Kinh nghiệm: Yêu Cầu Lao Động Nữ Cam Kết Không Mang Thai: Đúng Hay Sai?

Thảo luận trong 'Tâm sự về các vấn đề khác' bởi Im Huệ Chị, 30/7/2021.

  1. Im Huệ Chị

    Im Huệ Chị Thành viên tập sự

    Tham gia:
    22/7/2021
    Bài viết:
    7
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    3
    Nhiều doanh nghiệp khi tuyển dụng thường yêu cầu người lao động ký cam kết không mang thai hoặc sinh con trong những năm đầu. Thực tế này không chỉ diễn ra tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc mà còn diễn ra ở nhiều địa phương khác trên cả nước. Vậy yêu cầu lao động nữ không mang thai có trái quy định pháp luật? Công ty Luật Youth & Partners xin giải đáp câu hỏi trên thông qua bài viết dưới đây.

    1. Cơ sở pháp lý
    - Bộ luật lao động năm 2019

    - Nghị định 145/2020/NĐ-CP

    - Nghị định 28/2020/NĐ-CP

    - Pháp lệnh số 08/2008/PL-UBTVQH12

    2. Có được yêu cầu lao động nữ cam kết không mang thai?
    Lao động nữ khi mang thai sẽ phần nào ảnh hưởng đến việc duy trì sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp do theo quy định pháp luật đối tượng này sẽ được đãi ngộ, hưởng nhiều chính sách ưu tiên. Chính vì vậy, hiện nay có nhiều doanh nghiệp ái ngại với vấn đề này nên có yêu cầu lao động nữ ký cam kết không mang thai trong thời gian nhất định, thường là trong những năm đầu.

    Theo Pháp lệnh số 08/2008/PL-UBTVQH12 sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số 06/2003/PL-UBTVQH11:

    Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản:

    1. Quyết định thời gian và khoảng cách sinh con;

    2. Sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định;

    3. Bảo vệ sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến sức khỏe sinh sản”. Theo đó, mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có quyền tự quyết định thời gian sinh con và khoảng cách sinh con.

    Như vậy, việc người sử dụng lao động yêu cầu lao động nữ cam kết không mang thai đã can thiệp, cản trở quyền tự do quyết định thời điểm sinh con của cá nhân. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người lao động.

    Vì vậy, dù người lao động có đồng ý ký vào bản cam kết không mang thai khi làm việc thì văn bản này cũng không có giá trị pháp lý.

    3. Vi phạm cam kết không mang thai, công ty có được đuổi việc hay không?
    Như phân tích trên, do bản cam kết này không có giá trị pháp lý nên trong quá trình làm việc, người lao động vẫn có quyền lựa chọn thời điểm mang thai của mình dù trước đó đã ký cam kết.

    Bên cạnh đó tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật lao động năm 2019 quy định nghĩa vụ của người lao động như sau:

    Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

    1. Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác;

    2. Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động;

    3. Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động.

    Theo đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động người lao động có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và các thỏa thuận hợp pháp khác. Bởi đó, bất cứ thỏa thuận không hợp pháp người lao động có quyền không thực hiện.

    Trong trường hợp công ty cho rằng việc người lao động có thai là vi phạm cam kết để xử lý kỷ luật, thậm chí cho người lao động nghỉ việc không chỉ vi phạm pháp luật về dân số mà còn vi phạm cả pháp luật lao động.

    Bộ luật Lao động đã có những quy định nhằm bảo vệ thai sản cho lao động nữ mang thai. Tại điểm d khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019, một trong những nguyên tắc quan trọng khi xử lý kỷ luật lao động đó là không tiến hành kỷ luật người lao động đang mang thai.

    Nếu cố tình thực hiện hành vi nói trên, doanh nghiệp có thể bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng (căn cứ điểm e khoản 2 Điều 27 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP).

    Hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý do mang thai theo quy định tại khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2019 là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật. Khi đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động năm 2019.

    Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

    Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới.

    Tuy vậy, dù không được sa thải hay đơn phương chấm dứt hợp đồng với lao động nữ có thai ngay cả khi đã ký cam kết không mang thai nhưng người sử dụng lao động có thể thỏa thuận với người lao động về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu người lao động đồng ý thì việc chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp này sẽ là hợp pháp.

    Nguồn: https://vinhphuclawyers.vn/kien-thu...mang-thai-doanh-nghiep-dung-hay-sai-32239.htm
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi Im Huệ Chị
    Đang tải...


Chia sẻ trang này