Thông tin: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

Thảo luận trong 'Dinh dưỡng' bởi medshopvn, 19/9/2012.

  1. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Vitamin - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin: chức năng và nguồn cung cấp

    Vì vitamin là những chất dinh dưỡng vi lượng nên chúng ta chỉ cần những lượng nhỏ. Thông thường, cơ thể không thể tự tổng hợp vitamin, vì vậy, bạn cần lấy chúng từ thức ăn hàng ngày hoặc viên uống bổ sung. Vitamin có thể được tổng hợp bởi một số vi khuẩn, men, mốc, tảo và một số loại thực vật khác.

    Một số loại vitamin như vitamin B5 có thể được tổng hợp bởi vi khuẩn trong ruột già trong cơ thể người. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa rõ liệu những loại vitamin này có thể hấp thụ tại đây hay không. Cơ thể cần vitamin phục vụ cho rất nhiều quá trình sinh học, bao gồm, sự tăng trưởng nhờ vitamin B6, sự lanh lợi về thần kinh nhờ colin, niaxin; sức đề kháng đối với các bệnh truyền nhiễm nhờ vitamin C và vitamin E.

    Vitamin là chất xúc tác cho các phản ứng hóa học, đồng thời là tiền chất tạo nên một số yếu tố quan trọng của cơ thể, giúp cơ thể sử dụng hidrat cacbon, mỡ và các chất đạm.

    Bản thân vitamin không thể cung cấp năng lượng cho cơ thể. Vitamin tự nhiên được tìm thấy trong các cơ thể sống như thực vật, động vật, và các thức ăn hữu cơ. Ngoài ra, cũng có nhiều vitamin được tổng hợp nhân tạo.

    Vitamin tồn tại trong những nguồn thức ăn khác nhau với những liều lượng khác nhau như: men, cám bột mì, trứng chín cung cấp biotin, hoa quả họ cam và sữa cung cấp vitamin C, rau lá xanh và cây họ đậu cung cấp axit folic.

    Phân loại vitamin

    Vitamin được phân loại dựa trên tính tan, bao gồm hai loại chính là vitamin tan trong nước và vitamin tan trong mỡ.

    Các loại vitamin tan trong nước gồm có:

    Vitamin C (axit xitric)

    Vitamin B1 (thiamine)

    Vitamin B2 (Riboflavin)

    Vitamin B3 (niacin, niacinamide)

    Vitamin B5 (pantothenic acid)

    Vitamin B9 (folic acid)

    Vitamin B6 (pyridoxine)

    Vitamin B12 (cobalamin)

    Biotin


    Cơ thể không thể dự trữ các vitamin tan trong nước dù chỉ là một lượng nhỏ. Lượng thừa được thải qua nước tiểu, vì thế cần phải bổ sung thích hợp qua thức ăn, nhưng đồng thời, việc bổ sung các loại vitamin này dù là nhiều cũng vẫn an toàn vì chúng không tích tụ đến mức độc hại. Tuy nhiên, phải hết sức lưu ý vì vitamin và khoáng chất khi hấp thụ ở mức quá cao có thể có tác dụng phụ, thậm chí, có thể nguy hiểm đến tính mạng.

    Các loại vitamin tan trong mỡ bao gồm:

    Vitamin A

    Vitamin D

    Vitamin E

    Vitamin K

    Các vitamin này được dự trữ trong mỡ của cơ thể, chúng dễ dàng tích lũy đến mức độ độc hại, vì thế, hãy cẩn thận nếu bạn muốn bổ sung thêm.

    Theo disabledworld
    Medshop.vn dịch
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi medshopvn
    Đang tải...


  2. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin C

    Vitamin C còn có tên là axit ascobic. Với chức năng là một chất chống oxi hóa mạnh, vitamin C có khả năng chống lại quá trình oxi hóa độc hại của các tế bào. Trong khi vitamin E và các chất tiền vitamin A cũng là các chất chống oxi hóa thì vitamin C lại kết hợp cực kỳ hiệu quả với vitamin E trong quá trình này. Vitamin C cũng liên quan tới sự chắc khỏe của xương, răng, các loại hoocmon, chất tạo keo, và mạch máu của cơ thể. Vitamin này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ các chất như sắt, canxi, foloxin, và giúp chống lại bệnh đục nhân mắt, ung thư, và bệnh tim. Vitamin C cũng liên quan mật thiết đến tăng cường hệ thống miễn dịch và hàn gắn vết thương.

    Vitamin C có trong rất nhiều các loại hoa quả và rau xanh, bao gồm các quả thuộc họ cam quýt, ớt, cà chua, cây bông cải xanh, và các loại rau có nhiều lá màu xanh đậm. Khi bị cảm lạnh hay cảm cúm, rất nhiều người đã dùng viên ngậm chống ho như nguồn cung cấp vitamin C. Tuy vậy, loại đường trong các "liều thuốc" này lại thực sự làm giảm chức năng của hệ thống miễn dịch. Vì thế, viên bổ sung vitamin C theo lời khuyên của bác sỹ sẽ mang lại hiệu quả hơn rất nhiều. Có rất nhiều lý do khác khiến cho cơ thể chúng ta cần lượng vitamin C cao hơn, chẳng hạn như việc hút thuốc lá, tăng trưởng ở trẻ em và trẻ trong bụng mẹ, sử dụng thuốc như thuốc tránh thai đường miệng, và sự lo lắng, stress ở mức độ cao

    Vitamin C là vitamin tan trong nước, vì vậy các loại rau quả tươi và được đông đá là lựa chọn tốt nhất cho bạn. Việc đông lạnh hoa quả có ảnh hưởng rất ít đến vitamin C. Nấu ăn quá kĩ có thể làm giảm lượng vitamin C có trong thức ăn.

    Vitamin C giúp cơ thể hình thành và duy trì sự chắc khỏe của xương, răng, nướu, hồng huyết cầu, và các mạch máu; hàn gắn vết thương, vết thâm tím, chỗ xương gãy, và giúp chống lại các bệnh truyền nhiễm nhờ việc duy trì hệ thống miễn dịch khỏe mạnh. Vì cơ thể chúng ta không thể tích trữ được vitamin C nên việc ăn uống các loại thức ăn có hàm lượng cao vitamin này là thực sự cần thiết.

    Các nguồn cung cấp vitamin C tốt nhất là rau xanh và hoa quả. Các loại thức uống và hoa quả thuộc họ cam quýt như nước cam, bưởi, quýt, bí đao, cam, quả kiwi, dâu tây, bông cải xanh, các loại ớt ngọt đỏ, xanh, khoai tây không gọt vỏ, cà chua, cải bruxen, cải bắp và các loại rau nhiều lá xanh đậm khác.

    Các triệu chứng của thiếu vitamin C bao gồm sưng lợi, vết thương lâu lành, rối loạn dạ dày, khả năng miễn dịch với các bệnh truyền nhiễm và cảm lạnh giảm, và các vấn đề ở da.

    Theo disabledworld.com
     
    megiavan thích bài này.
  3. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin B1 - Thiamin

    Thiamin còn được gọi là vitamin B1. Vì thiamin là loại vitamin tan trong nước nên lượng dư thừa sẽ được thải ra ngoài cơ thể qua nước tiểu. Thiamin cần thiết giúp cơ thể khỏe mạnh. Nó có thể mất đi khi nấu ăn nếu ở nhiệt độ cao. Một chế độ ăn dựa trên Kim tự tháp dinh dưỡng mới (New Food Pyramid) nên cung cấp đủ thiamin mỗi ngày.

    Các loại thức ăn có chứa thiamin gồm các sản phẩm thịt (thịt lợn và gan), men để làm bia, đậu nành, đậu phộng, đậu sấy, hạt nguyên chất, và các loại bánh mì, ngũ cốc đã được bổ sung chất dinh dưỡng.

    Các triệu chứng cho biết bạn đang thiếu thiamin gồm có khó ngủ, đau ngực, bứt rứt, khó chịu trong bụng, táo bón, mệt mỏi, chán ăn và sụt cân, đau dạ dày và buồn nôn, dễ cáu gắt, trầm cảm, và suy giảm trí nhớ.

    Theo disabledworld.com
     
  4. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin B2 - Riboflavin

    Riboflavin còn được gọi là vitamin B2. Các sản phẩm sữa cung cấp một nửa lượng riboflavin chúng ta cần, và không giống các loại vitamin khác, riboflavin không bị phân hủy khi nấu ăn. Những người ăn chay rất có thể bị thiếu riboflavin.

    Trẻ em thiếu riboflavin có thể chậm phát triển. Uống bổ sung vitamin có thể xoay chuyển tình hình trong vòng vài ngày cho đến vài tuần.

    Các loại thức ăn cung cấp riboflavin gồm có sữa và các sản phẩm từ sữa, thịt và trứng, rau xanh rậm lá và có màu xanh đậm, các loại bánh mì và ngũ cốc nguyên vỏ hoặc đã được bổ sung vi chất, các cơ quan nội tạng như gan, thận, và tim.

    Các triệu chứng của thiếu riboflavin bao gồm da khô và có vảy, xuất hiện các vết rạn ở góc miệng, rối loạn thị lực, phồng lưỡi và lợi.

    Theo disabledworld.com
     
  5. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin B3 - Niaxin

    Niaxin là một trong tám loại của nhóm vitamin B gồm vitamin B1, B2, B6, B12, folate, biotin, và axit pantothenic. Niaxin kết hợp với vitamin B1, B2, B6, axit pantothenic, và biotin để chuyển hóa cacbon hidrorat, các chất béo, và protein từ thức ăn thành năng lượng. Nếu không có niaxin, cơ thể không thể tổng hợp năng lượng từ thức ăn được. Niaxin đã được sử dụng thành công để chữa trị cho những người có hàm lượng cholesterol cao.

    Niaxin có nhiều trong các sản phẩm ngũ cốc đã chế biến và bổ sung chất dinh dưỡng, thực vật họ đậu như đâụ Hà Lan và đậu đỏ, thịt gia cầm, cá, bơ đậu phộng, thịt và thịt nội tạng.

    Thiếu niaxin gây ra các triệu chứng sau: suy nhược cơ thể, chán ăn, các bệnh về tiêu hóa, mất ngủ, tổn thương da và dạ dày, tiêu chảy, mất trí, đau đầu, khó chiụ, lưỡi bị đau, sưng, và có màu đỏ thẫm.

    Theo disabledworld.com
     
  6. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin B5 - Axit pantothenic

    Axit pantothenic và biotin là các vitamin tan trong nước. Chúng chỉ là hai trong tám loại thuộc nhóm vitamin B bao gồm vitamin B1, niaxin, B6, B12, folate, biotin, và axit pantothenic. Axit pantothenic rất cần để tạo cholesterol, mật, một vài loại chất béo, hồng huyết cầu, hooc môn và các dây điều hòa thần kinh.

    Nguồn cung cấp axit pantothenic gồm có lòng đỏ trứng, thịt, nội tạng, gia cầm, cá, các sản phẩm sữa, ngũ cốc nguyên hạt, cây bông cải xanh, xúp lơ, và thực vật họ đậu.

    Thiếu axit pantothenic gây chán ăn, buồn nôn, trầm cảm, đau nhức cơ bắp, mệt mỏi, và rụng tóc.

    Theo disabledworld.com
     
  7. bongnamlun

    bongnamlun Bắt đầu nổi tiếng

    Tham gia:
    26/10/2011
    Bài viết:
    3,054
    Đã được thích:
    593
    Điểm thành tích:
    773
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Bác có cách sử dụng vitamin không ạ> Em băn khoăn về việc dùng vitamin cho con vào lúc nào (trước, trong hoặc sau bữa ăn ạ). Thannks!
     
  8. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin B6

    Vitamin B6 là vitamin tan trong nước, thuộc nhóm vitamin B. Vitamin B6 giúp cơ thể sản xuất protein, kháng thể, và các hồng huyết cầu.

    Trên thực tế có tám loại vitamin trong nhóm vitamin B tổng hợp, đó là thiamin (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2), niaxin, vitamin B6, folate, vitamin B12, biotin, và pantothenic. Các vitamin nhóm B giúp tăng cường năng lượng cho cơ thể, điều hòa các quá trình chuyển hóa, và giúp hình thành các hồng huyết cầu mới.

    Các loại thức ăn chứa nhiều vitamin B gồm có thịt, cá, gan, những loại rau màu xanh thẫm, nhóm hạt nguyên chất, và các sản phẩm chế biến sẵn đã được bổ sung vi chất. Tuy vậy, cũng giống vitamin A, vitamin B có thể khó có đủ. Trớ trêu thay, cuộc sống bận rộn làm cho con người ít có thời gian để chế biến và ăn các loại thức ăn này. Những người bị stress nặng lại càng cần có khả năng sản xuất năng lượng của vitamin B nhiều hơn bao giờ hết. Vì chế độ ăn uống có ít các sản phẩm từ súc vật, nên những người ăn kiêng cũng có nguy cơ thiếu rất cao những vitamin này. Mặc dù có thể tìm thấy các loại vitamin B riêng biệt, nhưng vitamin B tổng hợp giúp duy trì tỉ lệ an toàn trong tám loại vitamin B khác nhau dễ dàng hơn.

    Các thức ăn chứa nhiều vitamin B6 gồm có thịt, cá, hạt nguyên chất, đậu Hà lan, đậu đỏ, quả hạch, trứng, các loại bánh mì và ngũ cốc đã được bổ sung vi chất.

    Người bị thiếu vitamin B6 có thể bị mệt mỏi, hoa mắt, co giật, đau miệng, buồn nôn, và thường xuyên có cảm giác bồn chồn bực dọc.

    Theo disabledworld.com
     
  9. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Axit Folic

    Folaxin còn được gọi là axit folic và folate. Đây là vitamin tan trong nước và là một trong tám loại của nhóm vitamin B bao gồm vitamin B1, B2, B3, B12, biotin, và axit pantothenic. Các sản phẩm ngũ cốc bổ sung vi chất như bánh mì, ngũ cốc, và mì sợi đang được bày bán rộng rãi là những nguồn cung cấp folaxin phong phú.

    Folate giúp chống lại khuyết tật của ống thần kinh (spina bifida) trong bào thai và có liên quan đến sự hình thành các chất dẫn truyền thần kinh, như serotonin, giúp điều hòa tâm thần, giấc ngủ, và cảm giác ăn ngon. Có nhiều bằng chứng cho rằng khi được cùng với các chất dinh dưỡng trong rau quả, và các loại thức ăn khác, folate có vai trò giúp chống lại một số loại ung thư.

    Các loại thức ăn chứa nhiều folaxin gồm có trái cây họ cam, quýt, đậu đỏ, đậu Hà Lan, gan, bánh mì lên men, mầm lúa mì, đậu phộng và các thực vật họ đậu khác, rau bina và các loại rau lá thẫm khác, và thịt cơ quan nội tạng súc vật.
    Theo disabledworld.com
     
  10. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin B12

    Vitamin B12 thuộc loại vitamin tan trong nước và là một thành viên trong nhóm vitamin B. Nhóm này bao gồm vitamin B1, B2, B6, axit pantothenic, axit folic, niaxin, biotin, cobalamin hay còn gọi là vitamin B12.

    Vitamin B12 giúp cơ thể tạo hồng huyết cầu, bảo vệ hệ thần kinh, tiêu hóa và sử dụng chất béo, cacbon hidrat, và một vài loại protein khác để tạo thành năng lượng và hình thành các chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ. Tiêm bổ sung vitamin B12 có thể chữa khỏi bệnh thiếu máu. Những người ăn kiêng và con cái của họ, hay người cao tuổi đều có nguy cơ thiếu vitamin B12. Vitamin này có nhiều trong thức ăn có nguồn gốc từ động vật, các thức ăn chế biến đã được bổ sung vi chất, và một vài loại thức ăn đã được lên men như trứng, thịt, thịt gia cầm, cá, các sản phẩm từ sữa, và đậu nành.

    Thiếu vitamin B12 có thể gây ra thiếu máu, mệt mỏi, làm cho da bạn cực kì nhạy cảm, ngoài ra, còn gây tổn hại đến thần kinh như gây ra chứng đau nhói dây thần kinh, tê cóng ở các cơ, và chứng tê liệt thần kinh.

    Theo disabledworld.com
     
  11. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Biotin

    Nhóm vitamin B gồm có vitamin B1, niaxin, vitamin B6, B12, folate, biotin, và axit pantothenic. Biotin giúp cơ thể chuyển hóa protein, mỡ, và cacbon hidrat từ thức ăn thành năng lượng, sản xuất năng lượng trong tế bào.

    Nguồn cung cấp biotin là các sản phẩm thịt và gan, sữa, men, ngũ cốc, đậu nành, đậu phộng, và lòng đỏ trứng.

    Các triệu chứng cho thấy cơ thể bị thiếu biotin là đau nhức cơ bắp, mệt mỏi, rụng tóc, chán ăn, buồn nôn, và suy nhược cơ thể.

    Theo disabledworld.com
     
  12. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin A

    Vitamin A giúp giữ cho răng, mô, màng, và làn da khỏe mạnh. Vì trực tiếp tham gia vào việc sản xuất sắc tố võng mạc, nên vitamin A cực kỳ quan trọng cho thị lực, đặc biệt là trong điều kiện thiếu ánh sáng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vitamin A còn rất quan trọng với những phụ nữ đang trong thời kì cho con bú.

    Vì vitamin A có trong các loại thức ăn có nhiều cholesterol và mỡ bão hòa nên nhiều người vô tình tránh vitamin A, vì thế gây ra thiếu vitamin này. Các loại thức ăn này bao gồm thịt, trứng, pho mát, và kem. Cơ thể sử dụng rau quả để tổng hợp được vitamin A từ beta-carotene. Cà rốt, khoai lang, dưa ruột vàng, cây bông cải xanh, và nhiều loại rau lá xanh khác như rau bina cũng là những nguồn cung cấp vitamin A phong phú. (Thông thường màu đậm hơn thì hàm lượng beta-carotene sẽ cao hơn).

    Vitamin A là vitamin tan trong dầu, giúp cơ thể phát triển và duy trì sự tăng trưởng trong tế bào và hầu hết các bộ phận của cơ thể. Vitamin A được vận chuyển trong cơ thể nhờ mỡ, nó đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch khi giúp cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm.

    Hãy ăn nhiều loại hoa quả, rau xanh, thịt nạc, và các sản phẩm từ sữa đã được bổ sung vi chất để đảm bảo nguồn cung cấp vitamin A tối ưu nhất. Vitamin A còn có thể có trong thịt súc vật, dạng vitamin A này gọi là retinal hay retinol, và có thể có trong các loại thức ăn như trứng, sữa đã được bổ sung vi chất, gan, và dầu của một vài loại cá.

    Một dạng khác của vitamin A là carotenoids. Carotenoids là các sắc tố trong các loại rau quả có màu cam, đỏ, và vàng, đặc biệt là trong các loài rau ăn lá xanh đậm như cà rốt, cây bông cải xanh, rau bina, bí ngô và các loại bí khác, khoai lang, và dưa ruột vàng.

    Thiếu vitamin A có thể làm da bạn xù xì, khô và có mụn. Ngoài ra thiếu vitamin A còn gây ra các vấn đề tiêu hóa, hệ miễn dịch bị suy giảm, các vấn đề về sinh sản, tăng trưởng chậm, mọc răng kém, quáng gà, và các bệnh về mắt khác.
    Hậu quả của thiếu Vitamin A

    Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến những hậu quả của việc thiếu vitamin A, bao gồm những nhóm người có nguy cơ, các triệu chứng, cách điều trị, và kèm theo là danh sách các loại thức ăn có chứa nhiều vitamin A và beta-carotene.

    Sự thiếu hụt vitamin A xảy ra khi chúng ta không cung cấp đủ lượng vitamin A hay beta-carotene cần thiết. Có rất nhiều dấu hiệu nổi bật cho thấy bạn đang thiếu vitamin A. Những dấu hiệu ban đầu dễ thấy là tóc bị khô, hay móng chân tay thường xuyên bị gãy. Khả năng đề kháng thấp đối với các bệnh truyền nhiễm, hoặc thị lực kém vào ban đêm và ở những nơi thiếu ánh sáng cũng là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị thiếu vitamin này. Thiếu vitamin A kéo dài mà không điều trị có thể gây mù lòa hoàn toàn.

    Một vài nhóm người có nguy cơ thiếu vitamin A cao, đặc biệt là những người mắc các vấn đề về tuyến tụy hay bệnh xơ nang. Những người nghiện rượu cũng dễ thiếu vitamin này vì rượu làm cho cơ thể không thể sử dụng vitamin A một cách hiệu quả. Trẻ nhỏ và thiếu niên có điều kiện sống nghèo nàn và không có đủ chất dinh dưỡng cần thiết cũng rất dễ thiếu vitamin A.

    Vitamin A giữ hai chức năng chính với cơ thể con người. Thứ nhất, vitamin này là một thành phần của mắt, giúp nâng cao thị lực trong bóng tối và những nơi điều kiện ánh sáng không tốt. Thứ hai, vitamin A giúp điều chỉnh sự phát triển của các mô trong cơ thể, như tế bào da và các tế bào lót phổi.

    Nguồn cung cấp vitamin A và beta-carotene phong phú nhất có thể tìm thấy trong hầu hết các loại thức ăn hàng ngày. Bất kỳ loại thức ăn nào chứa beta-carotene cũng tốt như chứa vitamin A vì beta-carotene được chuyển hóa sang vitamin A gần như ngay tức khắc trong cơ thể. Trên thực tế, beta-carotene hoàn toàn có thể được sử dụng như một nguồn cung cấp vitamin A.

    Trứng, sữa, bơ, cá và gan là những nguồn cung cấp vitamin A tốt, còn cà rốt, rau bina, khoai lang giúp là những thực phẩm giúp bổ sung beta-carotene.

    Nếu được phát hiện kịp thời thì thiếu vitamin A có thể điều trị rất hiệu quả. Tiêm hoặc uống viên bổ sung đều được sử dụng để khắc phục tình trạng này; và một khi đã được điều trị, khả năng phục hồi thị lực trong bóng tối sẽ tăng lên rất nhiều. Tuy vậy, nếu bị mù lòa hoàn toàn sẽ không thể khắc phục được nhờ ăn uống và liệu pháp sử dụng vitamin A. Tương tự, các tế bào chết do thiếu vitamin này cũng không thể điều trị và chữa khỏi được.

    Phòng tránh luôn là cách tốt nhất làm giảm khả năng thiếu vitamin A. Bằng việc ăn các loại thức ăn giàu vitamin A và beta-carotene, bạn đã giúp mình loại trừ được hầu hết các khả năng thiếu vitamin này. Thêm vào đó, da, tóc, móng tay chân trông sẽ tuyệt hơn nhiều. Nếu không thật sự tin tưởng vào những lời khuyên ăn uống dưới đây, bạn có thể dùng viên uống bổ sung để cung cấp lượng vitamin A cần thiết. Và, hãy luôn nhớ rằng, giảm uống rượu cũng là cách rất tốt vì rượu có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng sử dụng vitamin A của cơ thể con người.

    Dưới đây là biểu đồ dinh dưỡng cho biết lượng vitamin A bạn nên cung cấp cho cơ thể mỗi ngày. Thông qua bảng này bạn sẽ biết mình đã cung cấp đủ chưa và nên bổ sung thêm bao nhiêu.

    1. Trẻ sơ sinh ≤ 1 tuổi: 375 mcg

    2. Trẻ từ 1 đến 3 tuổi: 400 mcg

    3. Trẻ từ 4 đến 6 tuổi: 500mcg

    4. Trẻ từ 7 đến 10 tuổi: 700 mcg

    4. Nam giới trên 10 tuổi: 1000 mcg

    5. Nữ giới trên 10 tuổi: 800 mcg

    Theo essortment.com
     
  13. thanhhhoa2605

    thanhhhoa2605

    Tham gia:
    19/4/2012
    Bài viết:
    11,674
    Đã được thích:
    1,826
    Điểm thành tích:
    863
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    mục này hay quá đánh dấu để tham khảo
     
  14. megiavan

    megiavan Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    24/11/2011
    Bài viết:
    456
    Đã được thích:
    115
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    toàn thông tin hữu ích, cám ơn bác chủ top nhiều nhiều nhé :)
     
  15. Sanh

    Sanh Thành viên tập sự

    Tham gia:
    24/9/2012
    Bài viết:
    12
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    bài viết hay quá .
     
  16. Bo Cu Bo

    Bo Cu Bo Tớ là mẹ Bo nhé

    Tham gia:
    26/1/2010
    Bài viết:
    7,603
    Đã được thích:
    1,279
    Điểm thành tích:
    863
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Thông tin rất hữu ích. Cám ơn chủ top nhé
     
  17. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin D

    Vitamin D có thể được tổng hợp ngay trong cơ thể hoặc thông qua chế độ ăn uống của chúng ta nữa. Cơ thể có thể tạo ra vitamin D từ ánh nắng mặt trời, hoặc thông qua tiếp xúc da với tia tử ngoại. Mỗi tuần bạn chỉ cần dành ra 3 lần tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong khoảng 10 đến 20 phút là đã giúp bổ sung đầy đủ lượng vitamin D cần thiết cho cơ thể. Vitamin D giúp xương và răng trở nên chắc khỏe hơn, vì thế, nếu một người không cung cấp đầy đủ vitamin D và canxi cho cơ thể sẽ rất dễ mắc phải chứng loãng xương.

    Vitamin D được cơ thể chuyển thành hoocmon steroid, nó có quan hệ mật thiết với hoạt động của gen. Đây là loại vitamin ảnh hưởng lớn đến số lượng canxi cơ thể thu nhận, rất cần thiết cho độ đặc của xương, và giúp chống lại chứng loãng xương. Ngày càng có nhiều các nghiên cứu chỉ ra rằng vitamin D giữ vai trò quan trọng trong việc chống lại các loại bệnh như ung thư ruột kết, ung thư vú, và ung thư tuyến tiền liệt.

    Trong khi các loại thức ăn như cá hồi, cá mòi, cá thu, và các sản phẩm bổ sung có chứa vitamin D, thì cơ thể có thể tạo ra phần lớn vitamin này nhờ ánh nắng mặt trời hấp thụ vào cơ thể qua da. Việc này gây bất lợi cho rất nhiều người, đặc biệt là người già thường xuyên ở trong nhà, và những người có da đậm màu vì thường mất nhiều thời gian để hấp thụ ánh nắng mặt trời. Vì vitamin D được cho là rất thiết yếu đối với việc hình thành xương ở trẻ nhỏ, khoa học đã chỉ ra rằng một số lượng lớn trẻ em đã bị thiếu hụt loại vitamin này. Tuy vậy, những người không thuộc nhóm các đối tượng này cũng không nên chủ quan, vì rất có khả năng chúng ta bị thiếu loại vitamin này mà không hề biết. Do vậy, bạn nên đến gặp bác sỹ để được tư vấn thêm. Việc xét nghiệm máu có thể cho biết bạn có bị thiếu vitamin này hay không.

    Vitamin D có trong phomat, bơ, bơ thực vật, kem, sữa đậu nành, trứng, gan, cá (cá hồi, cá mòi), dầu gan cá tuyết, các loại ngũ cốc bổ sung vi chất...

    Vitamin D và những điều khiến bạn ngạc nhiên

    Vitamin D là một trong những vitamin kém hấp dẫn hơn. Nó còn được gọi là vitamin của ánh nắng mặt trời, vì khi tiếp xúc với các tia tử ngoại trong ánh sáng mặt trời, da sẽ tổng hợp vitamin D. Không ngạc nhiên gì, kem chống nắng sẽ cản trở quá trình tổng hợp vitamin này. Nguồn cung cấp khác của loại vitamin quan trọng này là trong số ít các loại thức ăn.

    Vai trò chính của vitamin D là giúp làm đẩy mạnh quá trình hấp thụ canxi trong ruột. Canxi là sinh tố đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của xương. Trẻ em không được cung cấp vitamin D đầy đủ sẽ bị bệnh rối loạn các xương mềm, gọi là bệnh còi xương, bệnh này làm cong chân, và gây ra các vấn đề răng miệng. Người trưởng thành nếu bị thiếu vitamin D có thể có hàm lượng canxi trong máu thấp, gây ra chứng loãng xương, đồng thời có thể bị chứng nhuyễn xương (các xương bị làm mềm ra).

    Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng vitamin D phục vụ cho rất nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể.

    Một số nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, thiếu vitamin D góp phần gây ra chứng trầm cảm mùa đông, một kiểu trầm cảm xảy ra vào mùa đông khi có ít ánh nắng mặt trời. Ngoài ra, vitamin này được tìm thấy rất ít ở những người mắc bệnh mất trí (Alzheimer's). Thêm vào đó, một vài nhà nghiên cứu còn tin rằng thiếu loại vitamin này có thể làm mất đi sự rắn chắc của cơ bắp, và gây ra chứng hay vấp ngã ở người cao tuổi.

    Các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra sự liên quan giữa thiếu vitamin D ở phụ nữ mang thai với chứng tiền sản giật (nhiễm độc huyết thai nghén).

    Vitamin D cũng được cho là có tác dụng giúp phổi hoạt động, và làm chậm lại quá trình thoái hóa võng mạc (một bệnh về mắt thường gặp nhưng rất nguy hiểm)

    Nghiên cứu còn chỉ ra rằng vtamin D giúp tăng cường hệ miễn dịch và làm giảm nguy cơ mắc một số bệnh ung thư. Chẳng hạn như, vitamin D có thể giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm lại các bệnh ung thư ruột kết, ung thư vú, và ung thư buồng trứng. Một nghiên cứu cho biết rằng một lượng 1000 IU vitamin D mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ mắc ung thư ruột kết đến 50%, trong khi đó, một nghiên cứu khác cũng phát hiện tỉ lệ giảm tương tự đối với ung thư tụy ở những người có bổ sung vitamin D. Dù kết quả những nghiên cứu này vẫn chưa thuyết phục và còn cần xác minh, nhưng chúng cũng cho thấy tầm quan trọng của vitamin D trong việc phòng ngừa ung thư.

    Cho đến gần đây thì lượng vitamin D được khuyên dùng hằng ngày vẫn là 400 IU. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng liều lượng như thế là quá ít, và đề nghị nên dùng 1000 IU mỗi ngày.

    Vitamin D được tìm thấy trong sữa bổ sung vitamin D, các viên vitamin tổng hợp, và các viên bổ sung canxi. Sữa chua, bơ thực vật, dầu ăn, bánh mì và ngũ cốc cho bữa sáng cũng có thể tăng cường vitamin D. Các loại cá nhiều dầu như cá hồi, cá ngừ, và cá mòi là các nguồn cung cấp vitamin D rất phong phú.

    Vitamin D mà chúng ta lấy vào cơ thể từ thuốc uống bổ sung và thức ăn là loại vitamin dưới dạng không hoạt động, cần phải được hoạt hóa trong thận. Vì thế, những người bị bệnh thận phải thường xuyên dùng thuốc có vitamin D đã được hoạt hóa để phòng ngừa các bệnh về xương và các bệnh liên quan đến thiếu canxi trong máu khác.

    Một vài chuyên gia đã cảnh báo về vitamin D. Trong khi có nhiều tranh luận về liều lượng vitamin D có thể gây hại, hầu hết các cơ quan chức năng đều cho rằng dùng 2000 IU mỗi ngày vẫn an toàn.

    Chỉ có bạn và bác sĩ của mình mới có thể quyết định phương pháp điều trị thích hợp nhất cho bạn mà thôi.

    Có phải vitamin D làm giảm nguy cơ ngã ở người cao tuổi?

    Dưới đây là một số thông tin về vitamin D:

    - Đây là loại vitamin có trong rất ít các loại thức ăn, nhưng rất cần cho sự duy trì và phát triển bộ xương khỏe mạnh.

    - Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng viên bổ sung vitamin D giúp tăng cường thể lực và trạng thái cân bằng ở người cao tuổi

    - Vitamin này có dưới dạng viên bổ sung ở dạng đã kích hoạt - loại này thực sự mang lại hiệu quả, song cũng đắt hơn, và người dùng có thể mắc nguy cơ thừa canxi trong máu.

    Các nhà khoa học trường đại học y Zurich (Thụy Sỹ) đã phân tích số liệu thu thập từ 8 đề tài nghiên cứu trên gần 2,500 người từ 65 tuổi trở lên có dùng viên bổ sung vitamin D2, D3, và dạng vitamin D3 đã kích hoạt với mong muốn giảm nguy cơ bị ngã:

    Người dùng tối thiểu từ 700 đến 1,000 IU vitamin D giảm nguy cơ bị ngã 19%, và có độ tập trung của vitamin D trong máu tối thiểu ở mức 60 mmol/L giảm 23%. Dùng liều thấp hơn không mang lại hiệu quả. Những người dùng dạng đa kích hoạt của vitamin D giảm nguy cơ bị ngã 22%, tức là ngang bằng với hiệu quả của việc dùng viên bổ sung vitamin D đều đặn.

    Nghiên cứu ngày nay cho thấy rằng người cao tuổi có thể giảm nguy cơ vấp ngã bằng cách dùng viên bổ sung vitamin D liều cao, và không cần tốn nhiều tiền hơn khi dùng dạng vitamin D đã kích hoạt mới đạt được mong muốn đó.
     
  18. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin D: Những điều bạn cần biết

    Bởi Tiến sĩ, bác sĩ Frank Lipman

    Mỗi ngày trôi qua lại có thêm những thông tin gây chú ý về vitamin D. Cho dù ngay từ đầu nó đã được biết đến với vai trò thiết yếu trong việc duy trì lượng canxi cần thiết cho xương khỏe mạnh. Tầm quan trọng của vitamin D đối với sức khỏe cơ thể nói chung vẫn bị đánh giá thấp. Nhìn chung, dựa trên thực tế cuộc sống của tôi, và thông qua nói chuyện với đồng nghiệp của mình trên khắp đất nước, có vẻ như chúng ta đang đối mặt với sự thiếu hụt vitamin D trầm trọng, điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Những câu hỏi thường gặp về vitamin D dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ về vấn đề hơn.

    Các bệnh nào liên quan đến thiếu vitamin D?

    Thiếu vitamin D đã được chứng minh có liên quan đến hầu hết các bệnh nguy hiểm, bao gồm:

    • Chứng loãng xương và chứng mỏng xương

    • 17 loại ung thư (bao gồm ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, và ung thư ruột kết)

    • Bệnh tim

    • Huyết áp cao

    • Béo phì

    • Hội chứng chuyển hóa và bệnh tiểu đường

    • Chứng đa xơ cứng

    • Viêm khớp mãn tính

    • Viêm khớp xương mãn tính

    • Viêm bọc chất nhờn bursa

    • Bệnh gút

    • Vô sinh và Hội chứng tiền kinh

    • Bệnh Parkison

    • Trầm cảm và Chứng trầm cảm mùa đông

    • Bệnh Alzheimer

    • Hội chứng mệt mỏi mãn tính

    • Fibromyalgia

    • Đau mãn tính

    • Bệnh bao răng

    • Bệnh vẩy nến

    Vitamin D là gì?

    Mặc dù được gọi là vitamin, vitamin D thực chất là một hooc môn, bởi vì, trên thực tế, vitamin không thể được tổng hợp bởi cơ thể, chúng ta phải lấy chúng từ các nguồn bổ sung, trong khi các loại hooc môn như vitamin D lại được tổng hợp trong cơ thể. Nó là nguồn calcitrol (vitamin D đã hoạt hóa) duy nhất của cơ thể, loại hooc môn steroid có hiệu lực cao nhất trong cơ thể.

    Vitamin D có tác dụng gì?

    Giống như tất cả hooc môn steroid, vitamin D tham gia vào quá trình hình thành hàng trăm enzim và protein, thành phần quan trọng trong giữ gìn sức khỏe và phòng tránh bệnh tật. Nó có khả năng tương tác với và ảnh hưởng đến hơn 2,000 gen trong cơ thể. Ngoài ra, nó nâng cao sức mạnh cơ bắp, và hình thành xương. Hơn nữa, vitamin D có tác dụng chống viêm, và tăng cường hệ miễn dịch. Đồng thời, nó giúp đỡ hoạt động của insulin và tham gia vào việc chống ung thư. Đó là lí do tại sao sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến nhiều bệnh như vậy trong xã hội hiện đại ngày nay. Chính vì vitamin D có rất nhiều tác dụng như vậy nên việc duy trì lượng vitamin D tối ưu là thiết yếu đối với sức khỏe con người.

    Cơ thể lấy vitamin D từ đâu?

    Hai nguồn vitamin D tin cậy duy nhất là ánh nắng mặt trời và các viên uống bổ sung. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là cách tin cậy duy nhất cho cơ thể tổng hợp vitamin D. Vitamin D da tổng hợp sau khi tiếp xúc với tia cực tím từ ánh nắng mặt trời. Trên thực tế, hệ thống này rất hiệu quả vì hầu hết chúng ta có thể tổng hợp được khoảng 20,000 đơn vị vitamin D chỉ sau 20 phút tiếp xúc với ánh nắng mùa hè không có kem chống nắng (hay quần áo!) Đây là lượng cao gấp 100 lần so với lượng được khuyến cáo mỗi ngày! Chắc chắn phải có lí do thú vị giải thích tại sao chúng ta lại có thể tổng hợp được một lượng nhiều như vậy trong khoảng thời gian ngắn như thế.

    Bạn không thể tổng hợp vitamin D khi ngồi sau một cửa sổ kính, cho dù ngồi trong xe hay trong nhà vì những tia cực tím không thể xuyên qua kính để tổng hợp vitamin D trong da bạn. Tương tự như vậy, các vật tránh nắng, cho dù là loại mỏng, hầu hết phá vỡ khả năng tổng hợp vitamin D của cơ thể.

    Nguồn tin cậy khác là các viên uống bổ sung vitamin D3 (không phải vitamin D2)

    Chỉ khoảng 10% lượng vitamin D của bạn được lấy từ thức ăn, vì thế, để có được lượng vitamin D đầy đủ từ thức ăn là điều gần như không thể.

    Những nguồn thức ăn nào có chứa vitamin D?

    1. Dầu gan cá, chẳng hạn như dầu gan cá tuyết. Các loại cá hoang dã nhiều mỡ như cá thu, cá hồi, cá bơn halibut, cá ngừ, cá mòi, và cá trích
    2. Các loại nước cam, ngũ cốc và sữa đã được bổ sung chất dinh dưỡng
    3. Nấm Shitake khô
    4. Lòng đỏ trứng

    Nhưng để có được lượng vitamin D đầy đủ từ thức ăn, bạn phải ăn ít nhất 5 khẩu phần cá hồi mỗi ngày hoặc uống đến 20 cốc sữa đã được bổ sung chất dinh dưỡng.

    Bác sĩ khuyên tôi nên tránh ánh nắng mặt trời, bạn nghĩ sao?

    Một câu tục ngữ Ý đã nói "Chỗ mặt trời không đến được là của bác sĩ"

    Trong khoảng 25 năm vừa qua, các bác sĩ (cụ thể là bác sĩ chuyên khoa da liễu) đã hiểu sai về sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, vì thế không ngừng nói với chúng ta rằng nó có tác động xấu đến sức khỏe và gây ra ung thư. Nhưng điều đó liệu có đúng? Trong vài năm trở lại đây, có không ít các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ở mức độ vừa phải trên thực tế lại tốt cho cơ thể, giúp cơ thể tạo ra vitamin D cần thiết giúp duy trì xương khỏe mạnh và chống lại ung thư, trong đó có ung thư da. Mặc dù phơi nắng liên tục ở trẻ em và những người có nước da rất trắng có liên quan đến ung thư ác tính, hiện nay vẫn chưa có bằng chứng khoa học đáng tin cậy nào cho rằng đó là do việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ở mức độ thích hợp gây ra. Bởi vì, việc lấy đủ lượng vitamin D chỉ từ thức ăn (bao gồm sữa đã được bổ sung chất dinh dưỡng và cá hoang dã nhiều mỡ) là điều gần như không thể thực hiện được, ánh nắng mặt trời là nguồn tốt nhất. Tôi không khuyên các bạn phải tự nướng mình bằng ánh nắng mặt trời với kem chống nắng, hay phải đi thẩm mĩ viện tắm nắng. Nhưng sẽ thực sự có lợi cho sức khỏe nếu bạn tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà không để bị rám nắng.

    "Chúng ta tiến hóa dưới mặt trời, chúng ta được sinh ra để lấy ánh nắng mặt trời, chứ không phải để sống trong nhà hay trốn trong những vật che nắng mỗi lần ra ngoài. Vì thế, nếu hôm nay trời nắng, hãy ra ngoài và tận hưởng một phương pháp điều trị hoàn toàn của thiên nhiên! Tất cả những gì bạn cần làm là lưu ý một chút khi ra ngoài, làm nó từ từ thôi và luôn luôn tránh để bị rám nắng."

    Chú ý: Nhớ dùng thuốc chống oxi hóa khi ngồi dưới nắng, vì chúng có thể giúp bảo vệ các tế bào da khỏi hư tổn do mặt trời gây nên.

    Tôi cần bao nhiêu ánh nắng mặt trời?

    Tất cả các cơ thể sống đều cần ánh nắng mặt trời, điều quan trọng là phải có sự cân bằng. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời quá nhiều có thể gây ra ung thư ác tính và lão hóa da, trong khi đó, nếu tiếp xúc quá ít sẽ gây ra sản xuất vitamin D không đủ. Liều lượng bạn cần phụ thuộc vào các mùa trong năm, thời gian trong ngày, nơi bạn sống, màu da, và các yếu tố khác. Theo quy luật chung, nếu bạn không thiếu vitamin D thì tiếp xúc với ánh nắng mặt trời không có vật che nắng khoảng 20 phút một ngày vào mùa xuân, hè, và thu lên mặt, cánh tay, cẳng chân là đủ. Nên nhớ rằng, việc bộ phận nào của cơ thể tiếp xúc với ánh nắng mặt trời không gây ảnh hưởng gì. Nhiều người muốn bảo vệ khuôn mặt, vì thế, chỉ cần không dùng vật che nắng lên các bộ phận được tiếp xúc 20 phút là được.

    Nếu bạn sống ở khu vực 37 độ vĩ Bắc (tương ứng với một đường vẽ theo chiều ngang nối Norfolk, Virginia tới San Francisco, California), ánh nắng mặt trời không đủ để tạo ra vitamin D trên da vào mùa đông, cho dù bạn có ngồi dưới nắng trong bộ đồ bơi vào tháng hai ấm áp đi chăng nữa! Càng sống xa xích đạo càng cần tiếp xúc với ánh nắng mặt trời lâu hơn để tổng hợp đủ vitamin D.

    Tôi cần bao nhiêu vitamin D?

    Lượng vitamin D bạn cần phụ thuộc vào tuổi tác, cân nặng, lượng mỡ, vĩ đạo, màu da, các mùa trong năm, việc sử dụng các vật tránh nắng, sự khác nhau giữa mọi người về thời gian tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, và - có lẽ - còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của bạn nữa.

    Theo quy luật chung, người già cần nhiều hơn người trẻ tuổi, người to béo cần nhiều hơn người nhỏ, người béo cần nhiều hơn người gầy, người da sẫm màu cần nhiều hơn người da sáng, người phương Bắc cần nhiều hơn người phương Nam, mùa đông cần nhiều hơn mùa hè, người thích dùng vật che nắng cần nhiều hơn người không thích dùng, người sợ ánh nắng cần nhiều hơn người thích ánh nắng, và người ốm yếu cần nhiều hơn người khỏe mạnh.

    Điều tôi và các đồng nghiệp trên khắp đất nước phát hiện ra rằng thậm chí những người được cho rằng đã có đủ lượng thời gian dưới ánh nắng mặt trời vẫn có lượng vitamin D thấp. Tôi không chắc tại sao lại như vậy, nhưng giờ đây đã có một giải pháp dễ dàng và hợp túi tiền, đó là uống bổ sung vitamin D.

    Tôi nên uống bổ sung bao nhiêu vitamin D?

    Quan trọng nhất là bạn dùng vitamin D3, (cholecalciferol), dạng tích cực của vitamin D. Không dùng vitamin D2 vì nó không những không tích cực về mặt sinh học, mà còn không hiệu quả, và an toàn như vitamin D3. Thêm vào đó, việc dùng đúng liều lượng là rất quan trọng, hầu hết bác sĩ đều cho kê đơn dưới liều đúng. Các khuyến cáo hiện nay của Cơ quan Thực phẩm và Dinh Dưỡng của Viện Dược Phẩm Hoa Kỳ: từ 200 tới 600 IU/ngày phụ thuộc vào tuổi tác, là quá thấp. Các giá trị này được đưa ra ban đầu là do chúng được tìm thấy có tác dụng ngăn ngừa osteomalacia (chứng mỏng xương) và bệnh còi xương.

    Dưới đây là một vài gợi ý

    Nếu nồng độ máu của bạn cao hơn 45ng/ml và để duy trì, tôi khuyến cáo nên dùng 2,000-4,000 IU mỗi ngày tùy thuộc vào độ tuổi, cân nặng, mùa, thời gian ở ngoài trời, nơi sống, màu da, và tất nhiên là nồng độ máu.

    Nói cách khác, nếu bạn nhiều tuổi hơn, to hơn, sống ở phía Bắc vào mùa đông, không tiếp xúc với mặt trời, và có màu da tối, tôi khuyến cáo nên dùng liều cao hơn.

    Nếu nồng độ máu là 30-45 ng/ml, tôi khuyên mọi người nên khắc phục bằng việc dùng 5,000 IU vitamin D3 mỗi ngày trong vòng 3 tháng dưới sự giám sát của bác sĩ, sau đó, hãy kiểm tra lại nồng độ máu của mình.

    Nếu bạn có nồng độ thấp hơn 30 ng/ml, tôi khuyên bạn nên khắc phục tình trạng đó bằng cách dùng 10,000 IU vitamin D3 mỗi ngày dưới sự theo dõi của bác sĩ, và sau 3 tháng, hãy kiểm tra lại nồng độ máu của mình. Thông thường cần sáu tháng để tối ưu hóa lượng vitamin D nếu bạn bị thiếu. Sau sáu tháng, bạn có thể hạ thấp liều dùng tới liều dùng duy trì khoảng 2,000-4,000 IU mỗi ngày.

    Các triệu chứng của thiếu vitamin D là gì?


    Không có các triệu chứng rõ rệt của thiếu vitamin D. Trên thực tế, có nhiều người dù có nồng độ thấp vẫn không có triệu chứng cụ thể. Nhưng dưới đây là những triệu chứng thường gặp nhất:

    Mệt mỏi
    Đau và yếu cơ bắp nói chung
    Chuột rút cơ
    Đau khớp
    Đau mãn tính
    Tăng cân
    Huyết áp cao
    Ngủ không ngon
    Tập trung kém
    Đau đầu
    Các vấn đề về bàng quang
    Táo bón hay tiêu chảy

    Hỏi về ngộ độc vitamin D?

    Để tổng hợp quá nhiều vitamin D từ ánh nắng mặt trời trong cơ thể là điều không thể: cơ thể bạn sẽ tự điều chỉnh và chỉ tổng hợp lượng cần thiết. Mặc dù rất hiếm gặp, tuy nhiên, vẫn có thể xảy ra hiện tượng dùng quá liều và ngộ độc do dùng bổ sung vì vitamin D là vitamin tan trong mỡ, vì thế được tích tụ trong cơ thể trong thời gian dài. Chính vì vậy, nếu bạn dùng từ 5,000 IU trở lên, bạn cần kiểm tra nồng độ máu khoảng 3 tháng một lần.

    Tôi nên thực hiện bài kiểm tra máu nào để biết được lượng vitamin D của bản thân?

    Bài kiểm tra máu duy nhất có thể phát hiện thiếu vitamin D là 25-hydroxy-vitamin D (25 OH vitamin D). Thật không may, vẫn có một số bác sĩ thực hiện các bài kiểm tra sai, 1,25-dihydroxy-vitamin D. Trên thực tế, nguyên nhân thường gặp của 1,25-dihydroxy-vitamin D cao là 25(OH)D thấp hay thiếu vitamin D. Vì vậy, khi bác sĩ nhìn thấy 1,25-dihydroxy-vitamin D bình thường hay cao sẽ nói với bệnh nhân rằng họ ổn, trong khi thực tế là họ đang thiếu vitamin D.

    Bác sĩ của bạn nên thực hiện bài kiểm tra này cho bạn. Tuy vậy, thật không may là cho dù là bác sĩ của một số phòng thí nghiệm, vẫn có thể đưa ra thông tin sai, thường cho kết quả cao hơn so với thực tế.

    Thế nào là lượng 25 hydroxy vitamin D trong máu lí tưởng?

    Mức độ bình thường hiện này là từ 20 đến 55 ng/ml. Những con số này là quá thấp!!! Chúng là ổn nếu bạn muốn phòng tránh bệnh còi xương hay bệnh mòn xương, nhưng chúng không đảm bảo để có một sức khỏe tối ưu. Mức độ lí tưởng cho sức khỏe là từ 50-80 ng/ml.

    Bao lâu thì tôi nên kiểm tra 25 hydroxy vitamin D trong máu?


    Ít nhất mỗi năm một lần vào đầu mùa đông. Nếu bạn đang uống bổ sung, tôi khuyên bạn nên kiểm tra nồng độ vitamin D khoảng 3 tháng một lần cho đến khi bạn đã ở mức độ tối ưu. Nếu bạn dùng liều cao (10,000 IU mỗi ngày) bác sĩ cũng cần kiểm tra lượng canxi, phốt pho, và nồng độ hooc môn tuyến cận giáp 3 tháng một lần.

    Bác sĩ của tôi kê đơn Drisdol, 50,000 một tuần. Thế là sao?


    Drisdol là vitamin D2 hay ergocalciferol dạng viên lượng 50,000 IU. Ergocalciferol không phải là vitamin D, nhưng tương tự như thế. Thông thường, D2 không được tìm thấy ở người, và hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng nó không làm tăng lượng 25(0H)D tốt như cholecalciferol hay vitamin D3. Nếu bạn bị thiếu vitamin D, điều tốt nhất nên làm là dùng bổ sung vitamin D3.

    Tôi có thể dùng dầu gan cá tuyết để lấy vitamin D không?

    Mặc dù dầu gan cá tuyết chứa một lượng vitamin đáng kể, nó đồng thời cũng chứa lượng vitamin A cao. Vitamin A chống lại hoạt động của vitamin D, và dùng ở liều cao có thể bị ngộ độc.

    Tại sao lại có tình trạng thiếu vitamin D trầm trọng và phổ biến như vậy?

    Theo ước tính, có khoảng 30-100% người Mĩ, tùy thuộc vào tuổi tác và môi trường sống, đang bị thiếu vitamin D. Hơn nửa số trẻ em Mĩ thiếu vitamin này. Hãy thử tưởng tượng khoảng ¾ phụ nữ có thai bị thiếu vitamin D, khi đó những đứa con chưa ra đời của họ sẽ gặp rất nhiều vấn đề.

    Trên thế giới, ước tính có khoảng một tỉ người bị thiếu vitamin D. Trong quá trình làm việc, khoảng hơn 80% số bệnh nhân của tôi bị phát hiện thiếu vitamin D. Không ai chắc chắn được tại sao tình trạng này lại xảy ra ngoại trừ thực tế là chúng ta đã ở trong nhà quá nhiều và khi đi ra ngoài, chúng ta lại dùng vật che nắng. Tôi nghĩ phải có điều gì nhiều hơn thế. Tuy vậy, cho dù lí do là gì đi nữa thì thực tế vẫn là chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng thiếu vitamin D như một dịch bệnh vậy.

    Hỏi về việc sử dụng giường tắm nắng để tổng hợp vitamin D?

    Tôi không khuyến cáo mọi người dùng chúng bởi vì chúng ta chưa thực sự biết liệu chúng có an toàn hay không. Bởi vì các nguồn ánh sáng khác nhau giữa các giường, vì thế làm cho chúng trở nên không thể dự đoán được và có thể không an toàn. Thêm nữa, hầu hết các giường tắm nắng dùng cho mục đích thương mại tỏa ra lượng EMF không xác định được, hơn nữa, do người nằm quá gần với giường, rất có thể sẽ thu được liều cao không cần thiết.

    Về lí thuyết, cả hai vấn đề này đều có thể được khắc phục, nhưng trên thực tế lại không.
     
  19. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Thông tin về vitamin E

    Tác giả: Aysha Schurman

    Hiện nay nhiều người cảm thấy choáng ngợp vì có quá nhiều thông tin về vitamin E trên mạng Internet. Trong số những khẳng định về sức mạnh thần kì của vitamin E hay những bằng chứng về những tác dụng hoàn hảo của nó, có nhiều thông tin không có đủ căn cứ. Vì thế, nếu muốn tìm hiểu về loại vitamin này, bạn phải biết phân tích để loại bỏ những thông tin không có cơ sở.

    Vitamin E là gì?

    Vitamin E là loại vitamin tan trong mỡ được tạo nên từ tám hợp chất chống oxi hóa. Các hợp chất này thường được trộn lẫn với một loại dầu để tạo nên dầu vitamin E thường gặp. Loại dầu này được đưa vào các viên con nhộng và có thể nuốt qua đường miệng như một loại viên uống bổ sung. Dầu vitamin E cũng thường xuyên được bổ sung vào các sản phẩm giữ ẩm và làm đẹp.

    Thức ăn nào chứa vitamin E?

    Có thể tìm thấy vitamin E tự nhiên trong rất nhiều loại dầu thực vật và dầu lạc, và trong các loại rau và lạc. Các loại rau có lá xanh đậm, quả bơ, và cà chua có chứa rất nhiều vitamin E. Trong họ lạc và hạt thì hạnh nhân và hạt hướng dương chứa nhiều vitamin E nhất. Vitamin này cũng có thể được tìm thấy trong trứng và các loại ngũ cốc đã được bổ sung vi chất.

    Vitamin E có những tác dụng phụ gì?


    Thoa dầu vitamin E lên da đôi khi có thể gây kích thích. Nếu ăn hoặc uống vitamin này có thể gây đau đầu hay buồn nôn. Dùng vitamin E liều cao có thể gây ra các vấn đề về đông máu.

    Vitamin E có tác dụng như thế nào đối với sức khỏe?

    Vitamin E giúp duy trì sức khỏe nói chung, đặc biệt là giúp tăng cường hệ miễn dịch. Vitamin này cũng rất tốt cho mắt và tuần hoàn máu, và giúp cơ thể sử dụng vitamin A và K hiệu quả hơn.

    Vitamin E đặc biệt có ích cho làn da, giúp da bạn khỏe hơn vì làm nhanh liền sẹo, vết bỏng, và các thương tật khác. Chất chống oxi hóa này cũng được sử dụng trong nhiều sản phẩm làm đẹp và dưỡng ẩm.

    Vitamin E

    Vitamin E tham gia duy trì hệ thống miễn dịch, gen di truyền và trao đổi chất của tế bào. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất chống oxi hóa này có hiệu quả rất tích cực trong việc chống lại các bệnh về tim mạch và ung thư. Vitamin E có thể thấy trong các loại họ lạc, đặc biệt là hạnh nhân, dầu từ mầm lúa mì, dầu thực vật, các loại rau nhiều lá và có màu xanh, và các loại ngũ cốc làm giàu.

    Vitamin E có rất nhiều các đặc tính chống oxi hóa. Loại vitamin này có thể chống lại các bệnh về tim mạch, ung thư, và hỗ trợ cho việc sử dụng vitamin A của cơ thể. Vitamin E có trong các phần giàu chất béo của thực phẩm. Để đảm bảo cung cấp cho cơ thể một lượng vitamin E đầy đủ, bạn nên thường xuyên ăn các loại dầu thực vật, dầu hạnh nhân, các loại hạt, và các sản phẩm lúa gạo chưa chà xát kỹ. Nguồn cung cấp vitamin E giàu có nhất là các chất béo không bão hòa, như các loại dầu thực vật có trong quả bơ, hạnh nhân, các loại hạt, mầm lúa mì, gạo nguyên hạt, hướng dương, hoa rum, dầu oliu...
     
  20. medshopvn

    medshopvn Bắt đầu tích cực

    Tham gia:
    5/3/2010
    Bài viết:
    309
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Vitamin, khoáng chất - Những kiến thức cơ bản

    Vitamin E và sức khỏe con người

    Tác giả: Aysha Schurman

    Vitamin E có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe con người mặc dù không phải là loại thuốc tiên như một số người đã khẳng định về tác dụng của nó. Chất chống oxi hóa này có thể làm được rất nhiều việc, từ việc bảo vệ da tới việc giúp ích cho tim mạch.

    Một điều rất quan trọng dễ nhận thấy đó là hiện nay rất nhiều các nghiên cứu về tác dụng của vitamin E vẫn đang tiếp tục được thực hiện. Điều này có nghĩa là những ích lợi hoàn thiện và lâu dài của vitamin E sẽ được bàn luận và tranh cãi nhiều hơn. Tuy vậy, vitamin E vẫn có những tác dụng tức thời nhìn chung được y học chấp nhận.

    Đôi nét về vitamin E

    Hầu hết các viên vitamin E được tổng hợp từ 8 hợp chất chống oxi hóa. Chất chống oxi hóa là chất giúp chống lại tổn thương tế bào. 8 hợp chất này cùng với nhau tạo nên một chất chống oxi hóa cực mạnh tan trong mỡ - đó chính là vitamin E.

    Những tác dụng đối với da


    Vitamin E là điều kỳ diệu đối với làn da con người. Nó giúp dưỡng ẩm cho da khi dùng ở dạng dầu và là thành phần phổ biến trong rất nhiều sản phẩm làm đẹp. Vitamin E còn giúp làm giảm sự xuất hiện của sẹo và vết bỏng bằng cách chăm sóc cho da. Thêm vào đó, vì vitamin E giúp điều hòa vitamin A trong cơ thể, nên nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì một làn da khỏe mạnh.

    Tác dụng với hệ thống miễn dịch

    Vitamin E là một phần quan trọng trong bất kỳ cơ thể khỏe mạnh nào. Là một trong những vitamin cần thiết để duy trì sức khỏe, vitamin E giúp tăng cường hệ thống miễn dịch. Thêm vào đó, vì vitamin E giúp điều hòa vitamin A trong cơ thể nên nó đã làm cùng một lúc hai nhiệm vụ khi giúp hệ thống miễn dịch của cơ thể được tốt hơn.

    Những tác dụng khác

    Vitamin E còn được biết đến với rất nhiều ích lợi ở nhiều phương diện lớn nhỏ khác nhau. Ngoài tác dụng với làn da và mái tóc, vitamin này còn giúp tăng cường sức khỏe của đôi mắt. Hơn nữa, nó còn giúp hệ thống tuần hoàn khỏe mạnh và tăng cường sự đông máu. Vitamin E còn giúp cơ thể sử dụng vitamin K hiệu quả hơn.

    Mặc dù chưa có kết luận cuối cùng song vitamin E vẫn có những tác dụng nhất định đối với sức khỏe nói chung. Các hội chứng về tiền mãn kinh đều có thể được làm thuyên giảm bằng việc cân bằng lượng vitamin E trong thực đơn hàng ngày.

    Vitamin E giúp liền sẹo


    Nếu bạn nghĩ vitamin E giúp liền sẹo tốt thì bạn đã đúng. Vitamin E là hỗn hợp của tám hợp chất có tác dụng chống oxi hóa cao, vì thế không những nó có nhiều tác dụng với làn da nói chung, mà còn là phương pháp giúp nhanh liền sẹo có tiếng.

    Vitamin E thường thấy ở dạng dầu, có thể thoa trực tiếp lên da hoặc uống. Để điều trị sẹo hay các thương tật khác ở da thì dùng vitamin E thoa ngoài da là hiệu quả nhất. Tuy vậy, dù uống hay thoa vitamin E đều có tác dụng cho làn da nói chung.

    Sẹo là gì?


    Sẹo là vết còn lại trên da sau khi da đã lành vết thương. Vết thương không nhất thiết phải là vết thương hở, mà có thể chỉ là một vết cắt nhỏ hoặc dài hơn một chút . Vết thương lành càng nhanh, vết sẹo càng nhỏ. Đó chính là lí do tại sao vitamin E nên được dùng ngay từ ban đầu để giữ da khỏe mạnh. Da khỏe có nghĩa là khả năng lành vết thương nhanh và tốt hơn, vì thế giảm nguy cơ để lại sẹo.

    Vitmamin E giúp liền sẹo như thế nào?

    Vitamin E là chất chống oxi hóa rất mạnh, là chất giúp chống lại thương tổn đến tế bào. Vì vitamin E có ở dạng dầu nên nó cũng là chất dưỡng ẩm hiệu quả. Viatmin E giúp điều hòa và làm tăng khả năng sử dụng các vitamin khác của cơ thể, vì thế giúp tăng cường sức khỏe và hệ thống miễn dịch. Sức khỏe nói chung tốt thì làn da cũng khỏe hơn, vì thế có khả năng làm lành vết thương nhanh hơn.

    Sử dụng vitamin E như thế nào?

    Nếu bạn sử dụng vitamin E để giúp liền sẹo, bạn nên kết hợp cả bổ sung vitamin E vào chế độ ăn hàng ngày và thoa trực tiếp lên da. Khi bắt đầu, hãy nhẹ nhàng rửa và làm khô vùng sẹo. Đổ một ít dầu vitamin E, hoặc kem dưỡng ẩm có vitamin E lên các đầu ngón tay. Xoa dầu theo hình tròn vòng quanh vết sẹo. Bạn nên xoa từ từ, nhẹ nhàng để da có thể hấp thụ tốt nhất.
     

Chia sẻ trang này