đoạn 1 và phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau mà đạt tới giai đoạn này hay giai đoạn khác.
    Người ta chia ra 5 giai đoạn bệnh: 1-3 (tích cực) và 4-5 (sẹo)
    Giai đoạn 1: Trong đó, diễn ra sự hình thành đường phân chia giữa phần võng mạc được phát triển bình thường (nghĩa là vùng có các mạch máu) và vùng võng mạc chưa trưởng thành (vùng còn thiếu vắng mạch máu) (như đã minh họa trên hình 2)

    Giai đoạn 2: Trong giai đoạn này, đường phân chia trở nên rõ hơn và được chuyển thành mào – trồi lên so với bề mặt võng mạc.
    Theo các dữ kiện mới,cụ thể trong giai đoạn này,điều trị laser rất có hiệu quả.
    [​IMG]

    Giai đoạn 3:
    Sự tiến triển của bệnh võng mạc dẫn tới xuất hiện của lượng lớn các mạch máu tân tạo dễ vỡ - như kết quả đáp ứng với trạng thái thiếu Oxy kéo dài của võng mạc.
    Các mạch máu bắt đầu sinh trưởng từ mào tới trung tâm của mắt, nghĩa là phát triển vào trong thể kính (Hình 5).
    Người ta chia ra 3 mức độ biểu hiện của quá trình này: A, B, C.
    Giai đoạn này được coi như điểm khởi đầu, khi mà nhãn cầu bắt đầu không thể tự chữa khỏi (“ngưỡng” của bệnh).
    “ + “ của bệnh:
    Thuật ngữ này dùng để chỉ mức độ ác tính và tốc độ tiến triển của bệnh.
    Trên lâm sàng, điều này được biểu hiện bởi sự giãn và uốn lượn của các mạch máu võng mạc tại vùng thần kinh thị. Sự xuất hiện “ + “ của bệnh có thể diễn ra trên giai đoạn bất kì. Nhưng thường hơn cả, các biến đổi như vậy của các mạch máu được biểu lộ trước khi có các dấu hiệu của giai đoạn 1. Nếu có “+”,bệnh mang tính chất rất ác tính.

    Giai đoạn 4:
    Tiếc rằng, thủ thuật laser không phải lúc nào cũng được thực hiện đúng lúc và đề phòng được sự tiến triển của bệnh. Điều này xảy ra, thường là khi quá trình bệnh lý có tính chất rất ác tính, đến mức laser không có tác dụng. Bệnh võng mạc tiếp tục tiến triển và được phát triển bong võng mạc co kéo. Lúc này, diễn ra sự biến đổi dịch kính từ dạng keo trong suốt thành sẹo xơ, do có dính với võng mạc, nên nó làm bóc tách võng mạc. Biểu hiện của bong võng mạc một phần cũng chính là đặc điểm của giai đoạn 4. Người ta lại chia giai đoạn 4 thành 2 dạng:
    4a: Khi quá trình bong chưa chiếm tới phần trung tâm võng mạc;
    4b: Khi vùng trung tâm của võng mạc đã bị bong.(Vùng trung tâm là vùng mà mắt nhìn tinh nhất).
    [​IMG]





    Giai đoạn 5:
    Trong trường hợp diễn biến bất lợi nhất của bệnh (khoảng 5% tổng số các trường hợp), một lần nữa, cho dù bất chấp quá trình điều trị đã được thực hiện, sự bong võng mạc có thể chuyển thành bong hoàn toàn, gọi là bong dạng “phễu”.Đây là giai đoạn 5 của bệnh, trong đó, thậm chí điều trị phẫu thuật thành công cũng ít dẫn tới kết quả chấp nhận được.
    [​IMG]

    Trong giai đoạn 5, đứa bé không cố định được ánh mắt lên các đồ vật, và đồng tử có màu xám, như trên ảnh 3 và ảnh 4
    [​IMG] .





    5. KHÁM và PHÁT HIỆN bệnh võng mạc Trẻ sơ sinh (ROP)
    Việc phát hiện bệnh võng mạc trẻ sinh non được thực hiện bằng cách khám hàng loạt các trẻ em nằm trong nhóm có nguy cơ, với mục đích chuẩn đoán bệnh vào thời hạn sớm nhất, và như vậy cho phép bắt đầu điều trị kịp thời.
    Tất cả các trẻ có tiền sử sinh thiếu tháng mà trọng lượng khi sinh của chúng dưới 2000 gram, hoặc được sinh ra sớm hơn tuần thai thứ 32 – 33 đều phải khám để phát hiện bệnh ROP.
    Lần khám thứ nhất thường vào tuần thứ 3-4 sau khi sinh, hoặc tuần thứ 31 kể từ lần có kinh nguyệt sau cùng của người mẹ (khi bắt đầu có thai). Số lần khám dao động từ 2 lần/tuần tới 2 tuần một lần, phụ thuộc vào mức độ nguy cơ phát triển ROP (do bác sĩ điều trị cân nhắc, tùy từng trường hợp cụ thể). Thời gian theo dõi trong vòng 45 tuần từ thời điểm có kinh nguyệt sau cùng của người mẹ, hoặc là 3,5 tháng sau khi sinh, nếu như không có sự phát triển của bệnh và có sự hình thành đầy đủ mạch máu võng mạc.
    Thực tế, đối với tất cả các trẻ nằm trong nhóm nguy cơ, kể từ thời điểm sinh ra, người ta thực hiện điều trị dự phòng: Nhỏ vào mắt Dexamethasol hoặc Maxidex 4-6 lần một ngày, dùng các thuốc mạch máu (Disinol) và chống oxy hóa (Vitamin E).Thời gian điều trị từ 1-3 tháng.
    Nhưng, ý nghĩa lớn hơn rất nhiều lại chính là việc điều trị trạng thái chung của đứa bé trong chu kì chăm sóc (chữa suy hô hấp, phục hồi các biến đổi thần kinh, kiểm tra các chỉ số của mức Hemoglobin và nồng độ Oxy trong máu). Cụ thể, những yếu tố nà, có thể ảnh hưởng nhiều lên diễn biến của bệnh võng mạc Trẻ sơ sinh (ROP.)
    Khi có dấu hiệu biểu hiện sự phát triển của bệnh, người ta áp dụng một trong hai phương pháp điều trị: phẫu thuật laser hoặc lạnh đông.

    Nếu xảy ra trường hợp con bạn bị sinh non, đừng lo sợ. Hãy làm theo sơ đồ sau đây:
    1- Khám lần đầu tại bác sĩ Nhãn Khoa không nên sớm hơn 3 tuần tuổi, nhưng không được muộn hơn 1,5 tháng tuổi.
    2- Các lần khám bởi bác sĩ Nhãn Khoa phải được thực hiện đều đặn, như đã được ghi ở trên và khám tới độ tuổi tuần thứ 45, ngay cả khi nếu con bạn được xuất viện và được chăm sóc tại nhà.
    3- Khi phát hiện thấy dấu hiệu nào đó của bệnh ROP, đừng băn khoăn, hãy chấp nhận làm thủ thuật laser nếu được bác sĩ đề nghị. Thời gian thuận lợi cho thủ thuật này rất ngắn, theo kinh nghiệm thực hành nhiều năm của các tác giả.
    4- Trong sự phát triển của ROP giai đoạn 4 và 5, đừng mất hi vọng, các phương pháp điều trị đang được hoàn thiện theo từng năm,và việc có thể đem lại thị lực ở mức nào đó cho con bạn là điều có thể.

    Các biểu hiện và diễn biến của bệnh võng mạc Trẻ sơ sinh là rất đa dạng và thường đỏi hỏi những tiếp cận xử trí riêng, đối với từng trường hợp cụ thể.
    6. Các phương pháp điều trị ROP:

    1.1. Phương pháp lạnh đông (cryotherapy):
    Cuối những năm 1980, một trong các phương pháp điều trị RP cho phép cải thiện kết quả trên 50% các bé đang ở giai đoạn 3+, là quá trình lạnh đông. Như vậy, một nửa số trẻ mắc bệnh RP giai đoạn này (trong sự tiến triển của bệnh được phát triển bong võng mạc và mù) đã được điều trị khỏi bằng phương pháp này.
    Kĩ thuật làm lạnh đông bao gồm: Làm lạnh xuyên vào mắt và làm lạnh phần được phát triển bệnh lý của võng mạc (nghĩa là phần không có tuần hoàn máu bình thường).Võng mạc bệnh lý cùng với hệ tuần hoàn bất thường của mắt biến mất và sự phát triển mô sẹo bị cản lại.

    Tuy vậy phương pháp này có những nguy cơ nhất định. Có thể xuất hiện suy tim và rối loạn hô hấp. Vì vậy, khi thực hiện phương pháp lạnh đông, cần theo dõi bệnh nhi liên tục bằng monitor. Thỉnh thoảng, khi có bệnh phổi kèm theo ở bệnh nhi, có thể cho bệnh nhi thở bằng máy.
    Phương pháp lạnh đông thực hiện dưới sự gây tê tại chỗ hoặc gây mê chung. Khi áp dụng các thuốc gây tê tại chỗ, phương pháp có thể thực hiện ngay tại giường bệnh, trên khoa hồi sức. Nếu áp dụng phương pháp gây mê toàn thân, cần chuyển bệnh nhi vào phòng mổ, với sự có mặt của bác sĩ chuyên khoa sơ sinh. Nhiều chuyên gia khuyên nên gây mê toàn thân, bởi vì phương pháp điều trị lạnh đông rất đau. Sau khi điều trị, quanh mắt có các biểu hiện phù, cục máu, tấy đỏ - tuy vậy chúng cũng sẽ hết sau vài tuần.
    1.2. Phương pháp laser (laser photocoagulation):
    Phương pháp laser cho phép đạt tới hiệu quả giảm tối thiểu các phản ứng phụ, và hiện tại là phương pháp tối ưu được lựa chọn để điều trị ROP.
    Laser được sử dụng thành công ở người trưởng thành đã hơn 20 năm (bệnh võng mạc do tiểu đường).
    Nhờ sự phát triển của tiến bộ kĩ thuật, người ta đã có thể ứng dụng laser để điều trị cho Trẻ sơ sinh. Đèn soi đáy mắt trực tiếp (được dùng để phát hiện bệnh võng mạc ở Trẻ sơ sinh) cũng được sử dụng để đưa tia laser tới vị trí cần điều trị. Điều trị bằng laser cũng như phương pháp lạnh đông, nhằm làm chết mô bệnh lý của võng mạc cùng với các mạch máu phát triển bất thường,và làm cản trở sự phát triển của mô sẹo. Các ưu thế nổi bật của laser bao gồm:
     Không cần gây tê giảm đau
     Không đau đớn
     Sau thủ thuật không bị phù mô
     Ít tác động tới hệ tim mạch,hô hấp.
    Trước đây các hệ thống laser cồng kềnh và khó vận chuyển. Các hệ thống máy mới dễ vận chuyển, có thể kết nối với đèn soi mắt trực tiếp, và không cần phải vận chuyển bệnh nhi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng laser cũng có hiệu quả tương tự như phương pháp lạnh đông, nhưng lại tốt hơn rất nhiều khi sử dụng cho các trẻ nhỏ để phòng trừ bong võng mạc.
    Như đã nói, sự phát triển của chuyên khoa chăm sóc sơ sinh đã tạo ra khả năng cứu sống nhiều trẻ sinh non.Nhiều trẻ em trong số này được sinh ra vào các giai đoạn sớm của thai kì và hệ thống thị giác của chúng chưa phát triển. Điều này được phản ánh trên sự gia tăng số lượng các tổn thương ở vùng 1 trong bệnh ROP, đây là vấn đề phức tạp đối với các bác sĩ nhãn khoa, bởi vì phương pháp truyền thống để điều trị ROP – phương pháp lạnh đông – tỏ ra không hiệu quả trong định khu như trên của thương tổn. Trong trường hợp phương pháp lạnh đông và laser không đem lại hiệu quả, sự tiến triển của quá trình bong võng mạc, hoặc sự chuyển tiếp từ giai đoạn 3 sang giai đoạn 4 và 5, thì phẫu thuật sẽ là phương pháp được lựa chọn.
    1.3. Phương pháp phẫu thuật:
    Kĩ thuật ngoại khoa, được gọi là “ép” củng mạc (scleral buckling, <để đơn giản hóa, chúng tôi sử dụng thuật ngữ dễ hiểu theo tiếng Việt, mặc dù không thật đúng nghĩa với từ “buckling” trong tiếng Anh>), đủ hiệu quả trong điều trị bong võng mạc, đặc biệt là nếu như chưa bong nhiều. Trong phẫu thuật “ép” củng mạc, từ phía ngoài của mắt, miếng vá tại vị trí bong được chèn vào, và cần siết chặt nó cho tới khi nào võng mạc tiếp xúc trở lại, tại trí bị bong. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phương pháp này là tốt trong các giai đoạn 4a, 4b và giai đoạn 5.
    Thị giác được cải thiện đáng kể sau khi thực hiện thành công phẫu thuật “ép” củng mạc.
    [​IMG]
    Nếu “ép” củng mạc không thành công, hoặc trong trường hợp không thể thực hiện, kĩ thuật cắt bỏ thể kính (vitrectomy) được áp dụng. Có vài phương pháp cắt bỏ thể kính. Theo một phương pháp, khoang mắt được mở ra, lấy đi thấu kính và toàn bộ (hoặc một phần) thể kính, sao cho phẫu thuật viên có thể can thiệp tiếp vào vị trí bong võng mạc. Sau khi tìm thấy nguyên nhân bong võng mạc (mô sẹo, màng), người ta sẽ lấy chúng đi, và võng mạc được ép lại lên thành của nhãn cầu. Sử dụng phương pháp khác, cho phép mở lối vào võng mạc nhanh hơn, và tạo trường quan sát tốt cho phẫu thuật viên. Phương pháp này gọi là cắt thể kính tiết kiệm lens-sparing. Theo đó, 2 dụng cụ có dạng như các kim tiêm dưới da được đưa vào mắt tới khoang thể kính (vòng qua mống mắt và không đụng tới thấu kính). Những dụng cụ này được sử dụng để loại đi mô sẹo xơ.
    Theo vài dữ kiện theo dõi, sau khi cắt bỏ thể kính, mắt thực hiện chức năng tốt hơn là khi không điều trị phẫu thuật. Tuy nhiên, kĩ thuật cắt bỏ thể kính (vitrectomy) không phải lúc nào cũng thực hiện thành công. Thậm chí, trong sự hồi phục của võng mạc, chỉ một phần của mắt được biểu hiện thị giác, khả năng phân biệt các khuôn mặt là rất khó.

    7. Vấn đề điều trị ROP các giai đoạn 1-3 (giai đoạn tích cực của bệnh)
    [​IMG]

    Bệnh võng mạc Trẻ sơ sinh (ROP), ngoài các giai đoạn, còn được chia ra 2 pha: pha tích cực, và pha sẹo – điều trị khác nhau.
    Pha tích cực gồm các giai đoạn 1-3 của bệnh. Phương pháp điều trị cơ bản là bắn laser võng mạc. Thời điểm (thời hạn) được thực hiện thủ thuật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vài năm trước, người ta còn cho rằng, làm đông cần thực hiện chỉ khi nào bệnh đã đạt tới “ngưỡng”. Nhưng ngày nay, ý kiến này đã thay đổi tận gốc. Ngày nay,người ta thấy rằng, thủ thuật laser nên thực hiện vào các thời hạn sớm hơn, nghĩa là trong giai đoạn 2, thậm chí là giai đoạn 1 của bệnh.
    Nên đặc biệt khẩn trương khi đã có các dấu hiệu của “+“ (giãn các mạch máu võng mạc). Trong dạng bệnh lý như vậy, cần phải tính toán không phải từng tuần, mà phải tính đến từng ngày. Thường thì độ tuổi của trẻ vào thời điểm này là 1,5 – 2 tháng tuổi. Việc thực hiện thủ thuật laser đúng lúc sẽ tạo điều kiện quan trọng cho việc thuyên giảm tính tích cực của quá trình bệnh lý, và bệnh sẽ chuyển về giai đoạn phát triển ngược, nghĩa là đem lại hi vọng rằng con của bạn sẽ còn thị giác.
    Không hoài nghi rằng, các chỉ định đối với thủ thuật bắn laser và các thời hạn thực hiện nó phải được bác sĩ Nhãn Khoa với bác sĩ chuyên khoa Sơ Sinh cùng cân nhắc.
    Các dạng điều trị khác,ví dụ như phương pháp lạnh đông (tác động bằng nhiệt độ thấp) hoặc các dạng bất kì của điều trị bảo tổn, ngày nay ít được dùng.
    Hình 6 và hình 7 giới thiệu sơ đồ hóa tác dụng của tia laser: chùm tia laser được chiếu qua đồng tử lên võng mạc, để lại vết trong dạng các điểm trắng – các điểm đông tụ laser.
    Quan sát ảnh 1 và ảnh 2 có thể thấy cách thủ thuật laser được thực hiện ra sao.
    [​IMG]

    8. Vấn đề điều trị phẫu thuật ROP giai đoạn 4 và giai đoạn 5:
    Bao gồm việc làm mất đi ảnh hưởng kéo căng của sẹo xơ (do thể kính chuyển thành). Như đã nói, sẹo nối dính vào võng mạc, và vì vậy, không cho võng mạc khả năng thực hiện chức năng. Khi loại đi các tổ chức sẹo, võng mạc được giải phóng khỏi đó và từng bước dành lại vị trí của mình – “nằm” lên vỏ mạch – được biểu hiện khả năng làm việc của nó. Phẫu thuật thực hiện với sự giúp đỡ của công nghệ hiện đại – cắt bỏ thể kính. Trong vài trường hợp, điều này cho phép làm mất sự bong võng mạc.
    Rất thường gặp những trường hợp, khi mà không thể thực hiện thành công việc loại bỏ đi các sẹo gây co kéo trong 1 lần phẫu thuật, lúc đó cần phải can thiệp phẫu thuật lặp lại (thường là sau 1,5 – 2 tháng). Trong giai đoạn 5 của bệnh, cùng lúc với việc loại bỏ đi thể kính bị biến đổi sẹo hóa, buộc phải lấy đi cả thấu kính (thủy tinh thể), bởi vì, võng mạc đã bong nằm rất sát sau thấu kính. Chúng ta phải nhớ rằng, khi không có thấu kính thì mắt vẫn có khả năng nhìn thấy. Hơn nữa, không có thấu kính thì ngày nay vẫn có thể giải quyết bằng cách đeo kính, hoặc dùng kính áp tròng.
    Các thời hạn thuận lợi đối với việc thực hiện phẫu thuật cắt bỏ thể kính là không sớm hơn 5-6 tháng tuổi. Điều này được giải thích là do: Trước thời điểm này, hoạt tính của bệnh còn có thể tiếp tục. Thực tế thực hành cho thấy, điều trị ngoại khoa vào pha tích cực, thường cho kết quả không tốt.
    Trên hình 10 và ảnh 5 cho thấy phẫu thuật không hề đơn giản này – cắt bỏ thể kính
    [​IMG]






    9. Các biến chứng muộn của bệnh ROP:
    Ở phần lớn Trẻ sơ sinh với biểu hiện lâm sang không rõ (giai đoạn 1-3), ROP tự lui dần, không tạo mô sẹo. Tuy nhiên, ở một số trẻ, sau đó mắc các biến chứng của ROP. Các biến chứng muộn của bệnh RP gồm:
     Lác mắt và giảm thị lực:
    Lác mắt và giảm thị lực (giảm độ tinh của thị giác) thường hay xuất hiện ở trẻ có tiền sử mắc bệnh ROP giai đoạn 1-3, hơn là những trẻ bình thường. Thường đòi hỏi phải thực hiện điều chỉnh các cơ nhãn cầu (trong lác mắt) và đeo kính điều chỉnh việc giảm thị lực.
     Cận thị:
    Cận thị có thể xuất hiện sau khi các dạng nặng của ROP đã thuyên giảm. Cận thị diễn ra nặng hơn khi có mô sẹo xơ. Điều chỉnh bằng cách sử dụng kính.
     Glaucoma ( Tăng áp lực nội nhãn):
    Các dạng khác nhau của Glaucoma có thể được phát triển trong các dạng ROP đã thuyên giảm hoặc đang điều trị. Diễn biến của Glaucoma rất nặng và là nguyên nhân khiến thị giác giảm đáng kể. Đôi khi, đòi hỏi điều trị laser để dẫn lưu lượng dịch của buồng trước, bởi vì lượng dịch thừa chính là nguyên nhân của Glaucoma.

    10. Bong võng mạc vào thời điểm muộn:
    Bong võng mạc có thể xuất hiện ở độ tuổi thiếu niên, như kết quả của việc co kéo của mô sẹo trong sự phát triển mạnh của nhãn cầu. Hoặc là trong trường hợp thể kính “nhăn nheo” do xơ hóa, nó sẽ kéo theo võng mạc.Thường phải điều trị bằng phẫu thuật.
    Vì vậy, bệnh nhân mắc ROP ở giai đoạn sơ sinh cần phải được theo dõi bởi bác sĩ nhãn khoa, khám định kì hàng năm, ít nhất là cho tới 18 tuổi.

    11. Phụ lục sơ lược cấu tạo nhãn cầu. (tham khảo để hiểu các thuật ngữ y học)
    (theo tài liệu Giải Phẫu Người, ĐH Y HN 2001, Gs. Trịnh Văn Minh chủ biên)
    [​IMG]
    Nhìn trên mắt cắt đứng dọc có thể thấy nhãn cầu được tạo bởi 3 lớp áo từ ngoài vào trong gồm; lớp xơ, lớp mạch và lớp trong.
    Lớp xơ là lớp ngoài cùng gồm hai phần: phần trước nhỏ là giác mạc và phần sau lớn là củng mạc.
    - Giác mạc là phần trong suốt ở phía trước nhãn cầu, chiếm 1/6 nhãn cầu. Nơi tiếp giáp giữa giác mạc với củng mạc gọi là rãnh củng mạc. Phần giác mạc ở rãnh này gọi là viền giác mạc (limbus corneae).
    - Củng mạc là phần sau, màu trắng đục của lớp xơ, chiếm 5/6 nhãn cầu. Phần trước thường gọi là lòng trắng của mắt, có kết mạc phủ, có thể nhìn thấy những mạch máu nằm ngay dưới kết mạc.

    Lớp áo mạch gồm 3 phần từ trước ra sau là; mống mắt, thể mi và màng mạch.
    - Màng mạch chiếm 2/3 sau của nhãn cầu, nằm giữa củng mạc và lớp trong của mắt, là một màng dinh dưỡng, được cấu tạo bởi các tế bào sắc tố, các động mạch nhỏ, các tĩnh mạch nhỏ và các mao mạch.
    - Thể mi là phần dày lên của màng mạch, tiếp nối giữa màng mạch và mống mắt, ở phía sau bờ giác mạc độ 6mm và dính chặt với củng mạc. Thể mi có chứa cơ mi điều chỉnh độ dày mỏng của thấu kính (thủy tinh thể).
    - Mống mắt hay còn gọi là lòng đen chắn trước thể thấu kính. Bờ trung tâm của mống mắt tạo thành một lỗ ở giữa được gọi là con ngươi hay đồng tử. Mống mắt có hai loại cơ làm thắt con ngươi và giãn con ngươi. Mống mắt chia khoảng nằm giữa mặt sau giác mạc và mặt trước thể thấu kính thành hai phòng; phòng trước hay tiền phòng và phòng sau hay hậu phòng. Hai phòng thông nhau qua con ngươi và chứa thủy dịch.

    Lớp áo trong nhãn cầu hay áo thần kinh là võng mạc ở trong cùng nhãn cầu, được chia làm 3 phần khác nhau về cấu tạo.
    - Phần võng mạc thị giác là phần võng mạc phủ phần sau nhãn cầu, chứa đựng các tế bào thần kinh cảm thụ ánh sáng.
    - Phần võng mạc thể mi là phần võng mạc phủ mặt trong thể mi.
    - Phần võng mạc mống mắt là phần võng mạc phủ mặt sau mống mắt cho đến bờ con ngươi.
    Võng mạc được tạo thành bởi hai phần cơ bản như hai lòng bát chồng lên nhau: phần sắc tố ở ngoài dính vào màng mạch, chứa nhiều hạt sắc tố và phần thần kinh ở trong chủ yếu gồm các tế bào thần kinh, là phần cảm thụ ánh sáng của võng mạc. Phần này có thể bị bong khỏi lớp ngoài trong tình trạng bệnh lí.
    Trên bề mặt võng mạc có hai vùng đặc biệt:
    - Đĩa thần kinh thị giác: hay điểm mù là nơi tập trung của các sợi dây thần kinh thị giác và không có tế bào cảm thụ ánh sáng.
    - Điểm vàng (hoàng điểm) hay vết võng mạc là một vùng nằm ở cực sau nhãn cầu, phía ngoài đĩa thị giác. Trong vết võng mạc có hõm trung tâm, là nơi tập trung các tế bào hình nón có chức năng tập trung nhìn các vật rõ nhất và chi tiết nhất, hõm không có mạch máu và được nuôi dưỡng bởi màng mạch.

    Mạch máu nuôi võng mạc:
    Phần ngoài của phần võng mạc thần kinh (vùng ngoại vi) được nuôi dưỡng bởi màng mạch.
    Phần trong được nuôi dưỡng bởi động mạch trung tâm võng mạc, động mạch này đi trong thần kinh thị giác và đến đĩa thị giác thì chia làm hai nhánh trên và dưới, hai nhánh này lại chia đôi, đây là những động mạch không có nối tiếp nên tắc nghẽn sẽ gây mù vùng cung cấp máu của nhánh động mạch đó.
    Soi đáy mắt có thể thấy tình trạng của võng mạc và các động mạch trung tâm võng mạc.
    Các môi trường trong suốt của nhãn cầu: Để tiếp nhận ánh sáng từ ngoài vào trong đến võng mạc bên trong nhãn cầu có các môi trường trong suốt từ trước ra sau gồm: giác mạc, thủy dịch nằm trong tiền phòng và hậu phòng, thấu kính và thể kính.
    1. Thủy dịch được tiết ra từ các mỏm mi vào phòng sau, qua con ngươi để sang phòng trước, rồi vào gốc mống mắt giác mạc để đi ra xong tĩnh mạch củng mạc, sau đó đổ vào tĩnh mạch mi. Áp lực của thủy dịch được lưu thông bình thường không thay đổi, song có bệnh lý gây tắc nghẽn lưu thông thủy dịch làm tăng áp lực thủy dịch hay còn gọi tăng áp lực nội nhãn thường dẫn đến đau đầu, giảm thị lực (gọi là thiên đầu thống hay glaucoma)

    2. Thấu kính hay còn gọi là nhân mắt hoặc thể thủy tinh, là một đĩa trong suốt được treo vào thể mi và võng mạc bởi các dây chằng.


    3. Thể kính là một khối chất keo trong suốt, chứa trong phòng kính là khoang lớn nhất nhãn cầu, ở sau thấu kính. Thể kính gồm một màng bao gọi là màng thể kính, bọc một chất dịch trong suốt gọi là dịch kính. Nằm theo trục của thể kính là một ống gọi là ống thể kính. Ống đi từ thể thủy tinh đến đĩa thị giác. Trong phôi thai ống là đường đi của động mạch thể kính, động mạch này chạy ra trước để cung cấp dinh dưỡng cho thấu kính và thường biến mất trước khi sinh.

    [​IMG]

    (Với mục đích đơn giản hóa một cách tối đa và đảm bảo nội dung, chúng tôi Chỉnh sửa và bổ sung dựa theo hình ảnh atlas của The online atlas of ophthalmology, Oculisti Online)

    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]


    Bài dịch này đã được người dịch Nguyễn Việt Tiến - nghiên cứu sinh và Sinh viên Chung tại Saint Peterburg cho phép đăng tải. Xin chân thành cám ơn!!!
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi Suri's Mum
    Đang tải...


  2. bebibo123

    bebibo123 Thành viên tập sự

    Tham gia:
    16/11/2011
    Bài viết:
    11
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    3
    Ðề: Thông tin về bệnh võng mạc ở trẻ sinh non ROP

    Co ai biet ve banh nay khong giup e voi ah.
    Con e sinh du thang 40tuan1ngay lieu co kha nang bi benh nay ko a?
    Bieu hien la phan long trang cua mat bi duc hon va co nhieu tia mau ah. Tap trung chu yeu phan gan thai duong
     
  3. mexinh12

    mexinh12 Mẹ gấu xinh

    Tham gia:
    3/11/2014
    Bài viết:
    428
    Đã được thích:
    39
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Thông tin về bệnh võng mạc ở trẻ sinh non ROP

    Thanks chủ tóp chia sẻ, oánh dấu lại tối đọc(vì hơi dài) để có thêm kiến thức về bệnh này, nói dại nhỡ đâu tập hai hay con cháu trong nhà bị thì biết mà khác phục, phòng ngừa vẫn hơn
     
  4. mecuaembon

    mecuaembon Thành viên tích cực

    Tham gia:
    31/12/2014
    Bài viết:
    779
    Đã được thích:
    37
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: Thông tin về bệnh võng mạc ở trẻ sinh non ROP

    bài chia sẻ hay quá ạ, em đánh dấu để nghiên cứu.
     

Chia sẻ trang này