Thiền Lâm Bảo Huấn Lời nói đầu Giáo pháp của Phật Đà được ghi chép trong Tam tạng là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Ta thường gọi là Tam tạng Thánh giáo. Giáo điển của Phật giáo ngoài ba phần nói trên, còn có một phần được ghi chép những lời nói và việc làm có tính cách siêu việt của các Cổ nhân được tập trung lại gọi là phần Ngữ lục. Thiền Lâm Bảo Huấn đây chính là phần Ngữ lục. Nội dung của sách Bảo Huấn được chia thành 4 quyển, gồm gần 300 thiên. Mỗi thiên đều là những lời vàng ngọc để răn dạy về cách tu tâm xử thế, đều là những kỷ cương yếu lĩnh về cách trụ trì, hoằng đạo của các bậc Thạc đức danh Tăng. Mỗi ý tưởng mỗi câu văn đều là những khuôn vàng thước ngọc để kẻ hậu học noi theo, đều là những tấm gương chói lọi sáng ngời để soi chung cho hậu thế. Thế nên những người nột tử có chí hướng kế vãng khai lai, truyền thừa Tổ nghiệp đều phải học hỏi và bắt chước. Viên Ngộ Thiền sư bảo Phật Giám rằng: “Sư ông chùa Bạch Vân, mỗi khi hành động cất nhắc một việc gì, cũng đều khảo xét những hành động của cổ nhân xưa. Sư ông thường nói: “Sự việc mà chẳng khảo xét của tiền nhân thì bảo đó là chẳng đúng phép”. Ta chỉ vì ghi nhiều được lời nói và đức hạnh của cổ nhân mà đạt thành được chí khí. Nhưng chẳng phải chẳng những chỉ hiếu cổ, mà lại bỏ cái hay của người đời nay chẳng đủ để bắt chước. Tiên sư thường nói: “Sư ông vì chấp cổ, nên chẳng biết thay đổi theo thời”. Sư ông nói: “Thay đổi thói cũ, biến đổi đạo thường, chính là mối đại họa của người đời nay”. Đó là điều mà ta trọn chẳng làm vậy”. Như vậy, chỗ bắt chước cổ nhân, có nghĩa là bắt chước cái hay cái đẹp của cổ nhân để tạo thành cái hay cái đẹp cho đương thế, để mong sao cho Tổ đình hưng thịnh, cho Phật pháp xương minh. Đó chính là cái hoài bão chung của những người con Phật. Sách Thiền Lâm Bảo Huấn này được lưu truyền tại Việt Nam có ba bản khác nhau. Bản thứ nhất được khắc từ năm Mậu Thân, niên hiệu Cảnh Trị năm thứ sáu đời Lê, và được tàng trữ tại chùa Khán Sơn ở Thăng Long thành. Bản thứ hai được khắc ở năm Quý Sửu, và được tàng trữ tại chùa Xuân Áng huyện Lương Tài. Hai bản này duy có phần chính văn, không có phần chú thích. Bản thứ ba được khắc ở năm Mậu Ngọ, năm Tự Đức thứ 11, và được tàng trữ tại chùa Linh Thiền núi Long Đội tỉnh Hà Nam. Bản này có phần âm nghĩa và chú thích của Vân Thê Kiến Sư. Ba bản trên đây đều bằng Hán văn, và đã được lưu truyền tại Việt Nam trải qua nhiều thời đại. Nhưng trong thời đại nào sách Bảo Huấn này vẫn được coi là bộ sách giáo khoa của Phật giáo. Vì lẽ, trong bất cứ một hội Hạ hay một trường Phật học nào, cũng đều thấy có chương trình học hay giảng Thiền Lâm Bảo Huấn. Phần nguyên bản của sách Thiền Lâm Bảo Huấn này thì y cứ vào chính bản trong “Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh” tập thứ 48, từ trang 1016 - 1040. Phần chú thích thì y cứ vào bản chú thích của Vân Thê Kiến Sư Trung Hoa, và bản Nhật dịch Thiền Lâm Bảo Huấn tập thứ 4 trong “Quốc Dịch Thiền Tông Tùng Thư” của Nhật Bản. Trong những phần phiên âm, dịch nghĩa và chú thích trong sách Thiền Lâm Bảo Huấn này chắc không thể tránh sao khỏi được chỗ khuyết điểm sai lầm, nếu các bậc cao minh độc giả nhận thấy có những chỗ sai lầm đó xin vui lòng phủ chính, để sẽ được sửa lại hoàn hảo ở lần tái bản sau. Phật Lịch 2516, Mùa Xuân năm Quý Sửu 1973 Dịch giả cẩn chí Sa môn Thích Thanh Kiểm. --------------------------- 1.- Minh Giáo Tung[3] Hoà Thượng nói: “Tôn chẳng gì bằng đạo, đẹp không gì đẹp bằng đức. Người có đạo đức tuy là kẻ thất phu[4] cũng không phải là cùng, kẻ không có đạo đức, tuy là đấng vương giả cũng không là thông. Bá Di, Thúc Tề[5] xưa kia là người chết đói, đời nay, nếu người ta lấy đó để so sánh thì mọi người đều mừng. Trụ, Kiệt[6], U, Lệ[7] xưa kia là đấng nhân chủ, đời nay, nếu người ta lấy đó để so sánh thì mọi người đều giận. Thế nên, người học giả chỉ lo phần đạo đức của mình không trọn vẹn, chứ đừng lo thế vị không đến với mình”. Đàm Tân Tập. [1] Thiền Lâm Bảo Huấn. Thiền Lâm Bảo Huấn, hoặc còn gọi là Thiền Môn Bảo Huấn : Lời dạy quý báu trong rừng thiền. [2] Đông Ngô. Thuộc địa phương Dương Châu bên Trung Hoa. [3] Minh Giáo Tung. Pháp tự của Động Sơn Hiểu Thông đời thứ 10 phái Thanh Nguyên cũng có tên là Phật Nhật Khế Cảo, con họ Lý đất Tô Châu, trụ trì chùa Vĩnh An, trước tác các bộ sách : “Thiền Môn Định Tổ Đồ”, “Chính Tông Kỷ” “Phụ Giáo Thiên”… Đời vua Nhân Tôn được ban tên hiệu là Minh Giáo. [4] Thất phu. Thất phu và thất phụ chỉ vào người bình dân. [5] Bá Di, Thúc Tề. Y vào Sử Ký Liệt truyện, Bá Di và Thúc Tề, đều là con vua nước Cô Trúc đời nhà Ân, nhường nhau làm vua, rồi bỏ nước trốn đi. Sau vua Vũ Vương đánh nhà Ân, hai người ra níu cương ngựa lại can. Vua Vũ Vương sau khi được nước, lập thành nhà Chu, hai anh em không thèm ăn gạo của nhà Chu, bỏ vào núi Thú Dương ở ẩn dật ăn rau sau bị chết đói. [6] Trụ, Kiệt. Y vào Sử Ký thì vua Kiệt là con của Đế Phát cuối đời nhà Hạ ; Trụ là con của Đế Ất cuối đời nhà Thương, đều là hai bạo quân thời xưa. [7] U, Lệ. Theo Sử Ký Bản Kỷ, U Vương là con của Tuyên Vương đời Chu, gọi là Niết ; Lệ Vương là con của Di Vương cũng ở đời Chu đều là những ông vua hiếu lợi ngu ngốc.
Ðề: Tu nhân tích đức 2.- Ngài Minh Giáo nói: “Cái học của Thánh Hiền, cố nhiên chẳng phải một ngày mà đủ, ngày chẳng đủ thì kế đêm, rồi chứa góp hàng tháng hàng năm tự nhiên sẽ thành tựu. Nên nói: “Học để tu tập, hỏi để biện minh”[8]. Câu nói này có nghĩa là, nếu học mà không biện vấn thì không do đâu mà phát minh. Đời nay ít có những người học thường nêu ra câu hỏi để vấn biện với người như vậy không biết đem cái gì để giúp ích cho tính địa[9], trở thành cái lợi ích đổi mới mỗi ngày vậy ư !” Cửu Phong Tập[10]. [8] Học để tu tập. Văn lấy ở quẻ Càn trong Kinh Dịch : “Người quân tử học để tu tập, hỏi để biện minh”. [9] Tính địa. Viết tắt ở chữ bản tính tâm địa. [10] Cửu Phong Tập. Tập này của Thiều Công soạn (nhưng không phải là định thuyết).
Ðề: Tu nhân tích đức 3. - Ngài Minh Giáo nói: “Thái Sử Công[11] đọc sách Mạnh Tử tới chỗ Lương Huệ Vương hỏi thầy Mạnh Tử[12], đem gì để lợi cho nước tôi, bất giác để sách xuống mà thở dài. Than ôi! Lợi là cái mầm mống của loạn, nên Phu Tử[13] ngài ít nói đến lợi, để đề phòng cái gốc. Vì gốc là mầm mống phát sinh. Người tôn quý kẻ bần tiện, đối với cái tệ hiếu lợi thì đều giống nhau. Ôi! Người ở chỗ công, nếu lấy lợi không công bằng, thời làm rối loạn pháp luật, kẻ ở chỗ riêng, nếu lấy lợi bằng cách lừa bịp, thời làm rối loạn sự việc. Sự việc rối loạn thời nhân sự bất bình, pháp luật rối loạn thời nhân dân chẳng phục. Gây ra mối hoạ xung đột rồi cùng nhau đấu tranh, chẳng đoái hoài đến cảnh chết chóc cũng vì thế mà phát sinh. Đó chẳng phải cũng vì lợi mà trở thành cái mầm mống rối loạn đấy vậy ư? Như các bậc thánh hiền xưa kia thì lại cảnh giới, bỏ cái lợi để dối trá lẫn nhau, làm tổn thương đến phong tục, bại hoại đến thanh giáo không có giới hạn, lại còn công nhiên noi theo con đường tranh danh đoạt lợi để đi, mà muốn phong tục tốt trong thiên hạ không phai không mờ há lại được vậy ư!” Đàm Tân Tập. [11] Thái Sử Công. Tên chức quan, chỉ vào Tư Mã Đàm là con của Thái Sử Hỷ. [12] Mạnh Tử. Người đất Nghiệp thời đại Chiến Quốc tên là Kha, tên chữ là Tử Dư, môn đệ của Tử Tư, tường thuật ý của Trọng Ni, làm ra sách Mạnh Tử gồm 7 thiên đời sau được tôn là Á Thánh, nghĩa là giỏi gần bằng đức Khổng Tử. [13] Phu Tử. Chỉ vào Ngài Khổng Tử người nước Lỗ thời Chiến Quốc (nhà Chu). Sanh ngày 27 tháng 8 năm thứ 21 đời Chu Linh Vương, mất năm thứ 40 đời Chu Kinh Vương (B.C. 551 - 479) tên là Khưu tên chữ là Trọng Ni, là ông tổ của Nho giáo, làm đến chức quan Đại Tư Khấu ở nước Lỗ, vì bất đắc chí bèn đi chu du các nước trong mười ba năm, nhưng vẫn không đắc dụng, tới năm 68 tuổi Ông lại trở về nước Lỗ, soạn lại Kinh Thi, Kinh Thư, định lại Kinh Lễ, Kinh Nhạc phê bình Kinh Dịch, làm ra Kinh Xuân Thu, học trò có đến ba ngàn người, đời sau được tôn xưng là “Chí Thánh Tiên Sư”.
Ðề: Tu nhân tích đức THIỀN LÂM BẢO HUẤN Phục vụ bachip đọc trực tuyến nè. http://www.quangduc.com/Thien/58thienlambh.html
Ðề: Tu nhân tích đức 4.- Ngài Minh Giáo nói: “Phàm con người làm điều ác, có điều ác hữu hình, có điều ác vô hình. Phần ác vô hình là việc hại người, phần ác hữu hình là việc giết người. Cái ác giết người thì nhỏ, cái ác hại người thì lớn. Sở dĩ trong tiệc yến ẩm có chất độc của loài chim Chậm[14], trong chỗ cười đùa có ẩn chứa các loài giáo mác, trong nhà sâu kín có loài hổ báo, trong ngõ hẻm bên có rợ Nhung, Địch[15]. Nếu tự mình không phải là Thánh hiền, không tận diệt khi nó hãy chưa manh nha, không phòng ngừa bằng lễ, pháp[16], thời cái hại đó không thể lường được”. Tây Hồ Quảng Ký. [14] Chim Chậm. Hình thù giống chim ưng lớn như chim thứu, màu tía và xanh lợt, cổ dài bảy tám tấc, là loài chim rất độc, nếu đem cánh nó khuấy rượu uống thì chết ngay. [15] Rợ Nhung, Địch. Ngày xưa người Trung Hoa gọi những người chưa khai hoá ở phương Tây là rợ Nhung, gọi những người dã man ở phương Bắc là Địch. [16] Lễ, Pháp. Gọi tắt ở chữ lễ nghĩa giáo pháp.
Ðề: Tu nhân tích đức 5.- Ngài Minh Giáo nói: “Đại Giác Liên Hoà Thượng[17] khi ở chùa Dục Vương. Nhân có hai ông Tăng tranh cãi nhau về phần thí lợi[18] vị chủ sự[19] không hay quyết đoán được. Đại Giác Hoà Thượng liền gọi đến mắng rằng: “Trước ông Bao Công làm tài phán[20] ở đất khai phong, có người dân tự đến trình bày: “Có người đem số bạc 100 lạng gởi tôi rồi mất, nay tôi đem số bạc đó trả lại cho người con của ông ta, nhưng người đó không chịu nhận, vậy mong ông cho gọi người đó về để trả lại hộ”. Ông rất kinh dị, liền cho gọi người con đó nói rõ sự việc, nhưng người đó cố từ và nói: “Ngày còn sinh thời, cha tôi không hề có bạc riêng để gởi người khác”. Hai người cố nhường nhau mãi, ông bất đắc dĩ phải đem số bạc cúng vào chùa, làm việc phúc thiện để truy tiến cho người mất”. Ta mục kích thấy việc đó. Kìa như, trong chốn trần lao[21], cũng còn hay khinh tài trọng nghĩa như vậy, huống hồ các người là đệ tử Phật lại chẳng biết liêm sĩ hay sao? Hoà Thượng liền y pháp của Tùng lâm đuổi hai vị Tăng ra khỏi chùa”. Tây Hồ Quảng Ký. [17] Đại Giác Liên Hoà Thượng. Đại Giác Liên Hoà Thượng trụ trì chùa Dục Vương thuộc Minh Châu, pháp tự của ngài Hoài Trừng đời Thanh Nguyên thứ 14. [18] Thí lợi. Của bố thí. Hàng Tăng thì đem pháp của Đức Phật giảng cho người nghe gọi là pháp thí, trái lại các tín đồ đem đồ vật của cải cúng dường chư Tăng gọi là tài thí, nên gọi là thí lợi. [19] Chủ sự. Vị Duy Na trong chốn tùng lâm. [20] Bao Công làm tài phán. Bao công, tên chữ là Hy Nhân làm quan đến chức Ngự sử. Thiên tính nghiêm khắc, có người dân là Lý Giác An sinh con còn nhỏ dại, nhân bị bệnh bèn đem một trăm lạng bạc gửi Trương Huệ Minh rồi Giác An mất. Sau Hụê Minh đem bạc ra trả lại người con của Giác An, nhưng người con không chịu nhận. Một bên bảo vì của gửi nên trả lại. Một bên bảo cha không có của để gửi nên không nhận. Tài phán. Toà án xét hỏi và phán quyết. [21] Trần lao. Người tại gia. Kinh Lăng Nghiêm nói : “Ô nhiễm gọi là trần, phiền não làm rối loạn gọi là lao”.