Thiền

Thảo luận trong 'Làm đẹp' bởi zetafashion, 19/2/2011.

Tags:
  1. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Giải mã những bí mật của thiền định


    Không cứ phải vào rừng kiếm một guru (lạt-ma, thiền sư v.v) râu dài mới học được thiền. Tại Mỹ, giờ đây, nhiều khi muốn tránh ngồi thiền cũng khó. Nó là môn được yêu cầu tại nhiều trường học, bệnh viện, công ty luật, các tổ chức chính phủ và cả trong nhà tù...
    Trong các trường bao gồm cả đại học, trung học và tiểu học ở Fairfield, Iowa, học sinh ngồi thiền tập thể 2 lần mỗi ngày. Ngay các khách sạn khu Catskills ở New York đã trở thành các trung tâm thiền nhanh đến nỗi được gọi là Buddhist Belt (Vành đai Phật giáo).

    Trào lưu thiền định khởi phát có nguyên do từ cả văn hóa lẫn y học. Ngày càng có nhiều thầy thuốc ở Mỹ đề nghị bệnh nhân ngồi thiền như một biện pháp phòng và điều trị các bệnh mạn tính như tim, AIDS, ung thư, vô sinh và đặc biệt là các bệnh rối loạn thần kinh, trầm cảm. "30 năm nghiên cứu đã cho chúng tôi thấy thiền định có tác dụng tuyệt vời trong việc giảm stress", Daniel Goleman cho biết. Ông là tác giả của Destructive Emotions - cuốn sách miêu tả một cuộc đối thoại giữa Đạt Lai Lạt Ma và một nhóm các nhà thần kinh học. "Nó rèn luyện đầu óc và khiến bộ não linh động". Các kỹ thuật quét ảnh não tân tiến cho thấy thiền có thể "rửa" lại não, giải tỏa các khu vực căng thẳng vì máu ở trong tình trạng ách tắc...

    Bộ não, như cơ thể, có thể trải qua những thay đổi cực nhỏ trong thiền định sâu. Năm 1967, giáo sư Herbert Benson ở đại học Y Harvard đã tiến hành nghiên cứu trên 36 người thiền định và thấy rằng khi ngồi thiền họ dùng lượng oxy ít hơn bình thường 17%, giảm 3 nhịp tim/phút và tăng sóng theta ở não - hệt như trạng thái trước ngủ - trong khi toàn não vẫn tỉnh táo. Những năm 70, Benson còn chứng minh rằng người ngồi thiền có thể đạt được trạng thái tỉnh táo hơn và hạnh phúc hơn. "Tất cả những gì tôi làm là dùng logic sinh vật học để giải thích thứ kỹ thuật được con người đã dùng hàng nghìn năm nay", Benson nói.

    7 năm sau, tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs, Đại học Harvard, qua ghi sóng não đã phát hiện ra rằng những người thiền có thể sản ra rất nhiều sóng theta và có thể phong tỏa phần não trước vốn nhận và xử lý cảm giác, ngoài ra họ cũng giảm thiểu hoạt động ở phần thùy đỉnh não, nơi phụ trách các cảm giác về không gian - thời gian. Bằng cách "tắt" thùy đỉnh não, người ta có thể mất cảm giác về giới hạn và thấy vũ trụ "trở thành một".

    Công nghệ dựng ảnh não ra đời càng thúc đẩy thêm các nghiên cứu. Năm 1997, nhà thần kinh học Andrew Newberg, thuộc Đại học tổng hợp Pennsylvania, đã dùng tia phóng xạ để xem áp lực máu trong não của một nhóm các thiền sư và phát hiện rằng khi họ nhập định, não của họ không "tắt" mà chỉ phong tỏa các thông tin lên thùy đỉnh não. Nghiên cứu thiền định đã có bước đột khởi vào tháng 3/2000 khi Đạt Lai Lạt Ma gặp gỡ các nhà thần kinh học ở Ấn Độ và yêu cầu sử dụng các kỹ thuật dựng ảnh não hiện đại nhất để quan sát các đại sư thiền định (gắn đầy các điện cực). Các kết quả thu được sẽ được thảo luận vào tháng 9 tới.

    Người Mỹ đang say mê thử các kỹ thuật thiền như Vipassana (tập thở), thiền hành (đi bộ chậm trong tỉnh giác), TM (thần thiền, bằng cách nhắc đi nhắc lại những thần chú tiếng Phạn), Dzogchen (tỉnh giác) và thậm chí cả thiền vũ (nhảy theo nhạc). Roger Walsh, giáo sư triết học, tâm thần học, Đại học tổng hợp California, nói: "Chỉ những năm gần đây tâm thần học phương Tây mới nhận ra hội chứng nhiễu loạn chú ý (không tập trung được). Nhưng các thiền giả phương Đông đã biết từ hàng nghìn năm trước rằng con người luôn bị nhiễu loạn chú ý mà không ý thức được".

    Hơn 10 năm trước, tiến sĩ Dean Ornish đã khẳng định thiền cùng với yoga và ăn kiêng có tác dụng giảm thiểu sự tích tụ các mảng bám ở động mạch vành. Tháng 4/2003, tại đại hội của Hội Tiết niệu Mỹ, ông đã công bố nghiên cứu rằng thiền định có thể làm chậm lại sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt. Tại Đại học Cambridge, John Teasdale chứng minh rằng thiền giúp bệnh nhân trầm cảm rất hiệu quả và giảm tới 1/2 khả năng tái phát bệnh. Ngoài ra, Jon Kabat-Zin, người thành lập Trung tâm trị liệu Stress năm 1979, đã giúp đỡ hơn 14.000 người vượt qua các bệnh đau đớn không cần dùng thuốc bằng cách tập trung thiền định. "Thiền cực kỳ hữu dụng với những bệnh nhân ung thư, AIDS hay các bệnh đau mạn tính", Jon nói. Cũng theo Jon, kỹ thuật thiền định càng hoàn hảo, người ta càng có nhiều kháng thể và hệ thống miễn dịch của cơ thể càng lớn mạnh.

    Ngoài ra, nhiều nghiên cứu mới cũng cho thấy thiền đôi khi có thể thay thế được Viagra vì nó mang lại rất nhiều sinh lực. Nữ nghệ sĩ Heather Graham bắt đầu ngồi thiền từ 12 năm trước dưới sự hướng dẫn của David Lynch, đệ tử của Maharishi nổi tiếng. "Thiền định đã khiến đời tôi đổi khác", chị nói. "Vào cuối ngày, những chuyện eo xèo trên phim trường chẳng còn ý nghĩa gì với tôi nữa". Rất nhiều người Mỹ nổi tiếng đã ngồi thiền. Như Goldie Hawn, với thiền phòng đầy ảnh Đạt Lai Lạt Ma và Mẹ Teresa; hay Bill Ford, ông chủ hãng Ford Motors; cả Hillary Clinton cũng nói đến ngồi thiền; rồi vợ chồng nhà Al Gore. "Cả hai chúng tôi đều tin tưởng vào cầu nguyện và đặc biệt là thiền định", Al Gore, cựu phó tổng thống Mỹ, nói.


    ST (Theo Time)
     
    Đang tải...


  2. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Những chú ý quan trọng khi ngồi thiền

    Thiền là nét văn hoá đặc sắc của phương Đông. Từ đầu thế kỷ 20, sau khi du nhập vào phương Tây, thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận như một phương pháp chữa lành những căn bệnh tâm lý của xã hội hiện đại.
    Nhiều nghiên cứu khác nhau của các giáo sư Mỹ, Nhật, Pháp… cho thấy thiền giúp cải thiện các chức năng sinh lý của cơ thể, giúp phát triển trí não, tăng cường khả năng tập trung tư tưởng và cải thiện lão hoá; trị các chứng bệnh do căng thẳng tâm lý gây ra, giúp cải thiện những thói quen xấu. Đối với những người bình thường, thiền giúp tinh thần thoải mái, lạc quan, nâng cao chỉ số thông minh, cảm xúc…

    Nên bắt đầu thiền vào sáng sớm, trước khi tập thể dục và ăn sáng. Nếu thiền trước khi ngủ sẽ bất lợi vì người tập dễ bị cơn buồn ngủ lôi kéo hoặc có thể trong đầu còn nhiều tạp niệm chưa giải quyết được sau một ngày làm việc.

    Để ngồi thiền hiệu quả, sự chuẩn bị và luyện tập đòi hỏi cũng phải rất công phu. Khi thiền, nên mặc quần áo bằng vải mềm, rộng rãi. Chuẩn bị một tấm nệm vuông dày khoảng 5cm, ở giữa đặt lên một cái gối ngồi nhỏ. Nửa mông sau đặt trên gối và ngồi ngay thẳng.

    Có nhiều cách ngồi, nhưng với người mới bắt đầu có thể ngồi kiểu Miến Điện hay ngồi bán kiết già. Khi đã quen nên chọn thế toàn kiết già. Những người thường mặc âu phục có thể thiền trên ghế hay ngồi theo kiểu Nhật Bản.

    Ngồi kiểu Miến Điện: cả hai chân xếp chéo nhau đặt trên nệm.

    Ngồi bán kiết già: đặt chân trái lên đùi phải hoặc ngược lại.

    Ngồi toàn kiết già: hai chân khoá vào nhau. Đặt bàn chân phải lên đùi trái rồi đem bàn chân trái đặt lên đùi phải. Kéo sát chân vào trong thân để ngồi được lâu. Bàn tay trái để lên bàn tay phải, hoặc ngược lại. Hai bàn tay để lên hai lòng bàn chân, những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái chạm vào nhau nằm ngay chiều rốn, cùi chỏ vừa ôm hông là được. Đây là tư thế thiền đúng cách và hữu hiệu nhất.

    Ngồi kiểu Nhật Bản: ngồi trên một ghế nhỏ, hai chân để dưới chân ghế.

    Ngồi trên ghế: sử dụng ghế chân cao, ngồi lên, hai bàn chân đặt trên mặt đất.
    Với bất cứ kiểu ngồi thiền nào, xương sống cũng phải ở vị thế thẳng đứng, không nghiêng trái, ngả phải; không cúi tới, ngả lui. Lỗ tai thẳng với vai, lỗ mũi ngay nơi rốn. Lưỡi chạm hàm trên, miệng ngậm, mắt nhắm hờ. Hít sâu bằng mũi đầy bụng rồi thở ra bằng miệng nhẹ nhàng.

    Điều quan trọng của thiền là “tâm toạ”, tức là tâm không được đi “dong duổi ta bà”. Muốn vậy, phải giảm thiểu từ từ những ý nghĩ miên man trong đầu. Tập trung tư tưởng vào một điểm hoặc một đề mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng trống rỗng, không còn vướng mắc vào bất cứ ý niệm nào.

    Nên tập thiền đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc đầu, ngồi khoảng 15 phút, dần dần tăng lên. Thỉnh thoảng sẽ có những lúc tâm phân tán. Điều này bình thường, chỉ cần khi nhớ ra hãy tập trung trở lại.

    Xả thiền
    Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy cần làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông.
    Từ từ buông thõng hai chân. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng mũi từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.
    Việc xả thiền tuỳ mỗi buổi thiền. Nếu chỉ thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc cần đứng lên gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc cổ qua lại nhiều lần là đủ.


    Lương y – BS Võ Minh Hà
    (Nguồn: SGTT)
     
  3. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Lợi ích của Thiền đối với quản trị kinh doanh


    Tôi đã từng có những buổi nói chuyện sâu sắc với hơn mười hai nhân viên thương mại, là những người thầu khoán có qui mô nhỏ sau các khoá thiền. Các buổi nói chuyện này đã khẳng định rằng sau mọi khóa thiền họ đều có thể làm việc nhanh hơn 20% trước đây và chất lượng của công việc đã chứng minh giá trị của người làm việc trong một trạng thái tâm nhẹ nhàng.
    Quản Trị Thương Mại

    Với sự phức tạp của thương mại ngày càng gia tăng, đặc biệt là thương mại công nghệ – việc vận dụng phương pháp thiền định đã trở nên rất phổ biến trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, các phương pháp thiền định này được áp dụng chủ yếu như là cách xoa dịu bớt những căng thẳng cho các uỷ viên của ban quản trị đang bị sức ép của mục tiêu hoạch định này.

    Việc quản trị ở một mức độ trung bình phụ thuộc vào cách: tổ chức, nghiệm thu, sản phẩm, thu mua, quảng cáo, nguồn ngân quỹ, điều hành, v.v… . Mỗi một vận hành này đòi hỏi tư duy, kế hoạch, sự phối hợp, thực hiện, công tác kế toán, và đề án lợi nhuận đều phải rõ ràng. Hiện nay, có nhiều trường đại học dạy về khoa quản trị này. Có một vài phương pháp quản trị đặc biệt áp dụng cho những tổ chức lớn với doanh thu khoảng một trăm triệu đô la Mỹ hoặc trên nữa. Các công trình nghiên cứu và các phương pháp khuếch trương hiện nay là để nâng cao kỹ thuật của các nghiệp vụ thương mại này.

    Nhu Cầu Thiền Định

    Thiền định được vận dụng vào công tác quản trị thương mại như thế nào? Để tìm câu trả lời này chúng ta phải nhìn kỹ các nước công nghiệp như Mỹ và Đức. Bản chất của các xã hội này được hình thành từ một nền công nghiệp hoá tiến bộ đã được định hình do mức tiêu thụ rượu mạnh, ma tuý và thuốc lá; các cơn dịch ly dị và nhiều gia đình đổ vỡ; kinh tế suy thoái và nghề nghiệp không ổn định; cảm giác cạnh tranh và suy thoái dữ dội, dẫn đến các triệu chứng bệnh tim, tự tử, v.v,… .

    Xã Hội Đổ Vỡ

    Nhiều giám đốc thương mại đã đến từ xã hội đổ vỡ này. Các trường thương mại dạy cho họ làm việc để kiếm nhiều lợi nhuận và lương cao hơn; và những căng thẳng phát sinh buộc họ sử dụng nhiều rượu và ma tuý và do đó các vấn đề sức khoẻ khác như chứng tăng huyết áp lại xuất hiện. Mức độ bình đẳng trong các xã hội này bị suy sụp. Các người chủ thương mại, trợ lý, các giám đốc gia tăng tánh kiêu hãnh, định kiến, ganh tỵ, ngạo mạn, và đồng thời họ cũng kinh qua các trạng thái: chán nản, lo lắng, căng thẳng và những ảnh hưởng tai hại khác.

    Chuyển Hoá Tích Cực

    Phương pháp thiền minh sát (Vipassana) cải thiện đời sống của nhân viên và ban quản trị thương mại bằng cách chuyển hóa thái độ của họ. Định kiến được thay thế bằng lòng từ, sự ganh tỵ được đổi thành lòng hoan hỷ khi thấy thành công của người khác, tánh tham lam và mê muội được thay thế bằng sự rộng rãi và khiêm tốn, v, v,… .

    Sự chuyển đổi thái độ này làm cho các căng thẳng được giảm thiểu, và tâm được thanh thản, thăng bằng. Chính động lực sáng tạo có thể làm cho công việc có năng suất, ảnh hưởng đến đội ngũ cấp dưới. Việc thay đổi tích cực này đưa đến thái độ và hành động của ban quản trị chuyển biến, đó là cách cư xử lễ độ và hài hoà, ngôn ngữ nhẹ nhàng, và tâm hồn đầy thương yêu, hữu nghị. Sự thay đổi tích cực trong tâm thức này cũng chính là mục tiêu của thực tập thiền định thật sự, và nó tạo nên một nền tảng mới và tiên tiến cho công việc thương mại và quản trị công nghiệp.

    Tình Hình Hiện Nay

    Quản lý thương mại hiện nay được điều chỉnh bằng lợi nhuận hay là khả năng "hái tiền". Các giám đốc được đánh giá bằng khả năng tạo ra tiền với phương thức gia tăng doanh thu sản phẩm, phát triển các kỹ thuật mới với mức lương cao hơn, hoặc giảm giá nhờ vào những phát minh mới. Để đền bù lại, các giám đốc này muốn lương cao và nhiều đòi hỏi hơn. Mặc dù không có gì sai khi tạo nên lợi nhuận và gia tăng lợi tức, nhưng mục đích thật sự của công việc kinh doanh là để tạo nên sự giàu có được kết hợp bởi tiền bạc, sức khoẻ, và hạnh phúc. Thiền minh sát đóng góp rất lớn trong việc cải thiện sức khoẻ nội tâm và hạnh phúc của cá nhân – đó là những yếu tố thật sự cần thiết của giàu có.

    Phát Triển Tiềm Năng Con Người

    Nhiều công ty hiện nay có những văn phòng phát triển tiềm năng con người, phổ biến như – phát triển tiềm năng con người (Human Resource Development). Bộ phận phát triển tiềm năng con người là một khái niệm mới được đón nhận, bởi vì con người làm việc trong nghành thương mại hoặc công nghiệp không nên có "tinh thần vô trách nhiệm". Họ cần được mở rộng tầm nhìn. Một trong những thông số trong tiến trình này là phát triển các mối quan hệ hỗ tương. Chính sự phát triển này đã cải thiện các mối quan hệ giữa con người với con người một cách tự nhiên. Thiền định sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu này, và vượt qua mối thù hiềm đối với các bạn đồng nghiệp, thuộc cấp, cấp trên, nhân viên chánh phủ và những người khác. Sự thù hiềm này biểu hiện như sân giận, kiêu ngạo, ganh tỵ, trả thù, ích kỷ, tham lam, định kiến và ác ý. Các buổi thuyết trình, hội thảo, sách vở, thảo luận, v.v… cũng giúp cho chúng ta hiểu tầm quan trọng về những chủ đề này. Tuy nhiên, hơn 95% các điểm tiêu cực trong tâm con người vẫn không thay đổi mặc dù chúng ta hiểu biết về giá trị của vượt qua thù hằn, tiêu cực và ích kỷ. Lời phát biểu này xuất phát từ kinh nghiệm riêng của tôi cũng như qua hơn trăm (100) cuộc phỏng vấn với các trợ lý thương mại suốt mười năm qua.

    Mạng Sống Chân Chánh (Chánh Mạng)

    Thực hành chánh mạng là một khía cạnh quan trọng của thiền minh sát. Nó có thể là nền tảng cho công việc quản lý thương mại. Dựa vào nền tảng này các kỹ thuật sử dụng tài liệu thống kê theo kiểu quản lý truyền thống như là các dự án theo chu kỳ tiền mặt, trả lại tiền vốn, tổng sản lượng quốc gia, doanh thu lợi nhuận, v, v, … . được xác lập. Các tham số này trở nên hữu ích nếu chúng dựa trên khái niệm mạng sống chân chánh.

    Tóm lại, việc ứng dụng khái niệm này nên có tinh thần tích cực, nghĩa là lợi tức có được xuất phát từ các hợp đồng thương mại hoặc cá nhân không những có đạo đức mà ý thức của những người tạo nên lợi tức này cũng được trong sạch. Điều này có nghĩa là vượt ra các mặt tiêu cực vừa nêu ra ở trên. Một trạng thái tâm thoát khỏi các tiêu cực, tự nhiên trở nên trong sạch, và biểu hiện các đặc tính thương yêu, kính trọng, hợp tác, hoà nhã và bình đẳng thật sự. Chúùng ta nên có ý thức trong việc tạo nên tài sản này. Tạo ra tài sản không chỉ là tạo ra tiền mà còn tạo cho tinh thần thư thái và hạnh phúc xuất phát từ trạng thái tâm thanh thản.

    Tiềm thức

    Không cần đi sâu vào thiền minh sát, ta sẽ chạm phải một phương diện quan trọng của sự chuyển hóa tâm thức: đó là sự chuyển hóa tiềm thức. Chúng ta biết rất ít về trạng thái tâm thức bị tràn đầy những tâm niệm tiêu cực này, các tâm niệm tiêu cực này hoàn toàn đi ngược với một tâm thức lành mạnh. Trong khi chúng ta có thể nhận ra và kinh nghiệm những điểm tiêu cực này, chúng ta vẫn không thể tẩy sạch các tâm niệm đầy ô trược nếu không có một phương pháp thích đáng.
    Phần lớn các phương pháp thiền định [thông thường] không thể tiến sâu vào tiềm thức, chúng làm cho tâm nhiễu loạn và do đó tâm thức dễ bị nhiễm ô. Hơn thế nữa, tâm thức nhiễm ô này, là làm đời sống của chúng ta phức tạp hơn. Thiền minh sát dựa trên mỗi bước "thực tại như nó đang là". Thiền minh sát cho phép thiền giả kinh nghiệm những giây phút "tâm trống không". Điều này khởi động cho tiến trình "giải độc" tâm khỏi các nhiễm ô.

    Căn bệnh công nghiệp

    Một tâm thức không định tĩnh và đầy nhiễm ô sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Khi tâm thức của những người lãnh đạo công nghiệp không trong sạch, các chi nhánh công ty sẽ lạm phát và thật là đáng sợ. Hiện tượng này được minh hoạ bằng một ví dụ trước đây của việc quản lý thất bại tại Bombay Textile Mills. Cách đây hai mươi năm, Bombay Textile Mills là một đơn vị đứng vững và phát đạt, tuy nhiên, chỉ vì lòng ham muốn kiếm tiền nhanh đã gây ra một thảm kịch kinh tế. Tiền mặt lợi nhuận để sử dụng trong việc hiện đại hoá máy móc và thiết bị, hoặc vốn luân chuyển bị chuyển ra vì lợi nhuận cá nhân của các giám đốc. Cách sinh kế của họ không phải là "chánh mạng". Sự ô nhiễm của lòng tham đã giết đi lợi tức tốt nhất của các giám đốc và làm đau khổ tràn lan khắp các hệ thống kinh tế và lực lượng lao động ở Bombay.

    Thiền minh sát là cuộc giải phẫu tâm thức. Khi thực hành đúng đắn, tốc độ của tâm thanh tịnh có thể tiến triển hết sức bất ngờ. Phương pháp này giải thoát tâm khỏi tham lam. Một tâm thức khoẻ mạnh luôn tỉnh táo và có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu trong việc làm, nó tự nhiên thoát khỏi nghiện ngập và đam mê dục lạc. Thực hành thiền minh sát làm giảm bớt lòng khát ái. Một công việc thương mại dưới sự điều khiển của một tâm trí như vậy sẽ tạo nên sự phát triển của nghành công nghiệp dệt hơn là tạo nên các đơn vị sản xuất bệnh hoạn.

    Phân tích về tình trạng bệnh hoạn của nền công nghiệp đang gia tăng và sự thất bại của công việc quản lý thương mại là một tấm gương điển hình. Trong nhiều trường hợp, người ta quá lo âu về việc xuất khẩu và mở rộng thị trường đưa đến vốn luân chuyển bị sử dụng trệch hướng vào việc đầu tư bất động sản. Kết quả là số lượng thiếu hụt vốn luân chuyển trầm trọng và sự vay mượn quá mức, rõ ràng là một đại lộ nguy hiểm cho công việc thương mại. Với một tâm thức trưởng thành nhờ thiền định, các loại hành động hướng đến ái dục này được kiểm duyệt bằng đức tính trầm tĩnh và điềm đạm mà nó có thể làm giảm thiểu khả năng tạo các sai lầm như vậy.

    Tâm Thanh Tịnh: Nền Tảng của Quản Trị

    Tự thân phương pháp thiền minh sát không tạo ra một kỹ thuật quản trị mới. Nó chỉ đóng góp vào việc cải thiện quản trị bằng cách điểu chỉnh tận gốc vấn đề, đó là tâm thức không trong sạch. Do đó, một công việc thương mại nên được thức ăn tinh khiết của tư tưởng và hành động đúng đắn nuôi dưỡng liên tục. Chính khát ái và tham lam tột độ đã đầu độc tâm trí của các giám đốc. Nhiễm ô này được điều chỉnh bằng thiền định.

    Thái Độ đối với Cạnh Tranh

    Thiền minh sát cũng giúp chúng ta thay đổi thái độ đối với đối phương. Khi công việc thương mại áp đảo đối phương chắc chắn sẽ có một chuỗi phản ứng, một vòng luẩn quẩn lại bắt đầu. Nhiều cuộc làm ăn đã bị sụp đổ bởi thái độ này. Thiền minh sát thanh lọc tâm thức và làm cho trí tuệ sung mãn, điều đó có thể giúp hành giả nhận thức rằng có một khoảng không gian để mọi người chung sống với nhau. Sự thanh tịnh xuất phát từ kết quả thực hành thiền minh sát như "chính nó là"ø trong mảnh đất phì nhiêu, nơi đó hạt giống quản trị thương mại đầy sức sống nầy trưởng thành. Mảnh đất tâm đầy nhựa sống nầy đã hướng dẫn công việc quản trị, mà mục đích căn bản của quản trị là tạo nền hoà bình và hạnh phúc cho xã hội. Mục đích thứ hai của nó là tạo ra đồng tiền như là một phương tiện để mua hàng hoá và những việc cần dùng và đạt đến sự giải phóng kinh tế và mức sống cao hơn.

    Nghiên Cứu Trường Hợp Cụ Thể của Công Ty Ananda Engineers

    Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Ananda Engineers (tại Bombay) của tôi có nguồn doanh thu trên một triệu đô la Mỹ. Tất cả các giám đốc, các thành viên thâm niên cũng như đại đa số nhân viên và công nhân đều đã trải qua tu tập thiền minh sát. Con đường thiền minh sát đã đến với chúng tôi như vầy, trước hết giám đốc điều hành đã đến tham dự khoá thiền, sau đó đội ngũ thâm niên cũng theo gương ông. Các nhân viên cũng nhận ra nhiều thay đổi của cấp trên và rồi họ muốn thử nghiệm. Chúng tôi thấy rằng hiệu suất công việc của tập thể được gia tăng, cũng như lợi ích đi kèm với sự cải thiện tinh thần lành mạnh và các mối quan hệ hỗ tương. Có lẽ có những công ty lớn với khoảng lợi nhuận kếch sù nhưng tôi lại thấy rằng hạnh phúc của ban điều hành và công nhân không chỉ do tiền bạc đem đến mà còn xuất phát từ việc đối xử và thương yêu, hoà ái của ban quản đốc. Bất cứ phương pháp nào cũng không thể mang lại cách đối xử thân ái này, ngoại trừ thiền minh sát. (Lời phát biểu trên xuất phát từ kinh nghiệm riêng của tôi. Bài báo cáo chương trình chi tiết này trình bày khi được yêu cầu.)

    Một vài điểm nổi bật của việc nghiên cứu như sau:
    60% công nhân đã tham dự các khoá thiền. Khoảng nửa số này đã dự tu hơn một khoá. Kết quả là nhiều thay đổi trong cơ quan, cuộc thay đổi này đã làm chuyển biến từ luật lệ của cấp lãnh đạo cho đến những quy ước của cấp dưới, từ cá nhân đến tinh thần đồng đội, và từ sự không quyết tâm, không tự giác đến tự giác trong công việc. Sản lượng đã tăng lên 20%.

    Kết Luận

    Tôi đã từng có những buổi nói chuyện sâu sắc với hơn mười hai nhân viên thương mại, là những người thầu khoán có qui mô nhỏ sau các khoá thiền. Các buổi nói chuyện này đã khẳng định rằng sau mọi khóa thiền họ đều có thể làm việc nhanh hơn 20% trước đây và chất lượng của công việc đã chứng minh giá trị của người làm việc trong một trạng thái tâm nhẹ nhàng. Họ trình bày rằng những tâm tham, sân, kiêu ngạo, và định kiến đã giảm xuống và rất ít khi xích mích khi làm việc với đồng nghiệp. Thiền Minh Sát đã làm cho các mối quan hệ giữa người với người trở nên thân ái và lành mạnh, sự phồn thịnh trong công việc kinh doanh của họ tiến triển vững vàng như là kết quả của các biến chuyển tích cực này.

    Tác giả: Jayantilal Shal
    Dịch giả: Thích Nữ Liên Hòa
     
  4. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Thiền, chất liệu nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa


    Hiện trên trế giới, nhất là ở Tây phương, đã có nhiều nơi áp dụng phép thực tập chánh niệm để đối trị các chứng đau nhức, trầm cảm và giải tỏa tình trạng căng thẳng trong thân tâm. Tại Trung Tâm Y học trường Đại Học Massachusetts chẳng hạn, có giáo sư Jon Kabat-Zinn, một giáo sư y khoa giỏi về thiền chánh niệm, đang điều khiển một chương trình trị liệu gọi là The Program of the Stress Reduction Clinic, chữa trị cho các chứng đau nhức, stress và tật bệnh khá hữu hiệu.
    Thiền, nói cho đủ là thiền na (tiếng phạn là dhyana), là phần thực tập nòng cốt của đạo Bụt. Thiền có mục đích giúp người hành giả đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại, cái thấy này có khả năng giải phóng cho mình ra khỏi sợ hãi, lo âu, phiền muộn, chế tác chất liệu trí tuệ và từ bi, nâng cao phẩm chất của sự sống, đem lại cho mình và cho kẻ khác nhiều thảnh thơi và an lạc.

    Bản chất của thiền là niệm, định và tuệ, ba nguồn năng lượng được chế tác trong khi thực tập. Ta thực tập thiền không phải chỉ trong tư thế ngồi (thiền ngồi, tiếng Hán Việt: tọa thiền) mà còn trong các tư thế khác như tư thế đi (thiền đi, tiếng Hán Việt: hành thiền) tư thế đứng, tư thế nằm, trong những lúc làm việc như giặt áo, bổ củi, gánh nước, tưới rau hoặc lái xe. Bất cứ trong tư thế nào, bất cứ đang làm gì và ở đâu mà trong thân tâm mình có được ba loại năng lượng ấy là mình đang thực tập thiền. Sự thực tập này, nếu được chỉ dẫn đúng mức, có thể đem lại sự thoải mái và an lạc ngay trong lúc thực tập.

    Thực tập thiền có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu cho cả thân và tâm, đem lại nguồn vui sống cho người thực tập và cho những người xung quanh. Không phải chỉ đi vào chùa hoặc thiền viện mới thực tập được thiền. Sống trong xã hội, đi làm, chăm sóc gia đình, ta cũng có thể tập thiền được.

    Niệm :

    Niệm là nguồn năng lượng giúp ta ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, trong thân, tâm ta và trong hoàn cảnh. Tiếng phạn là smrti . Nói cho đầy đủ là chánh niệm ( samyaksmrti ). Những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại trong lĩnh vực thân, tâm và hoàn cảnh thì nhiều lắm, ta không thể nhận diện được tất cả một lượt. Nhưng ta có thể nhận diện những gì nổi bật nhất, hoặc nhận diện những gì mà ta cần nhận diện nhất. Nếu ta để ý tới hơi thở vào và hơi thở ra và nhận diện được đấy là hơi thở vào hoặc hơi thở ra, đó gọi là phép niệm hơi thở . Nếu ta để ý tới bước chân và nhận diện được từng bước chân ta đặt lên sàn nhà hoặc mặt đất, đó gọi là phép niệm bước chân . Ta có thể gọi đó là chánh niệm về hơi thở hoặc chánh niệm về bước chân.

    Niệm bao giờ cũng là niệm một cái gì, nghĩa là niệm luôn luôn có đối tượng của niệm. Nếu ta đang giận mà ta có ý thức được là ta đang giận, đó gọi là niệm cơn giận . Trong lúc ta thực tập như thế, có hai loại năng lượng đang biểu hiện trong ta: năng lượng đầu là cái giận, năng lượng thứ hai là chánh niệm do ta chế tác bằng bước chân hoặc bằng hơi thở chánh niệm. Năng lượng thứ hai nhận diện và ôm ấp năng lượng thứ nhất. Nếu sự thực tập kéo dài năm bảy phút thì năng lượng chánh niệm sẽ đi vào trong năng lượng giận hờn, và sẽ có sự thuyên giảm và chuyển hóa. Năng lượng niệm mang theo nó năng lượng định, (chú tâm) và năng lượng này có thể làm phát sinh năng lượng tuệ (tuệ giác) có thể chuyển hóa được cơn giận thành năng lượng của hiểu biết, chấp nhận, xót thương và hòa giải.

    Trong đời sống hàng ngày tâm ta thường có khuynh hướng nhớ tưởng về quá khứ hoặc lo lắng cho tương lai. Thân ta có mặt nhưng tâm ta không có mặt. Chánh niệm là năng lượng giúp ta đưa tâm về lại với thân để ta có mặt đích thực trong giờ phút hiện tại. Có mặt như thế để có thể tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống trong ta và chung quanh ta. Theo tinh thần thiền, sự sống chỉ có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Bụt dạy: "Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, sự sống chỉ có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại" (Kinh Bhaddekaratta, Trung Bộ 131).

    Tiếp xúc được với những gì nhiệm mầu có mặt trong giây phút hiện tại là để được nuôi dưỡng và trị liệu. Nếu năng lượng chánh niệm đã trở nên vững vàng, ta có thể sử dụng nó để nhận diện và ôm ấp những nỗi khổ niềm đau của ta (như giận thù, tuyệt vọng, tham đắm, bạo động, ghen tuông, v.v..) để có thể chuyển hóa chúng từ từ. An trú được trong hiện tại có thể đưa đến sự trị liệu mầu nhiệm: một phen an trú được trong hiện tại là ta có thể vượt thoát ra ngoài những nanh vuốt của sự tiếc thương và vương vấn về quá khứ hoặc những lo lắng và sợ hãi về tương lai, những năng lượng tiêu cực thường đưa tới các chứng bệnh tâm thần.

    Có bốn lĩnh vực làm đối tượng cho sự tu tập chánh niệm: thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý (danh từ chuyên môn là thân, thọ, tâm, pháp, tứ niệm xứ ) (Kinh Niệm Xứ, Trung A Hàm 98).
    Năng lượng chánh niệm khi nhận diện thân thể (body) giúp ta trở về thân thể với niềm ưu ái: trong khi theo dõi phép quán niệm hơi thở ta chiếu cố tới thân thể ta, giúp cho thân thể được buông thư (danh từ chuyên môn: an tịnh thân hành), phép thực tập này rất hữu hiệu để đối phó với sự căng thẳng của thần kinh và của cơ thể (stress). Ta có thể thực tập phép an tịnh thân hành trong tư thế nằm cũng như tư thế ngồi. Sự thực tập này giúp cho cơ thể tự trị liệu lấy một cách tự nhiên (Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Trung8 Bộ, 11). Trong trường hợp ta đang chữa trị bằng thuốc men thì phép an tịnh thân hành này có thể giúp cho ta bình phục mau chóng hơn, ít nhất là ba lần.

    Thực tập phép niệm thân ta cũng sẽ biết ăn uống và tiêu thụ trong chánh niệm để đừng đưa vào cơ thể những thức ăn thức uống có độc tố gây nên tật bệnh. Thực tập niệm thân còn giúp ta đi, đứng, hành xử và làm việc một cách thảnh thơi và nâng cao phẩm chất của sự sống hàng ngày.

    Sự thực tập chánh niệm hướng về cảm thọ (feelings) giúp ta nhận diện những cảm thọ đang có mặt: cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ khó chịu (khổ thọ) và cảm thọ trung tính (xả thọ). Nếu đó là một cảm thọ dễ chịu, ta biết được là cảm thọ đó phát xuất từ đâu và sẽ có tác dụng lâu dài như thế nào vào thân tâm, tác dụng nuôi dưỡng hoặc tàn phá. Nếu đó là một cảm thọ khó chịu, ta cũng biết được là nó đã phát xuất từ đâu, và năng lượng chánh niệm sẽ làm dịu lại cảm thọ đó và cuối cùng với năng lượng định và tuệ ta có thể chuyển hóa nó. Nếu cảm thọ ấy là trung tính thì với chánh niệm nó sẽ trở thành một cảm thọ dễ chịu. Ví dụ: Khi nhức răng, ta có khổ thọ. Ta nghĩ nếu hết nhức răng ta sẽ có lạc thọ. Nhưng thường thường trong giờ phút không nhức răng mà ta chỉ có xả thọ. Ý thức về điều này, sẽ giúp ta chuyển xả thọ thành lạc thọ (sensation du bien-être, the feeling of well-being).

    Thực tập chánh niệm hướng về tâm ý giúp ta nhận diện được tất cả các hiện tượng tâm ý thường phát hiện trong tâm thức như vui, buồn, thương, ghét... Theo tâm lý học đạo Bụt, ta có 51 loại hiện tượng tâm ý (gọi là tâm hành, cittasamskara), gồm có những tâm ý tích cực như thương mến, bao dung, những tâm ý tiêu cực như giận hờn, tuyệt vọng, và những tâm ý bất định như tư duy, hối tiếc.

    Nhận diện là để tìm tới cội nguồn của những tâm hành ấy để biết rõ bản chất chúng và để chuyển hóa chúng. Ví dụ: chứng trầm cảm (depression). Nhận diện trầm cảm với năng lượng chánh niệm ta có cơ hội nhìn thấu bản chất và cội nguồn của nó để biết được những nguyên do xa gần đã làm cho nó có mặt. Với năng lượng của niệm, định và tuệ ta có thể khám phá ra được bản chất của khối trầm cảm. Dùng chánh niệm để chăm sóc trầm cảm, để đưa tâm ý tiếp xúc với những hiện tượng tươi mát có hiệu năng nuôi dưỡng và trị liệu, ta có thể làm thư nhẹ chứng trầm cảm. Dùng chánh niệm để đừng sử dụng, tiếp xúc và tiêu thụ những hình ảnh, âm thanh và ý tưởng có công dụng đưa tới những sự căng thẳng, lo lắng và buồn phiền, không cho chứng trầm cảm được tiếp tục nuôi dưỡng bởi những độc tố đó, ta có thể chuyển hóa được trầm cảm.

    Hiện trên trế giới, nhất là ở Tây phương, đã có nhiều nơi áp dụng phép thực tập chánh niệm để đối trị các chứng đau nhức, trầm cảm và giải tỏa tình trạng căng thẳng trong thân tâm. Tại Trung Tâm Y học trường Đại Học Massachusetts chẳng hạn, có giáo sư Jon Kabat-Zinn, một giáo sư y khoa giỏi về thiền chánh niệm, đang điều khiển một chương trình trị liệu gọi là The Program of the Stress Reduction Clinic, chữa trị cho các chứng đau nhức, stress và tật bệnh khá hữu hiệu. Chương trình này sử dụng phép thiền chánh niệm. Tại các phân khoa Y Học các trường đại học lớn như Harvard, UCLA, v.v.. cũng có những cơ sở nghiên cứu và áp dụng thiền tập vào sự chữa trị tâm bệnh và thân bệnh.

    Tại trường Đại Học Y Khoa Harvard có Viện Tâm/Thân Y Khoa (Mind/Body Medical Institute) do giáo sư Herbert Benson sáng lập và điều hành, cũng đang nghiên cứu, truyền dạy và áp dụng thiền trong việc chữa trị. Viện này đã liên tục hoạt động từ 35 năm nay. Giáo sư Benson báo cáo: Trong viện chúng tôi có nhiều nhà khoa học, y học, tâm lý học, giáo dục học và y tá đã từng được đào tạo tới mức khá cao: các vị ấy sau khi hướng dẫn những cuộc nghiên cứu tìm tòi và thực nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã công nhận rằng thiền tập có thể đem lại được rất nhiều mặt trị liệu. Chúng tôi đã phát triển được những chương trình y tế có thể đem tới những phương thức chữa trị có hiệu năng làm thuyên giảm những triệu chứng bệnh hoạn do sự căng thẳng tâm trí tạo ra. Trên 30 năm qua, các phòng thí nghiệm của trường Đại Học Y Khoa Harvard đã nghiên cứu một cách có hệ thống những lợi ích của sự hỗ tương ảnh hưởng giữa thân và tâm.

    Những cuộc nghiên cứu ấy đã chứng nghiệm rằng mỗi khi ta lặp lại liên tiếp nhiều lần một câu kinh, một câu thiền ngữ hay một âm thanh (linh chú, dharani) để cho trạng thái tán loạn của tâm ý không thể xâm nhập thì trong những lúc ấy sẽ có những biến chuyển sinh lý thuận lợi xẩy ra: những biến chuyển này đi ngược nhiều với những biến chuyển đã từng mang lại sự căng thẳng tâm trí. Những cuộc nghiên cứu ấy đã chứng minh rằng các biến chuyển do thiền tập đem lại rất có lợi lạc bởi vì chúng có hiệu năng giúp cho sự chữa trị những triệu chứng như huyết áp cao, nhịp đập trái tim không đều, các chứng đau nhức kinh niên, chứng mất ngủ, chứng đánh mất khả năng sinh dục, những triệu chứng của bịnh ung thư và còn nhiều triệu chứng khác nữa.

    Thực tập chánh niệm hướng về đối tượng tâm ý (đối tượng tâm ý: objects of mind) nghĩa là tất cả những đối tượng của tri giác ta: núi, sông, cây, cỏ, người, vật, xã hội, v.v..) ta có cơ hội nhìn sâu để thấy được tự tính vô thường và liên hệ sinh khởi và tồn tại của mọi hiện tượng. Khi năng lượng của niệm, định và tuệ đã hùng hậu, ta đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại và ta đạt tới tự do lớn, không còn vướng mắc vào sự sợ hãi, thèm khát, hận thù và tuyệt vọng. Bụt và các vị hiền thánh đã đạt tới cái thấy ấy cho nên họ có tự do lớn, gọi là giải thoát. Thực tập thiền, chúng ta cũng đạt được tới tự do, và dù tự do của ta tuy chưa lớn, nhưng chúng ta cũng đã tháo gỡ được rất nhiều tri giác sai lầm và thành kiến, do đó ta không còn đau khổ nhiều như trước mà lại có thể có nhiều an lạc trong sự sống hiện tại.

    Niệm (smrti), Định (samadhi) và Tuệ (prajna) là những năng lượng chế tác ra do sự thực tập thiền. Thiền học đã có mặt tại Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ ba với thiền sư Tăng Hội (Thân phụ thầy là người nước Khương Cư (Sogdiane, Bắc Ấn Độ) qua Giao Châu buôn bán, và thân mẫu thầy là người Việt). Thiền sư Tăng Hội được đào tạo tại Giao Châu và đến năm 255 đã sang Bành Thành (Nam Kinh bây giờ), kinh đô nước Đông Ngô, để truyền bá thiền học. Ông đến nước Ngô trước ngày thầy Bồ Đề Đạt Ma tới nước Lương gần 300 năm. Nước ta từ xưa đến nay đã từng có nhiều vị thiền sư nổi tiếng (xem sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội.) Ngoài những thiền sư xuất gia ta cũng lại đã có những thiền sư cư sĩ cự phách như Trần Cảnh (Trần Thái Tông, tác giả sách Khóa Hư Lục) và Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung, anh cả của tướng Trần Hưng Đạo) v.v..

    Thiền đã là một viên đá nền tảng cho nền văn minh Việt Nam. Văn chương, triết lý và nếp sống đạo đức tâm linh người Việt chứa đựng rất nhiều yếu tố thiền. Thực tập thiền giúp ta xóa bỏ thái độ cố chấp, giáo điều, trở nên bao dung, độ lượng, biết hiểu, biết thương sâu sắc hơn và chuyển hóa được nhiều đau khổ trong tâm như thèm khát, vướng mắc, kỳ thị, hận thù, nhỏ nhen, ích kỷ, sợ hãi, tuyệt vọng...

    Người Tây phương từ cuối thế kỷ 20 đã bắt đầu chú ý tới thiền và rất đông người, nhất là giới trẻ và giới trí thức, đã tìm tới để học hỏi và thực tập thiền. Những tiện nghi vật chất không đủ để làm ra hạnh phúc. Những sầu khổ ưu tư và thắc mắc của ta chỉ có thể được giải đáp bằng một đời sống tâm linh. Đạo Bụt và sự thực tập thiền hiện đang đáp ứng cho đông đảo quần chúng về những nhu yếu đó. Đạo Bụt có khả năng đi đôi với tinh thần khoa học, hợp tác với khoa học trong lĩnh vực khám phá những sự thực tâm linh, sinh học và vật lý học. Đạo Bụt rất chuộng thực nghiệm và Bụt Thích Ca thường khuyên dạy đệ tử không nên mất thì giờ luận thuyết về những chuyện siêu hình.


    Các sách nên đọc: Sen Búp Từng Cánh Hé (thiền tập có hướng dẫn) Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức, Con Đường Chuyển Hóa, Từng Bước Chân An Lạc, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Thiền Hành Yếu Chỉ, Trái Tim Của Bụt, Đường Xưa Mây Trắng (nhà xuất bản Lá Bối, địa chỉ: 1037 E. Taylor, San Jose, CA 95112, Hoa Kỳ.)

    Kết Sử:

    Kết sử (phạn: samyojana) là những gút thắt hoặc những khối đam mê, đè nén, sợ hãi, lo lắng, v.v.. đã kết tụ lại trong chiều sâu tâm thức (đạo Bụt gọi là tàng thức), có khả năng trói buộc và sai sử ta làm, nói và nghĩ những điều ta thật sự không muốn làm, nói và nghĩ. Kết sử được gieo trồng và nuôi lớn bằng nếp sống không chánh niệm hàng ngày. Chánh niệm có khả năng nhận diện chúng mỗi khi chúng phát hiện trên bề mặt của tâm thức (đạo Bụt gọi là ý thức). Những kết sử này đã được hình thành trong quá khứ, có khi dưới dạng thói quen (tập khí) được cha mẹ trao truyền lại trong gia sản di truyền. Ta không cần đi về quá khứ để tìm kiếm, không cần phải đào bới trong ký ức (như trong phân tâm liệu pháp) để tìm ra nguyên do của những rối nhiễu về tâm trí. Năng lượng chánh niệm có khả năng nhận diện những kết sử khi chúng phát hiện và nhìn sâu vào chúng, ta đã có thể thấy được cội nguồn của những rối nhiễu kia.

    Thiền pháp chánh niệm chú trọng tới giây phút hiện tại, thấy rằng nhìn sâu vào hiện tại ta có thể thấy được cả quá khứ và tương lai. Mười loại kết sử chính là: đam mê (tham), thù hận (sân), tri giác lầm lạc (si), tự cho mình là hơn người, kém người hay bằng người (mạn), nghi ngờ (nghi), cho rằng hình hài này là ta (thân kiến), nhận thức nhị nguyên (biên kiến), có những cái thấy sai lầm (tà kiến), cố chấp, không có khả năng buông bỏ nhận thức hiện tại để có thể vượt tới một nhận thức cao hơn (kiến thủ), và mắc kẹt vào các tư tưởng mê tín, dị đoan và hình thái nghi lễ (giới cấm thủ kiến). Sức khỏe và hạnh phúc của ta tùy thuộc rất nhiều tới sự chuyển hóa những kết sử nói trên.

    Mạn:

    Thiền tập giúp ta thấy được tính tương quan tương duyên của vạn vật: không có hiện tượng nào (người hay vật) có thể tự mình sinh khởi và tồn tại độc lập. Cái này phải nương vào cái kia mà sinh khởi và tồn tại. Đó là cái thấy duyên sinh, có khi gọi là tương tức hoặc vô ngã . Vô ngã nghĩa là không có một thực tại biệt lập và vĩnh hằng nào nằm trong lòng sự vật. Tất cả đều chuyển biến (vô thường) hàng giờ hàng phút. Cha và con chẳng hạn không phải là hai thực tại biệt lập: cha có trong con và con có trong cha, con là sự tiếp nối của cha về tương lai, cha là sự tiếp nối của con về nguồn cội. Hạnh phúc của con có liên hệ tới hạnh phúc của cha; nếu cha không có hạnh phúc thì hạnh phúc của con cũng không thể nào toàn vẹn.

    Vì cái này liên hệ tới cái kia, cái này nằm trong cái kia, không có cái kia thì cái này không có (thử hữu cố bỉ hữu, thử vô cố bỉ vô, kinh Tạp A Hàm) cho nên bản chất của vạn hữu là vô ngã. Người có tuệ giác không thấy có những cái ta riêng biệt và độc lập. Trong giới tâm lý trị liệu, có mặc cảm mình thua kém người (low self-esteem) là một chứng bệnh. Trong thiền học, có mặc cảm hơn người hay có mặc cảm bằng người cũng vẫn còn là bệnh. Bởi vì cả ba thứ mặc cảm đều được xây dựng trên ý niệm về một cái ta riêng biệt. Cả ba thứ mặc cảm đều được gọi là mạn (ưu mạn, liệt mạn, đẳng mạn). (Kinh Tam Di Đề, Tạp A Hàm, 1078). Những khổ đau do giận hờn, ganh tỵ, thù hận, tủi hổ, v.v.. gây ra chỉ có thể được hoàn toàn chuyển hóa khi ta đạt tới cái thấy vô ngã. Đây là nền tảng sự thực tập trị liệu của thiền.

    Tàng thức:

    Thiền sư Thường Chiếu (đời Lý) dạy rằng nếu biết được đường lối vận hành của tâm thì sự thực tập thiền sẽ trở nên dễ dàng. Tâm lý học đạo Bụt rất phong phú. Duy Thức Tông của đạo Bụt nói tới tám thức: năm thức cảm giác, ý thức, mạt na thức và tàng thức. Mạt na là năng lượng bám víu vào ý tưởng có một cái ta riêng biệt độc lập và thường tại, đối lập với những cái không ta. Tàng thức (alaya) là phần sâu thẳm nhất của tâm thức, chứa đựng tất cả những hạt giống (chủng tử, Phạn: bija) của tất cả các tâm hành như buồn, vui, giận ghét, v.v..

    Những hạt giống này khi được tưới tẩm hoặc tiếp xúc thì phát hiện lên ý thức thành những vùng năng lượng. Tàng thức giống như một mảnh vườn chứa đủ các loại hạt giống, còn ý thức thì giống nhưngười làm vườn.
    Trong công phu thiền tập, ý thức làm việc nhưng tàng thức cũng làm việc âm thầm ngày đêm. Vô thức của tâm lý học Tây phương chỉ là một phần của tàng thức. Nhận diện và chuyển hóa những kết sử nằm sâu trong tàng thức đưa tới sự giải thoát và trị liệu. Đó gọi là chuyển y (asrayaparavritti) nghĩa là sự chuyển hóa được thực hiện ngay ở cơ sở hạ tầng của tâm thức.

    Sự lưu thông của tâm hành:

    Khi những ước muốn, sợ hãi hoặc uất ức bị dồn nén, sự lưu thông của các tâm hành có thể bị tắc nghẽn và nhiều biến chứng có thể xảy ra trong lĩnh vực thân và tâm. Tuy bị dồn nén, chúng vẫn có tác dụng sai sử và ràng buộc ta, vì vậy chúng là những khối kết sử quan trọng. Ta có thói quen lẩn tránh chúng, làm như chúng không có mặt, và vì vậy để cho chúng không có cơ hội trồi lên hoặc phát hiện trên ý thức. Ta đi tìm sự quên lãng trong tiêu thụ. Ta không muốn trở về với ta, vì ta có cảm tưởng khi trở về với ta, ta sẽ phải đối diện với những nỗi khổ đau và những niềm thất vọng ấy. Ta muốn cho ý thức (phòng khách) được chiếm cứ để các nỗi khổ niềm đau (nằm dưới nhà kho) trong ta không có chỗ phát hiện.

    Vì vậy ta xem truyền hình, nghe truyền thanh, xem sách, đọc báo, nói chuyện, đánh cờ, bài bạc, uống rượu, v.v.. để tìm lãng quên. Có thể ta không ý thức rằng ta tiêu thụ, và giải trí như thế chỉ là để cho ý thức bên trên luôn luôn bận rộn và để cho các kết sử bên dưới không có dịp trào lên. Đó là sự dồn nén; sự dồn nén này tạo ra tình trạng thiếu lưu thông của các tâm hành. Cũng như khi máu huyết không được lưu thông thì nhiều triệu chứng bệnh hoạn xuất hiện nơi cơ thể, khi các tâm hành bị dồn nén không lưu thông thì các triệu chứng tâm bệnh (và cả thân bệnh nữa) cũng bắt đầu xuất hiện. Vì vậy ta phải can đảm chấm dứt sự dồn nén, để các tâm hànhước muốn, sợ hãi hoặc uất ức được dịp phát hiện, nhận diện và chuyển hóa.

    Nếu không thực tập thiền, nếu không có năng lượng của chánh niệm thì ta không đủ sức làm việc này. Cho nên chế tác chánh niệm bằng thiền tập hàng ngày giúp ta nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau của ta. Nếu không có năng lượng chánh niệm thì ta không có khả năng đối diện và xử lý chúng, và ta sẽ bị chúng làm cho tràn ngập. Mỗi lần nhận diện và ôm ấp (chứ không phải đè nén hoặc đàn áp) thì những năng lượng tiêu cực kia sẽ yếu bớt đi một chút, và dăm bảy phút sau đó (có khi lâu hơn) chúng sẽ trở về tàng thức dưới dạng những hạt giống. Lần sau phát hiện, chúng cũng sẽ được nhận diện ôm ấp như thế và cũng sẽ trở về tàng thức. Như vậy, ta không còn sợ hãi chúng, đàn áp chúng, dồn ép chúng như thế và tình trạng lưu thông của tâm ý sẽ được thiết lập trở lại, và những biến chứng tâm lý về cơ thể kia sẽ không còn.

    Mũi tên thứ hai:

    Chánh niệm trước hết là khả năng nhận diện đơn thuần (mere recognition) về sự có mặt của một đối tượng, không phê phán, không xét xử, không tham đắm vào đối tượng ấy, cũng không chán ghét xua đuổi đối tượng ấy, và nhất là không xem thường hoặc không quan trọng hóa nó. Ví dụ: ta có một vùng đau nhức trong cơ thể. Ta chỉ nhận diện sự đau nhức ấy. Với năng lượng của định và tuệ ta có thể thấy và hiểu được tầm quan trọng và nguyên do đích thực của vùng đau nhức ấy, và sự chữa trị sẽ được căn cứ trên tuệ giác mà niệm và định đem lại.

    Nếu ta lo lắng nhiều quá, nếu ta tưởng tượng nhiều quá, thì những lo lắng và những tưởng tượng ấy sẽ làm ta căng thẳng, và sự đau nhức sẽ tăng lên. Nó không phải là ung thư mà ta tưởng tượng nó là ung thư và ta có thể lo lắng và sầu não đến mất ngủ. Khổ đau vì thế tăng lên gấp bội và sẽ đưa tới một tình trạng nghiêm trọng hơn. Trong kinh Tạp A Hàm Bụt đưa ra ví dụ về mũi tên: nếu một mũi tên thứ hai bay tới và cắm đúng ngay vào vết thương gây ra do mũi tên đầu thì sự đau nhức sẽ không nhân thành hai mà sẽ nhân thành mười. Vì thế ta đừng để cho một mũi tên thứ hai hay một mũi tên thứ ba (tưởng tượng và lo lắng) bay đến.


    Tai họa của dục:

    Theo thiền quán, hạnh phúc chân thực là sự có mặt trong giây phút hiện tại, khả năng tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống có mặt trong giây phút ấy và khả năng hiểu biết, thương yêu chăm sóc và làm hạnh phúc cho những người chung quanh. Đeo đuổi theo những đối tượng của dục như tiền tài, danh vọng, quyền hành và sắc dục, người ta đã không tạo dựng được hạnh phúc chân thật mà còn tạo ra nhiều khổ đau cho bản thân và cho kẻ khác. Con người đầy dẫy ham muốn và ngày đêm chạy theo dục là con người không có tự do; không có tự do thì không có thảnh thơi, không có hạnh phúc. Ít ham muốn (thiểu dục), bằng lòng với một nếp sống giản dị và lành mạnh (tri túc) để có thì giờ sống sâu sắc từng phút giây của sự sống hàng ngày và chăm sóc thương yêu cho những người thân, đó là bí quyết của hạnh phúc chân thật.

    Trong xã hội bây giờ, quá nhiều người đang đi tìm hạnh phúc trong đường hướng của dục, vì vậy chất lượng của khổ đau và tuyệt vọng đã tăng trưởng rất nhiều. Kinh Ở Rừng (Samyutta Nikaya 194) nói tới dục như một chiếc bẫy. Bị sập vào bẫy dục, người ta sầu khổ mất hết tự do, và không thể nào có được hạnh phúc chân thật. Sợ hãi và lo lắng cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự tạo tác khổ đau. Nếu ta có đủ tuệ giác để chấp nhận một nếp sống thiểu dục và tri túc thì ta sẽ không cần phải lo lắng và sợ hãi nữa. Chỉ vì nghĩ rằng ngày mai ta có thể mất công ăn việc làm và sẽ không thể có được lương bổng hàng tháng như bây giờ nên ta thường trực sống trong sự lo lắng phập phồng. Do đó con đường tiêu thụ ít và có hạnh phúc nhiều, được xem như là con đường thoát duy nhất của nền văn minh hiện tại .

    Thích Nhất Hạnh

    (Nguồn: TVHS)
     
  5. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Thiền để... học ngoại ngữ


    Tại một căn phòng nhỏ trong khu tập thể Đồng Xa (Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội), giữa tiếng nhạc nền vang ngân nhè nhẹ, gần 20 bạn trẻ ngồi thiền. Họ đang học... ngoại ngữ.
    Không phải là chuyện cao siêu, thần bí

    Mặc dù đã được giới thiệu từ trước, nhưng khi được tận mục sở thị lớp học tiếng Anh độc đáo này, tôi vẫn ngạc nhiên.

    Giáo sư Lê Khánh Bằng, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Lý luận dạy học, khoa Tâm lý, Đại học Sư phạm Hà Nội, người sáng lập và trực tiếp giảng dạy, vui vẻ chỉ cho tôi các bước tiến hành buổi học.

    Ngồi thiền trong tiếng nhạc nhẹ nhàng là khâu đầu tiên, giúp người học thư thái đầu óc và chuẩn bị tinh thần tốt nhất để thu nhận tri thức. Tiếp đó là một loạt hoạt động khác đòi hỏi sự tập trung cao độ: Suy nghĩ 3 phút về chủ đề - 3 phút nói - viết 4 phút trong óc, 3 phút tranh luận cùng bạn bè....

    Thầy Bằng chia sẻ: “Phương pháp học ngoại ngữ bằng thiền khá mới mẻ ở Việt Nam. Thời gian đầu, không ít người hoài nghi, cho rằng nó mơ hồ, vô căn cứ.




    Chính bản thân tôi cũng chưa thực sự tin tưởng. Nhưng trải qua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện dần cách thức thực hiện, tôi biết mình đang đi đúng hướng và phương pháp này sẽ đem lại kết quả đáng kinh ngạc với những ai thực sự nỗ lực”.

    Thiền là phương pháp dưỡng sinh cổ điển của Ấn Độ. Đó là sự rèn luyện năng lực tập trung không cho tạp niệm xen vào, giúp ý chí sáng suốt, thanh thản. Hoàn thiện một bài tập thiền đầy đủ rất phức tạp, ở đây, khi áp dụng vào phương pháp dạy và học ngoại ngữ nó dùng để phát huy khả năng tập trung cao độ và huy động tối đa nội lực của người học.

    Xã hội hiện đại với lối sống nhanh, sống gấp, con người tiếp cận thông tin, tri thức chủ yếu thông qua nghe nhìn, vô hình trung đánh mất thói quen tập trung tư duy, suy nghĩ tĩnh tại, trí nhớ cũng suy giảm. Thiền giúp con người lấy lại cân bằng, tăng cường năng lực tư duy, khả năng ghi nhớ được cải thiện đáng kể.

    Điểm trọng tâm của phương pháp học này là tạo ra được vùng ngoại ngữ trong vỏ não. Người Việt học ngoại ngữ thường quen với lối suy nghĩ bằng tiếng Việt, sau mới dịch ra các thứ tiếng khác.

    Đến đây, bạn buộc phải tập suy nghĩ bằng ngoại ngữ, hình thành một chuỗi tư duy liền mạch về chủ đề nhất định, có vậy mới hiểu và tranh luận nhanh được với các bạn cùng lớp trong thời gian giới hạn.

    Một cách sống... chậm giữa bộn bề lo toan

    Đa số các học viên tìm đến lớp học do tò mò, họ bày tỏ sự băn khoăn và hoài nghi.

    Đặng Hồng Tươi, sinh viên khoa Tin học - Học viện Kỹ thuật Quân sự, nhớ lại: “Thiền với mình là khái niệm xa lạ. Mình từng nghĩ thiền chỉ phù hợp với các nhà sư hay những cụ ông cụ bà theo đạo Phật. Chưa bao giờ mình nghĩ thiền sẽ dành cho giới trẻ, lại càng không nghĩ rằng có thể sử dụng thiền trong học ngoại ngữ”.

    Bùi Thị La, sinh viên năm thứ ba, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng trăn trở: “Học ngoại ngữ và thiền là hai chuyện khác nhau. Kết hợp hai việc đó lại thì thật sự rất khó hiểu”.

    Tuy nhiên chỉ sau vài buổi học, các bạn đã bị chinh phục. Bởi bản chất của học ngoại ngữ bằng thiền không phải một phép màu hay điều gì quá cao siêu, kỳ bí... đơn giản là giúp rèn luyện sự tĩnh tại, tập trung, cách tư duy sáng tạo... sao cho hiệu quả nhất.

    Theo giáo sư Bằng, người học nắm vai trò chủ động và quyết định tới sự tiến bộ của bản thân. Lớp học chỉ mang tính giới thiệu phương pháp, vận dụng ra sao, luyện tập như thế nào là phụ thuộc ở mỗi người.

    Hình thành được trung khu ngoại ngữ ổn định không đơn giản. Nó đòi hỏi sự luyện tập nghiêm túc, đều đặn, thông thường khoảng từ 1- 2 tiếng mỗi ngày. Lúc học hoàn toàn phải nói, viết và suy nghĩ bằng ngoại ngữ.

    Ai cũng có thể học bằng thiền

    Thiền là quá trình tu luyện gồm những biện pháp thể dục tâm lý.

    Khi thiền, ta phải ổn định hoạt động tâm thể bằng điều hòa hơi thở, trên cơ sở ấy tập trung ý nghĩ vào những bộ phận nào đó của cơ thể, hoặc những giáo lý cơ bản, những vấn đề mình quan tâm.

    Đây là kỹ thuật điều khiển tinh thần, giúp con người sử dụng bộ não triệt để, động viên được những năng lực tiềm ẩn.

    Thiền có thể quy ước phân làm hai loại: Thiền tĩnh và thiền động.

    Tĩnh là ngồi yên (có thể nhắm mắt hay mở mắt), tập trung suy nghĩ vào hơi thở (thở sâu, êm, nhẹ) hoặc vào một vấn đề nào đó (bài học).

    Động là tập trung suy nghĩ vào một vấn đề nào đó (một chủ đề, một công việc). Đồng thời có thể dùng các động tác để thể hiện vấn đề đó, như viết, nói, cử động chân tay.


    Kể từ khi lớp học ngoại ngữ bằng thiền đầu tiên ra đời, đến nay đã trải qua 24 khóa.

    Các học trò của thầy Bằng có người là tiến sĩ, giám đốc, giảng viên..., cũng có bạn đang là sinh viên đại học, học sinh tiểu học, THPH...

    Song họ đều nỗ lực cải thiện đáng kể trình độ ngoại ngữ của mình.

    Lê Thị Hoàng Hằng, giảng viên Đại học Nông nghiệp 1, vui vẻ: “Sau năm buổi học, dưới sự chỉ bảo tận tình của thầy, tôi đã tìm thấy điều mà nhiều năm qua tôi trăn trở tìm kiếm đó là phương pháp học tiếng Anh”.

    Lê Thùy Linh, học sinh lớp 12, THPT chuyên ngữ, Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội không giấu niềm sung sướng sau buổi học đầu tiên:

    “Em tự tập thử học bài “Such is life” theo cách thầy Bằng dạy, chỉ mất khoảng gần một tiếng đồng hồ chứ không mất quá nhiều thời gian như trước đây”.

    Chị Bùi Thị Khánh Vân, kế toán trẻ của Techcombank nhắc lại cảm giác tự ti về vốn ngoại ngữ “khiêm tốn” của mình. “Nó khiến tôi mất đi nhiều cơ hội làm việc và rụt rè trong giao tiếp”.




    Nhưng nỗ lực áp dụng phương pháp học thiền, tôi đã có thể nói tiếng Anh lưu loát và trôi chảy hơn, thậm chí có thể suy nghĩ được bằng tiếng Anh trong nhiều trường hợp”.

    Tiếng lành đồn xa, các bạn trẻ tìm đến lớp học ngoại ngữ của thầy Bằng ngày một đông. Học thiền, họ không chỉ khám phá được một phương pháp hiệu quả, mà hơn thế, còn tìm lại những giây phút sống chậm, tìm lại sự bình yên thư thái trong tâm hồn.



    Phạm Huệ - Huyền Trang (Theo Tiền Phong)
     
  6. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Thiền chữa trị thân tâm


    Bất cứ dược phẩm nào được tìm ra trong thế giới, dù nhiều và đa dạng, không có thứ nào bằng Pháp (trích từ Milindapanha). Ngày nay, những nguyên tắc và những thực hành Chánh niệm (sati) và Thiền quán Minh sát (vipassanà) của Phật giáo đã được áp dụng cho nhiều mặt phức hợp của đời sống hiện đại. Ở nhiều quốc gia, ngành y đang phối hợp những thực hành thiền Phật giáo vào nhiều mặt chữa trị.




    PROF. K. T. S SARAO - THIỆN TRI THỨC dịch (Theo Giác Ngộ online)


    Thoạt nhìn, có vẻ đó là một phối hợp lạ thường - sự tu tâm ở tu viện với khoa Sinh học duy vật, nhưng nhìn sát sao hơn thì cả hai bên đều phát lộ tính tương hợp sâu xa của chúng. Có những cách nhìn mới về mối liên hệ giữa tâm và thân, cùng với những kiểu mẫu mới về tình trạng khỏe mạnh. Giao diện giữa thiền định và chữa trị đáng để khám phá thêm nữa.

    Bây giờ sự giảm thiểu căng thẳng (stress) dựa vào thiền Minh sát và Chánh niệm được thực hành như một hình thức của Phật giáo nhập thế. Trong Tam tạng Pàli, người ta có thể tìm thấy lặp đi lặp lại nhiều ẩn dụ về chữa lành có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau. Điều này chứng tỏ sự chữa lành là một hệ thức nội tại trong toàn bộ sự tu tập của Phật giáo. Theo nghĩa này, Đức Phật là một đại y sĩ, do lòng bi cho sự an ổn của tất cả chúng sinh, đã tìm ra và chia sẻ một phương cách chữa bệnh cho căn bệnh gốc của đời người. Lời dạy của Phật, tức là Pháp, là phương thuốc chữa lành ấy. Chính xác hơn, đó là đơn thuốc mà mỗi người bệnh phải dùng hợp với phần mình. Khi ấy, Tăng già và cư sĩ là một xã hội giúp đỡ lẫn nhau trên con đường lành bệnh.

    Công thức Bốn chân lý cao cả được đặt cơ sở trên truyền thống y học. Chân lý thứ nhất (bệnh khổ) chỉ ra những triệu chứng hiện bày của một phiền não ẩn tàng. Sự có mặt của già và chết, lo sầu, khổ sở và tuyệt vọng cho thấy tất cả chúng đều thoát thai từ cùng một hoàn cảnh nền tảng: dukkha, khổ đau hay sự bất toại nguyện của thân phận con người. Một người chữa bệnh cũng như một người bệnh, không thể bắt đầu tiến trình chữa lành nếu không chẩn đoán căn bệnh. Chân lý thứ hai (những nguyên nhân của bệnh khổ) gợi ý vai trò của y sĩ như là người chẩn đoán. Chỉ khi hiểu nguyên nhân gây bệnh mới có thể chạy chữa. Phân tích của Phật pháp về tâm và thân cho thấy nguyên nhân là do tham muốn (tanhà). Chân lý thứ ba (hết bệnh khổ) là một tiên lượng đầy hy vọng: loại bỏ khao khát sẽ thành loại bỏ khổ, như sự lành bệnh thân tâm của Đức Phật dưới cội bồ đề, năng lực khỏe mạnh của Ngài hơn bốn mươi lăm năm sau đó của công cuộc thuyết pháp và cứu độ.

    Chế độ chữa trị được trình bày trong chân lý thứ tư của Phật [con đường tám ngành (dẫn đến khỏe mạnh)] kèm theo đơn thuốc của nhiều loại điều trị. Có những khác biệt lớn trong những triệu chứng cá nhân của chỉ một loại bệnh: mỗi người bệnh biểu hiện những triệu chứng khác nhau trên tiến trình chữa trị, mạnh yếu khác nhau, có những thái độ khác nhau và ở trong những môi trường khác nhau. Y sĩ giỏi sẽ cảm nhận những tình huống riêng biệt và điều chỉnh chiến thuật một cách sáng tạo, dù ông ta vẫn rút ra từ những nguyên lý đã được chứng nghiệm và áp dụng một cách mềm dẻo. Suốt 2.500 năm, Phật giáo có sự đồng thuận chung về ba chân lý đầu (bệnh, nguyên nhân của bệnh, hết bệnh), nhưng có sự đóng góp và cách tân nhiều cách khác nhau vào sự thực hành chân lý thứ tư - nghệ thuật chữa lành chính mình.

    Một cuộc bàn luận được kể lại trong kinh Màgandiya (Trường Bộ kinh) giữa Đức Phật và du sĩ Màgandiya về bản chất của sức khỏe. Có một người bị bệnh cùi, sự thống khổ cực độ của anh chỉ dịu bớt khi đốt tay chân bằng than đỏ. Anh tiếp tục cào gãi và đốt thân để có được sự nhẹ bớt tạm thời, dù hành động ấy làm cho hoàn cảnh anh tệ hơn, trầm trọng hơn. Dù mọi người khác đều cho lửa là gây đau đớn, chỉ có người bệnh cùi cho rằng lửa là nguồn thoát khổ. Thời gian sau, anh được chữa lành nhờ một y sĩ cho thuốc, lúc đó anh không còn thích đưa tay chân vào lửa nữa. Nếu những người mạnh nắm lấy anh và đưa anh đến gần lửa, anh sẽ chống cự dữ dội, vì bây giờ anh kinh nghiệm rằng lửa gây đau đớn.

    Câu chuyện này được trình bày trong bối cảnh một đời trước của Đức Phật, khi Ngài là một hoàng tử, Ngài đã tìm sự nhẹ bớt khỏi những rắc rối trong cuộc sống bằng cách theo đuổi dục lạc. Từ sự thức tỉnh và cuộc đời từ bỏ sau đó, Ngài thấu hiểu rằng những theo đuổi như thế không bao giờ đem lại sự nhẹ bớt mà còn làm cho tình cảnh chúng ta xấu thêm. Một trong những bài học quan trọng từ những sự việc này là một sự hiểu biết tinh tế hơn về cái gọi là “sức khỏe”, và nó thích hợp với sự bàn luận của chúng ta về những viễn cảnh áp dụng Phật giáo vào lĩnh vực y học hiện đại.

    Lời khuyên cho Màgandiya tập trung vào câu kệ sau đây: “Cái lớn nhất trong mọi sở đắc là sức khỏe, Niết bàn (sự chấm dứt khổ) là lạc phúc lớn nhất”. Du sĩ Màgandiya ca ngợi bài kệ này là có ý nghĩa vi diệu, nhưng Đức Phật tiếp tục hỏi Màgandiya nghĩ gì khi ông dùng chữ “sức khỏe”. Du sĩ bấy giờ “dùng tay xoa tứ chi mình và nói: “Sức khỏe là thế này… vì bây giờ tôi khỏe khoắn và hạnh phúc và không có gì làm phiền não tôi”. Bằng những loạt chuyện và những ẩn dụ khác trong đó có chuyện một người mù được một y sĩ chữa hết mù lòa, Đức Phật cẩn thận dắt dẫn Màgandiya đến một thấu hiểu sâu xa hơn về sức khỏe là gì. Nó không chỉ là không có khổ sở trong thân vào lúc đặc biệt nào đó, mà hơn nữa đó là một kinh nghiệm an lạc sâu xa khi tâm không còn bám víu vào vui hay khổ.

    Bản thân sự đau đớn nơi thân không là yếu tố quyết định duy nhất cho việc có sức khỏe hay không, thậm chí kinh nghiệm vui sướng, do bản chất vô thường, cũng không bảo đảm cho thảnh thơi hạnh phúc. Theo nghĩa đầy đủ nhất, sức khỏe bao trùm một cảm thức toàn thể nguyên vẹn, bao gồm cả vui - khổ và không tùy thuộc vào có hay không khổ hay vui. Vẫn thường thấy có người bị bệnh kinh niên nhưng căn bản là khỏe mạnh và cũng có người theo đuổi thành công lạc thú nhưng căn bản là bệnh hoạn. Một thí dụ cho trường hợp trước là một người hài lòng, biết cách hài hòa, có cuộc sống đầy đủ nhưng có bệnh mãn tính; và trường hợp sau là một người nghiện, có những phút bay bổng nhưng với cái giá kinh khủng cho thân thể và cho phẩm giá làm người. Sự có mặt của đau đớn trong trường hợp đầu tự nó không đủ để xem người bệnh là không có sức khỏe; và kinh nghiệm lạc thú của trường hợp sau không đủ để xem người bệnh này là khỏe mạnh. Chính xác sức khỏe là như Đức Phật đã giúp Màgandiya hiểu ra, đó là một quan niệm rộng hơn chúng ta thường nghĩ. Đức Phật khuyên Màgandiya “thực hành phù hợp với Chánh pháp”, một câu nói bao gồm cả đạo đức, thiền định và thiền quán. Ở trung tâm của phương thức chữa lành không phải là một loại thuốc đặc biệt nào, mà là sự thấu hiểu rằng nhiều thứ dùng để làm nhẹ đi trước kia chỉ là “những trò vô bổ” làm tệ hại thêm khối phiền não. Điều thiết yếu là Màgandiya đã tự thấu hiểu điều này, chỉ khi ấy ông mới có thể tháo gỡ sự bám víu vốn là gốc của khổ đau. Như kinh nói: "Khi thực hành theo Chánh pháp, ông sẽ tự biết và thấy như vầy: Đấy là những trò vô bổ; nhưng ở đây chúng dứt diệt không còn chút dấu vết. Với sự dừng diệt bám víu… buồn phiền, thống khổ, đau đớn, sầu muộn và tuyệt vọng dừng diệt. Đó là sự dừng diệt của toàn bộ khối khổ đau”.

    Đức Phật nhận rõ bám víu, nắm giữ là thói quen đáp ứng của chúng ta đối với tham muốn và khao khát, cũng là nguyên nhân bệnh tật của chúng ta. Bám vào sự tiếp tục của lạc thú hay bám vào sự ngừng diệt của đau đớn đều không tránh khỏi dẫn đến khổ đau. Bởi vì những đối tượng của mọi bám luyến trong bản thân chúng đều biến đổi, không thỏa mãn, và rốt ráo không phải là một cái gì chúng ta có thể thực sự sở hữu. Điều đáng chú ý nơi sự phân tích này là nó phát hiện khá chính xác cái điểm nơi đó hoạt động thân tâm tự nhiên của con người chuyển đổi thành bệnh tật. Nội dung của kinh nghiệm chúng ta hoàn toàn lành mạnh - quang cảnh và âm thanh, hương, vị, xúc giác làm nên dữ kiện cho thế giới kinh nghiệm của chúng ta thì tự chúng không bao giờ là những nguyên nhân của khổ đau. Tương tự, những tư tưởng và những tri giác chỉ gởi những thông tin để biết, chúng không vui hay khổ. Tất cả chúng đều bình thường (vâng, thậm chí cả kinh nghiệm đau đớn). Nhưng chúng ta đáp ứng kinh nghiệm như thế nào, chúng ta đầu hàng đến mức độ nào động lực theo đuổi lạc thú và trốn tránh đau đớn bằng cách bám víu theo mọi cách - đấy là điểm cốt tử quyết định hoặc chúng ta khổ đau hoặc được tự do chỉ tỉnh giác với kinh nghiệm đủ loại. Chính trong nghĩa này mà một số các vị thầy hiện đại nói, “Đau đớn thì không thể tránh, nhưng khổ não thì có thể chọn lựa”.

    Theo truyền thống, việc người ta đáp ứng như thế nào với kinh nghiệm (đau đớn hay vui thích, mạnh hay yếu) tùy thuộc vào sự có mặt - trong mỗi khoảnh khắc - của những yếu tố vô minh hay trí tuệ. Thực hành Phật giáo là học nhiều cách để vượt qua hoặc né tránh sức mạnh của vô minh tiềm ẩn và dần dần xây dựng những cái thấy và thức tỉnh nhỏ để khai mở trí tuệ. Với sự tiến bộ này, chúng ta càng ngày càng khéo léo hơn trong công việc thách thức là học sống thoát khỏi khổ đau.

    Nhà nghiên cứu tiên phong Hans Selye định nghĩa stress là “sự đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ áp lực hay đòi hỏi nào”. Như Kabat Zinn nêu lên, “những cố gắng hiện thời của chúng ta để đáp ứng với thay đổi và áp lực, bất kể chúng có nguồn từ đâu, tự chúng sẽ dẫn đến suy sụp và bệnh tật nếu chúng không đầy đủ hay không ổn định”. Hơn nữa, Kabat Zinn dẫn ra từ Seligman, “không phải do cái gây ra căng thẳng mà do bạn nhận nó và xử lý nó như thế nào sẽ quyết định đưa đến stress hay không”. Nói cách khác, thế giới không nhất thiết là một nơi chốn của stress, nhưng có nhiều cách sống không lành mạnh của con người trong thế giới sẽ dẫn đến tăng trưởng stress bên trong chúng ta.

    Một phân biệt khác của truyền thống cổ và cả y học hiện đại về giảm stress là sự khác biệt giữa khổ đau thân thể và khổ đau tâm thức. Như Tăng Chi Bộ kinh chỉ ra, “Có hai thứ bệnh… bệnh thân và bệnh tâm. Có những người có thể thoát khỏi khổ về thân trong một năm, hai năm… hay thậm chí cả trăm năm. Nhưng khó tìm thấy những người có thể thoát khỏi bệnh tâm dù chỉ một khoảnh khắc”.

    Trong cái nhìn Phật giáo, như câu chuyện Màgandiya, tất cả chúng ta đều khổ đau vì những quan niệm sai lầm nền tảng về chính chúng ta, về thế giới và bản chất của hạnh phúc hay sức khỏe. Chính trong nghĩa này mà chúng ta có thể bị xem là có “bệnh tâm”, dù chúng ta may mắn có sức khỏe mạnh mẽ suốt cả đời. Dĩ nhiên, bệnh tâm lại do tham bám biểu lộ trong từng giây phút của ý thức.

    Bệnh viện giảm Stress của Kabat Zinn ở Worcester, Massachusetts, Mỹ, thường đối mặt với tình huống nghịch lại - cố gắng giúp đỡ bệnh nhân với những vấn nạn thân thể không thể đảo lại được, như mất một tay chân hay một chẩn bệnh kết cục, khám phá trong chính họ kinh nghiệm toàn thể nguyên vẹn cho phép họ khỏe mạnh trong tâm. Kabat Zinn nói, “Người phải cắt tay… hay người phải đối diện với cái chết vì bệnh không thể chữa đều căn bản vẫn là một toàn thể nguyên vẹn… Chính tiến trình đi tới thỏa thuận với sự việc như chúng là đã bao gồm tiến trình chữa lành”. Chúng ta đã quá quen thuộc với quan niệm rằng sức khỏe phải hoàn toàn dựa vào trạng thái thân thể, đến độ thường phải bị dồn vào hoàn cảnh cùng cực của nhiều bệnh nhân như vậy mới bắt đầu tưởng tượng được là hoàn toàn không phải thế. Sức khỏe thân thể quả thật là phước lớn, nhưng nếu không còn có thể lựa chọn nó được, thì tự do vẫn còn để “đi tới thỏa thuận với sự việc như chúng là” và việc này tạo nên sức khỏe tâm thức. Điều mà hai quan điểm này có chung không chỉ là chúng phân biệt giữa hai chiều kích thân tâm, mà ý tưởng sâu xa hơn là không cần một nối kết tạm bợ giữa hai cái.

    Chúng ta phải cẩn thận lưu ý, nói thế không phải là mỗi hệ thống tư tưởng sẽ tán thành một chủ nghĩa nhị nguyên thân/tâm. Thật sự cả hai cách nhìn đều nhấn mạnh vào sự tương liên chặt chẽ của tâm và thân. Thân và tâm tiếp tục ảnh hưởng lẫn nhau theo nhiều cách, nhưng chỉ vì thân khỏe mạnh không có nghĩa là tâm khỏe mạnh (trong trường hợp trước) và chỉ vì thân bệnh không có nghĩa là tâm cũng bệnh (như trường hợp sau). Cả hai tuyên bố này ngược với cảm nhận của những văn hóa tìm cách gắn chúng với nhau, và trong mỗi trường hợp đều có sự chuyển hóa sự bị quy định của người bệnh. Câu kinh trích dẫn ở trên thậm chí còn đi xa hơn khi cho một thí dụ về sức khỏe của tâm, sẵn sàng và có khả năng “làm quy phục những cảm nhận đau đớn của thân, chúng gây thống khổ, hành hạ, làm xao lãng và bất ổn, khiến cho đời sống bay hơi”. Lời dạy của Đức Phật cho một người đau đớn là hãy huấn luyện chính mình: “Dù thân tôi có bệnh, tâm tôi vẫn không bệnh” (Samyutta Nikaya). Thế nên cách chữa cho tâm, dù đang đương đầu với khổ đau của thân, đơn giản chỉ là tách lìa, không đồng hóa với những uẩn của kinh nghiệm, xem chúng không phải là “của tôi”, mà là “không phải của tôi”. Với sự không sở hữu, không bám luyến, không nắm chấp này, người ta sẽ không bị nhiều ảnh hưởng do những biến đổi không thể tránh mà kinh nghiệm thân tâm phải chịu đựng. Nếu bám chấp vào nội dung của kinh nghiệm, chúng ta sẽ đau khổ vì sự không dứt và biến chuyển của nó. Nhưng nếu chúng ta có thể học để an trụ trong sự tỉnh giác về tiến trình của kinh nghiệm, ghi nhận một cách không dính líu trò chơi sanh khởi, đổi thay và đi mất của hiện tượng, bấy giờ một tâm thức khỏe mạnh khởi lên trên sự khổ não của thân. Kabat Zinn cũng nói tương tự, trong khi làm việc với các bệnh nhân mãn tính:

    "Khi thực hành chiếu soi (scan) thân hay bất kỳ kỹ thuật chánh niệm nào khác, bạn ghi nhận rằng hễ khi bạn đồng hóa với những tư tưởng hay cảm giác trong thân hay với chính toàn thân thể, lúc ấy có nhiều sự hỗn loạn và đau khổ hơn là khi bạn an trụ như là người quan sát không phê phán tất cả mọi thứ đó… Để mặc cho chúng đến rồi đi, bạn có thể đến một điểm mà mọi quan niệm tan biến vào trong tĩnh lặng và chỉ có cái tỉnh giác… Trong sự tĩnh lặng này, bạn đến chỗ biết rằng dù bạn là ai, “bạn” nhất định không phải là thân thể này, dù nó là của bạn để sử dụng… Khi học được điều này, mối tương quan của bạn với đau đớn trong thân sẽ thay đổi sâu xa".

    Về thiền định làm việc để chữa lành khổ đau của tâm, có thể nói thêm rằng tiến trình chữa cho thân được ảnh hưởng tốt bởi sự thực hành chánh niệm tỉnh giác. Ngày nay có sự lưu tâm đáng kể trong y học khi so sánh nhóm người có tích cực đưa tâm mình vào tiến trình chữa bệnh cho thân với nhóm chỉ dựa vào thuốc men theo truyền thống. Có vẻ nhóm trước lành nhanh hơn và khỏi hẳn nhiều hơn.

    Một giải thích là quan điểm cho rằng stress gây áp lực mạnh mẽ lên hệ thống chữa lành tự nhiên của thân, thế nên cái gì làm giảm ảnh hưởng của stress lên thân sẽ giúp cho thân tự chữa lành một cách tự nhiên. Chắc chắn nếu stress làm yếu hệ miễn dịch sẽ làm chúng ta bệnh và có lẽ sự loại bỏ được stress sẽ làm cho thân thể dễ dàng tự phục hồi hơn sau khi đã bị thương tổn. Kabat-Zinn thảo luận quan điểm này trong sách của ông, nói về sự huấn luyện cho các bệnh nhân của ông đáp ứng với stress bằng tỉnh giác thay vì phản kháng lại, vẫn thường gây ra stress. Đây là một lãnh vực háo hức trong y học hiện giờ và vẫn còn nhiều điều cần học về cơ chế của hệ miễn nhiễm kích thích hay cấm chỉ. Không có gì huyền bí đặc biệt về tiến trình này, trong chừng mực mà nó cắm rễ vào lý thuyết sinh học quy ước (có lẽ ngoại trừ giải pháp triết học về khả năng của tâm ảnh hưởng lên hệ thống của thân nhiều như thường thấy).

    Cách giải thích tâm chuyển hóa thân theo Kabat Zinn dựa vào ý niệm tính toàn vẹn và tính liên kết. Ông nói:

    "Khi chúng ta dùng từ chữa lành để diễn tả những kinh nghiệm của người bị stress ở trong bệnh viện, điều đó trước hết là họ đang trải qua một chuyển hóa về quan điểm… Nó là một xa lìa liên tục khỏi sự phân mảnh và cô lập đối với tính toàn thể nguyên vẹn và tính liên kết. Trong những giây phút tịch lặng, bạn đi đến chỗ thấu hiểu rằng bạn vốn là toàn thể nguyên vẹn, vốn là đầy đủ trọn vẹn trong bản thể bạn, dù có thể thân thể đang đau".

    Chính sự thực hành thiền định cho phép chúng ta tiếp xúc với những viễn cảnh tốt đẹp này. Làm yên lặng tâm thức sẽ giảm thiểu những năng lực phân mảnh và cho phép chúng ta kinh nghiệm sự không có xung đột, đó là đặc trưng của sự biểu lộ nơi mình tính toàn thể nguyên vẹn. Thiền định cũng cho phép đi vào những cơ chế thông tin phản hồi khác nhau của ý thức và vô thức, khiến cho chúng ta nối kết trực tiếp nhiều hơn với mọi tiến trình thân tâm. Kabat Zinn xem những kinh nghiệm tính toàn thể nguyên vẹn và tính liên kết có thể đạt được nhờ chánh niệm như là sự chữa lành nội tại bẩm sinh. Có lẽ chịu ảnh hưởng của nền Thiền học của mình, ông quan niệm trạng thái tự nhiên của con người là một trạng thái vốn sung mãn và hạnh phúc. Những lực lượng của bệnh tật khởi sanh khi chúng ta tách lìa với trạng thái sung mãn và hạnh phúc này, và thiền cho chúng ta cách trở về với nó.

    Có lẽ cần nói rằng nhiều sự giải thích ảnh hưởng chuyển hóa của tâm lên thân, ít nhất trong truyền thống Phật giáo, được tìm thấy trong chính sự liên kết tâm-thân. Vào thời cổ ở Ấn Độ, Đức Phật đã chống lại quan điểm thống trị bấy giờ cho rằng linh hồn trú ngụ nơi thân thể, và bác bỏ nhiều thực hành yoga và khổ hạnh cổ vũ phải phân lìa hai cái đó. Đức Phật nói, một cách căn bản, tâm và thân là hai mặt của cùng một hiện tượng. Chính xác hơn là xem con người như là một cơ chế tâm thân (nàma-rùpa, danh sắc), gồm một uẩn vật chất (rùpa, sắc) mà về nguyên tắc không thể tách lìa bốn uẩn kia (vedanà, sanna, sakhàra, vinnãna: thọ, tưởng, hành, thức). Từ viễn cảnh này, sự chuyển hóa của tâm lên thân không còn là bí ẩn, vì trong bản chất những chiều kích tâm và thân của con người thì hoàn toàn tương thuộc, liên lập.

    Hệ thần kinh trung ương rốt cuộc phân phối khắp toàn thân. Chúng ta có thể dễ dàng kiểm chứng với những thao tác đơn giản như chỉ việc chú tâm vào một phần riêng biệt nào của thân sẽ đưa đến kết quả thay đổi tức thì: cảm nhận về phần thân thể đó, và những sự thay đổi về nhiệt độ, áp lực máu… Tương tự, chúng ta có thể lưu ý theo nhiều cách sự tác động của môi trường lên thân thể tương ứng với những thay đổi của tâm. Thế nên chúng ta nên giã từ quan niệm nhị nguyên về thân tâm, mà xem thực thể thân tâm là một cơ chế đơn nhất. Bấy giờ có lẽ chúng ta sẽ ít nói tâm thay đổi thân như thế nào và thân thay đổi tâm như thế nào, và thấy một tiến trình hợp nhất cùng chuyển hóa. Trong truyền thống Phật giáo, năm uẩn là tương thuộc và không thể tách rời, do đó giáo lý thường nói đến cả năm cùng một lúc.

    Theo một giải thích truyền thống của Phật giáo, thiền có ích cho sự chữa lành thân. Thiền phân biệt thành hai loại, yên tĩnh (samatha, thiền định hay thiền chỉ) và nội quán (vipassana, thiền quán hay minh sát). Thiền định hay thiền chỉ là tập trung tâm vào chỉ một đối tượng của sự chú ý, bỏ hết các thứ khác. Khi tâm có thể giữ sự chú ý vững chắc trên một đối tượng với càng lúc càng ít hơn sự gián đoạn, cuối cùng nó an định rất vững chắc, rất tập trung và ở yên trong định. Bước đầu trong tiến trình này, thân sẽ kinh nghiệm như tắm trong những cảm giác nhẹ nhàng, lạc phúc; nhưng ở những trạng thái nhập định sâu hơn, mọi kinh nghiệm thân thể đều dừng và hỷ lạc chuyển hóa thành những trạng thái thản nhiên (xả) sâu xa. Một trong những kết quả của loại thiền an định này, như người ta có thể tưởng tượng, là những kinh nghiệm đau đớn thể xác có thể tạm thời vượt qua. Thiền quán (minh sát) đánh thẳng vào tâm điểm của nguyên nhân gây khổ đau - hai nhân tố khao khát và vô minh - đó chính là sự chữa trị căn bản nhất. Ở đây tâm cũng tập trung vào một phương diện riêng biệt của kinh nghiệm (một cảm giác thuộc thân, một cảm giác, một tư tưởng…), nhưng những đối tượng của sự tập trung này cho phép thay đổi một cách tự nhiên với sự khai mở của kinh nghiệm trong tính toàn bộ của nó. Chẳng hạn, sự chú ý trọn vẹn được đưa đến một cảm giác thân thể, nhưng tức thời tiếp theo đó có thể tập trung vào một cảm nhận, rồi một tư tưởng… trong những hoàn cảnh tự nhiên. Thiền quán làm mạnh yếu tố niệm (sati), nhờ đó chúng ta hoàn toàn hiểu biết bất kỳ đối tượng tinh tế nào. Kết quả của thói quen chánh niệm này thì vi tế hơn thực hành tập trung và làm sáng tỏ và cuối cùng giải tỏa những tiến trình sâu kín, nhờ đó chúng ta tạo ra khổ đau khi mỗi khoảnh khắc kinh nghiệm sanh khởi. Chánh niệm tự nó không phải là sự chữa cho khổ đau, nhưng nó là một công cụ mạnh mẽ để đi vào sự chữa lành.

    Học cách chú ý vào kinh nghiệm trong từng khoảnh khắc của thân và tâm cuối cùng sẽ phát hiện nhiều bí mật của động cơ thân tâm. Khi hiểu biết về chính chúng ta thay đổi, một số thói quen đáp ứng của chúng ta cũng bắt đầu chuyển hóa. Thấy tính biến đổi nội tại của kinh nghiệm, chúng ta bớt bám nắm vào mỗi khoảnh khắc của nó. Thấy tính thay đổi và tính không có bản chất của cái mà chúng ta vẫn quen gọi là “chính tôi”, chúng ta có thể xem mình bớt trọng đại hơn và sau cùng cái gì xảy ra cho chúng ta thì kém cá nhân hơn. Thấy rằng mọi thỏa mãn lạc thú thì không tránh khỏi chỉ là tạm thời, chúng ta dần dần bớt hy vọng vào những hành vi đem lại thích thú. Nếu nhìn kỹ vào kinh nghiệm trực tiếp của mình, chúng ta sẽ có thể nhận biết sự vô thường của nó (anicca), sự vô ngã (anattà) và sự bất toại nguyện (dukkha) của nó, và thiền quán là phương tiện để có những cái thấy thấu suốt này. Kết quả của việc tự mình thấy những tính chất này của kinh nghiệm, chúng ta sẽ tháo lỏng ảnh hưởng của bám chấp, đều gây ra khổ đau trong đời sống. Đây quả là cẩm nang của việc làm giảm bớt stress trong thời này như được dạy và được thực hành trong những chương trình, mà một trong số đó là ở Đại học Trung tâm Y khoa Massachusetts do Kabat Zinn và các đồng nghiệp tiến hành.

    Phương pháp chánh niệm để điều trị tập trung vào việc thay đổi tương quan của chúng ta với kinh nghiệm về khổ đau của mình, hơn là thay đổi tính chất của nỗi khổ thân thể. Sự kiện thực hành chánh niệm ở đời sống bên trong hơn là những biểu lộ bên ngoài không nhất thiết làm cho nó kém đi là một hình thức của Phật giáo dấn thân. Khác với những hình thức khác của Phật giáo nhập thế, nó không tương tác với những cơ cấu áp bức của xã hội, hay với những người gây ra chiến tranh, hay với những người xâm phạm nhân quyền hay phá hoại môi trường. Y học hành vi đương đại tập luyện cho người ta không chỉ dấn thân vào bệnh tật của họ, mà sâu xa hơn, dấn thân vào những thái độ chấp trụ và sự bị điều kiện hóa của họ. Sự sợ hãi đau đớn, sự khủng bố của cái chết phải tới, sự mất kiểm soát trên cuộc đời mình, và rất nhiều mối khổ đau khác - tất cả chỉ được giải tỏa bằng thực hành thiền. Vấn đề còn lại cho mỗi người bệnh là vật lộn theo cách riêng của họ với những lực lượng trong chính họ, chúng làm mạnh thêm hay yếu đi năng lực của người chịu đựng trong cuộc sống của họ.
     
  7. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Lợi ích của Thiền


    Tâm thức của hành giả tập trung vào những niệm cao cả, mọi tư tưởng vị kỷ, ham muốn, quay cuồng theo dục vọng đều lìa xa
    Hành thiền đúng phép có thể đem lại cho người hành thiền những lợi ích như sau:

    Các căn được an tịnh, và một cách tự nhiên, hành giả cảm thấy thích thú với thói quen hành thiền hàng ngày.
    Lòng từ xâm chiếm tâm của hành giả. Với lòng từ hành giả xa lìa mọi tội lỗi và xem tất cả chúng sanh như là anh chị em.
    Những dục vọng làm mệt mỏi và đầu độc thâm tâm như là giận dữ, keo kiệt, kiêu ngạo... dần dần xa lìa tâm của hành giả.
    Nhờ hộ trì chặt chẽ các căn, cho nên những niệm ác, xấu không len vào tâm hành giả được.
    Với tâm trong sáng và tư thái bình thản, hành giả không còn thèm muốn gì đối với những dục vọng thấp hèn.
    Tâm thức của hành giả tập trung vào những niệm cao cả, mọi tư tưởng vị kỷ, ham muốn, quay cuồng theo dục vọng đều lìa xa.
    Hành giả không lạc vào chủ nghĩa hư vô, mặc dù thấy rõ mọi sự vật đều không rỗng bèo bọt.
    Tuy vẫn còn trong vòng sinh tử luân hồi, nhưng hành giả đã nhận thức rõ con đường giải thoát.
    Nhờ đi sâu vào giáo pháp mầu nhiệm, hành giả nương tựa vào trí tuệ của đức Phật.
    Vì không còn gì hấp dẫn và làm cho hành giả ham muốn, nên hành giả cảm thấy như con phượng hoàng đã thoát khỏi lưới và đang bay lượn tự do trên bầu trời.
    Trong kinh "Thân Hành Niệm" dạy phép tu thiền niệm thân, Phật nói tới 10 công của phép tu thiền niệm thân như sau:

    Đối trị tham và sân.
    Loại bỏ sợ hãi.
    Có thể chịu đựng nóng, lạnh, đói khát, côn trùng quấy nhiễu.
    Dễ dàng chứng bốn cấp thiền.
    Có thể biến hoá thần thông, theo ý muốn.
    Có thiên nhĩ thông, tức là có khả năng nghe những âm thanh mà tai người bình thường không nghe được.
    Biết được ý nghĩ của người khác.
    Biết được các kiếp sống quá khứ của người khác.
    Có thiên nhãn thông, tức là con mắt có thể nhìn thấy các chúng sanh trôi nối theo nghiệp từ đời này qua đời khác.
    Ngay trong đời hiện tại, đạt được tâm giải thoát và tuệ giải thoát.



    Nguyễn Chu Phác (Theo Phật tử VN)
     
  8. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Ngồi thiền nửa tiếng mỗi ngày giúp giảm đau đầu
    Thiền định hàng ngày có thể giảm đau. (Ảnh: AFP/Vietnam+)

    Một nghiên cứu được công bố ngày 16/11 ở San Diego, California, tại Hội nghị thường niên Cộng đồng Thần kinh học cho thấy luyện tập thiền định nửa tiếng mỗi ngày trong vòng bốn ngày sẽ giúp giảm những cơn đau lên não.
    Các nhà nghiên cứu tiến hành quét não bộ của các tình nguyện viên đã tham gia thiền định và phát hiện thấy hoạt động của não bộ giảm ở những khu vực cơ thể bị đau và những vùng chịu trách nhiệm truyền tải thông tin về cảm giác đau, ngay cả khi người ta không thể tập trung.

    Trong nghiên cứu này, các tình nguyện viên đã giảm được 40% cơn đau trong vòng bốn ngày sau khi bắt đầu một khóa thiền định.

    Một tác giả của công trình nghiên cứu, Fadel Zeidan, cho biết thiền định có thể cũng làm giảm cơn đau bằng cách khiến tâm trí bớt lo âu hơn. Dưới đây là một số lời khuyên căn bản trong thiền định mà nhóm nghiên cứu muốn chia sẻ với người đọc:

    Thứ nhất, thiền định trong vòng một phút (rồi tăng từ 2 đến 3,4 phút trở lên).

    Thứ hai, dùng đồng hồ hẹn giờ kết thúc một công đoạn thiền định.

    Thứ ba, thay vì cố chặn đứng cơn đau thì hãy nhẹ nhàng đón nhận chúng đến một cách tự nhiên.

    Thứ tư, nếu bạn không thể tập trung vào thiền định thì hãy tập trung tư tưởng vào một ý nghĩ hay câu chuyện nảy sinh trong tâm trí.

    Thứ năm, nếu bạn không thể thiền định trong lúc ngồi thì có thể vô niệm trong khi ăn, nói chuyện hay chạy bộ...

    Thứ sáu, thảo luận những vấn đề của bạn với giáo viên, bạn tập hoặc những người có kinh nghiệm trong thiền định.

    Thứ bảy, tập thiền định theo nhóm và tham gia tập ở nơi vắng bóng người./.


    Cao Phong (Vietnam+)
     
  9. ngocphale

    ngocphale C.h.u.y.ên bán buôn VNXK

    Tham gia:
    13/4/2007
    Bài viết:
    464
    Đã được thích:
    166
    Điểm thành tích:
    43
    Ðề: Thiền

    Bạn ơi, cho t địa chỉ để học thiền với. T dạo này đầu óc u mê, mẹt mỏi lắm, hôm qua cũng có ng bảo t nên đi học thiền nhưng t ko biết nên học ở đâu. Nếu b biết thì giới thiệu cho t với nhé. Tks :)
     
  10. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    http://vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/39719/bi-an-ve-cong-luc-vo-bien-cua-con-nguoi.html

    Bí ẩn về công lực vô biên của con người
    Khí công cao cấp và những công năng đặc dị không phải là thứ gì thần bí siêu hình. Con người có chừng 14 tỉ tế bào đại não, thông thường mới chỉ sử dụng độ hơn một triệu tế bào, còn tuyệt đại đa số các tế bào não được tồn chứa một cách lặng lẽ, vô dụng.
     
  11. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Những chú ý quan trọng khi ngồi thiền


    Thiền là nét văn hoá đặc sắc của phương Đông. Từ đầu thế kỷ 20, sau khi du nhập vào phương Tây, thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận như một phương pháp chữa lành những căn bệnh tâm lý của xã hội hiện đại.

    Nhiều nghiên cứu khác nhau của các giáo sư Mỹ, Nhật, Pháp… cho thấy thiền giúp cải thiện các chức năng sinh lý của cơ thể, giúp phát triển trí não, tăng cường khả năng tập trung tư tưởng và cải thiện lão hoá; trị các chứng bệnh do căng thẳng tâm lý gây ra, giúp cải thiện những thói quen xấu. Đối với những người bình thường, thiền giúp tinh thần thoải mái, lạc quan, nâng cao chỉ số thông minh, cảm xúc…

    Nên bắt đầu thiền vào sáng sớm, trước khi tập thể dục và ăn sáng. Nếu thiền trước khi ngủ sẽ bất lợi vì người tập dễ bị cơn buồn ngủ lôi kéo hoặc có thể trong đầu còn nhiều tạp niệm chưa giải quyết được sau một ngày làm việc.

    Để ngồi thiền hiệu quả, sự chuẩn bị và luyện tập đòi hỏi cũng phải rất công phu. Khi thiền, nên mặc quần áo bằng vải mềm, rộng rãi. Chuẩn bị một tấm nệm vuông dày khoảng 5cm, ở giữa đặt lên một cái gối ngồi nhỏ. Nửa mông sau đặt trên gối và ngồi ngay thẳng.

    Có nhiều cách ngồi, nhưng với người mới bắt đầu có thể ngồi kiểu Miến Điện hay ngồi bán kiết già. Khi đã quen nên chọn thế toàn kiết già. Những người thường mặc âu phục có thể thiền trên ghế hay ngồi theo kiểu Nhật Bản.

    Ngồi kiểu Miến Điện: cả hai chân xếp chéo nhau đặt trên nệm.

    Ngồi bán kiết già: đặt chân trái lên đùi phải hoặc ngược lại.

    Ngồi toàn kiết già: hai chân khoá vào nhau. Đặt bàn chân phải lên đùi trái rồi đem bàn chân trái đặt lên đùi phải. Kéo sát chân vào trong thân để ngồi được lâu. Bàn tay trái để lên bàn tay phải, hoặc ngược lại. Hai bàn tay để lên hai lòng bàn chân, những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái chạm vào nhau nằm ngay chiều rốn, cùi chỏ vừa ôm hông là được. Đây là tư thế thiền đúng cách và hữu hiệu nhất.

    Ngồi kiểu Nhật Bản: ngồi trên một ghế nhỏ, hai chân để dưới chân ghế.

    Ngồi trên ghế: sử dụng ghế chân cao, ngồi lên, hai bàn chân đặt trên mặt đất.
    Với bất cứ kiểu ngồi thiền nào, xương sống cũng phải ở vị thế thẳng đứng, không nghiêng trái, ngả phải; không cúi tới, ngả lui. Lỗ tai thẳng với vai, lỗ mũi ngay nơi rốn. Lưỡi chạm hàm trên, miệng ngậm, mắt nhắm hờ. Hít sâu bằng mũi đầy bụng rồi thở ra bằng miệng nhẹ nhàng.

    Điều quan trọng của thiền là “tâm toạ”, tức là tâm không được đi “dong duổi ta bà”. Muốn vậy, phải giảm thiểu từ từ những ý nghĩ miên man trong đầu. Tập trung tư tưởng vào một điểm hoặc một đề mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng trống rỗng, không còn vướng mắc vào bất cứ ý niệm nào.

    Nên tập thiền đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc đầu, ngồi khoảng 15 phút, dần dần tăng lên. Thỉnh thoảng sẽ có những lúc tâm phân tán. Điều này bình thường, chỉ cần khi nhớ ra hãy tập trung trở lại.

    Xả thiền
    Sau khi ngồi thiền, trước khi đứng dậy cần làm một số động tác để cơ thể hết tê mỏi và khí huyết lưu thông.
    Từ từ buông thõng hai chân. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng mũi từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.
    Việc xả thiền tuỳ mỗi buổi thiền. Nếu chỉ thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc cần đứng lên gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc cổ qua lại nhiều lần là đủ.


    Lương y – BS Võ Minh Hà
    (Nguồn: SGTT)
     
  12. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Nương tựa chính mình


    Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm (Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn…” Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà nói không được.
    Dù gọi là Thiền (Việt) hay Chan (Hoa), Zen (Nhật)… thì cũng đều có nguồn gốc từ Dhyana (Sanskrit) hay Jhanas (Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quan sát, là theo dõi và Ana là thở, hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là quán sát hơi thở, nhận thức hơi thở. Đơn giản vậy mà thực ra không giản đơn chút nào. Nó như một chìa khoá căn bản. Phải mở cái cửa này đã rồi các cửa khác mới mở tiếp được. Vấn đề là tại sao và cách nào để chỉ từ một việc là quán sát hơi thở lại có thể dẫn tới tuệ giác, một sự chuyển hoá từ “khí” mà thành “trí”?

    Quán sát hơi thở

    Thật ra quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp – nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp – nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy “ngũ uẩn giai không” hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái. Để thấy vô ngã thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở chẳng hạn, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình. Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà quán sát được cái tâm. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp, khi mệt ta “bở hơi tai”; khi khoẻ ta thở nhẹ nhàng sảng khoái, nhờ đó mà quán sát được cái thân. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quán sát thở, ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi, rồi khi lìa đời cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì mình đã vay mượn. Giữa hai lần thở vào, thở ra đó là những đợt thở… lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ đó lại ta có cuộc rong chơi trong cõi ta bà.

    Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hoá cảm xúc ta, cả hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình, thấy nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận, hơi thở được điều hoà trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Giận dữ, lo âu, sợ hãi vốn tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Vì vậy mà những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức, rã rời. Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng nhưng vẫn còn co cơ, còn chiêm bao. Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ, nhờ đó các tế bào được nghỉ ngơi, toàn thân cảm thấy sảng khoái.

    “Những vụ nổ súng loạn xạ, nổi cơn điên, tự tử… trở nên dễ hiểu ở nhiều xã hội thừa mứa vật chất mà tâm thần không an. Có được một cái tâm an là điều kiện đầu tiên của hạnh phúc, của sức khoẻ”

    Phổi ta như một cái máy bơm, phình xẹp để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Có một thời điểm áp suất cân bằng nhau, đó chính là quãng lặng. Quãng lặng đó ở cuối thì thở ra – trước khi thở vào trở lại – thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng vì không hề tốn năng lượng. Đó chính là giai đoạn “prana”. Pra có nghĩa là trước và ana là thở vào (cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa. Trong yoga có pranayama, kiểm soát hơi thở. Trong thiền định không còn phải kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở tự kiểm soát. Đến một lúc nào đó hành giả không cảm nhận mình thở nữa. An tịnh. Tan biến.

    Thả trôi theo dòng nước

    Khi nói đến thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi thiền. Rồi nào kiết già, nào bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải như thế. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được cả. Người Nhật, người Tây Tạng đều có cách “ngồi” thiền riêng của mình, người Tây phương còn khác hơn nữa, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu, buông xả toàn thân là được. Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợi thế hơn, vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”.

    Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong thiền. Ta dễ có khuynh hướng chiều theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực, và nhất là tuổi tác, do đó dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Giữ lưng thẳng đứng kết hợp với tập thể dục bụng sẽ làm chậm tiến trình lão hoá. Trong thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân, “buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong thiền rất thấp, dưới mức chuyển hoá cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích luỹ tốt hơn. Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn như glucid, lipid, protid… vốn là nguồn tạo năng lượng. Ăn ít đi mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái.

    Đời sống tiết độ, tri túc, kham nhẫn, chánh niệm, tỉnh giác... phải chăng có thể góp phần giải quyết những vấn đề sức khoẻ thời đại và bảo vệ môi trường sống của chúng ta hôm nay? Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về nương tựa chính mình. Quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể thở giùm ai? Ai có thể thiền giùm ai?

    BS Đỗ Hồng Ngọc (SGTT)
     
  13. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    http://vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/40414/-than-y--o-bac-giang--tay-khong-chua-bach-benh-.html

    'Thần y' ở Bắc Giang: Tay không chữa bách bệnh?


    Trước khả năng trị bệnh kỳ lạ của ông, Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người đã mời ông “hạ sơn” để làm trắc nghiệm…

    Nhiều người cho biết, ông Nguyễn Thành Long ở Tân Yên, Bắc Giang, có thể dùng tay chữa bách bệnh.


    Tay không bắt “bá bệnh”


    80 tuổi, nhưng ông Nguyễn Thành Long (xóm Đồng Nấm, thôn 284, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) khá khỏe mạnh, tinh anh. Ông cho biết mình không nhớ hết đã chữa được bao nhiêu ca bệnh, chỉ biết hiện có khoảng 6.000 lời cảm ơn ông, viết kín 4 cuốn vở học sinh


    Ông Nguyễn Thành Long học thiền theo Thiền phái Trúc Lâm. Gia đình ông có nghề thuốc cha truyền, con nối. Ông Long khuyên, con người nên ăn uống theo trí tuệ, không nên theo cảm tính để tránh nguy hiểm cho sức khỏe. Hằng ngày ông Long không uống rượu, chè, không ăn thịt chó (theo ông là rất độc). Đồ uống ông dùng hằng ngày là nước chanh đường.

    Theo ông Long, trị bệnh quan trọng nhất là cái Tâm luôn nghĩ tới cứu người, từ bi, không giận ghét, bực bội, phải hết sức kiên trì..


    Những ca trị bệnh của ông Long nghe qua khá ly kỳ. Một bệnh nhân có tên Lam Anh (nhà ở phố Văn Cao, Hà Nội) bị đau đầu, ông Long đặt tay lên đầu, di xuống gáy rồi đọc đốt xương nào bị cong ngược hay cong xuôi. Sờ tới cổ họng là biết bị viêm họng hạt và chỉ ấn tay một lát là đỡ ho. Sau vài buổi điều trị, bệnh của Lam Anh đã đỡ, thậm chí chứng “ừm ừm” dọn giọng trước khi nói sau 3 buổi đã khỏi hẳn.

    Anh Lê Đức Tính (Mỹ Đình, Hà Nội) sau 3 lần bị đột qụy nói không rõ, đi đứng lẩy bẩy, sau 7 ca chữa trị giờ đã nói được rõ ràng, còn tự đi được xe máy tới Trung tâm chữa bệnh. Anh bảo, giờ chỉ còn tưng tức ở chỗ ruột, đang được cụ Long chữa nốt.

    Theo ông Long thì các bệnh về máu huyết, bầm giập, u nang buồng trứng, dạ dày, ra mồ hôi tay chân... ông đều có thể chữa khỏi bằng tay không (?). Có người đau nặng, ông phải dùng bàn chân để truyền “năng lượng” chữa. Có chị bị u tử cung, bụng sưng rất to, sau một ca chữa, bụng đã xẹp hẳn. Rất nhiều bệnh nhân bị đau cổ, gáy, chỉ sau vài lần gặp, được ông “xếp, vuốt” lại các đốt xương là hết đau.



    Trong số các bệnh nhân khám đợt đầu có cả nhà nghiên cứu nổi tiếng Nguyễn Phúc Giác Hải.

    Ông Long cho biết, ông trị bệnh cứu người đã lâu, nhưng bây giờ các nhà khoa học muốn thử nghiệm, khảo nghiệm thực- hư phương pháp chữa bệnh của ông, nên ông “hạ sơn” để các nhà khoa học kiểm chứng.




    Ông Long (người ngoài cùng bên trái) chữa bệnh trước sự kiểm nghiệm của các nhà khoa học.




    Theo ông Nguyễn Tuấn Phan, Phó trưởng phòng Thực nghiệm- Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người cho biết: Ông Long chữa bệnh không cần dùng thuốc hay bất cứ dụng cụ gì, chỉ hai bàn tay không “soi” các cơ quan trong cơ thể là biết chỗ nào khỏe, yếu để trị bệnh. Tay ông rà từ đầu xuống chân kiểm tra, chỗ nào bệnh nhân đau là dừng lại chữa, mỗi ca chữa bệnh khoảng 30 phút, nếu bệnh nặng sẽ được chữa thêm giờ. Ngoài ra ông nhìn mặt cũng có thể đoán biết bệnh nhân bị bệnh gì, đau thế nào, trình tự đau ra sao. Có bệnh nhân chỉ điều trị một ca là khỏi, nhưng có bệnh nhân phải vài tháng mới chữa dứt điểm.

    “Thần y” là từ dân gian gọi những lang y có tài năng chữa trị đặc biệt. Người có tài năng chân chính sẽ không ngại chuyện trắc nghiệm khoa hoc, bởi qua đó họ được kiểm chứng khả năng của mình...” - PGS. TS Bùi Tiến Quý, Trưởng phòng Trắc nghiệm -Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, mở đầu cuôc trò chuyện với PV như vậy.



    Một ca bấm huyệt chữa đau đầu của ông Long.



    Nhìn Mặt trời nạp năng lượng

    Ông Nguyễn Văn Tuyến- cán bộ Phòng Thử nghiệm - Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người kể: Từ lúc bắt đầu chữa bệnh tới lúc nghỉ, ông Long không cần ăn uống mà vẫn làm việc, nói chuyện như thường. Ông chỉ nhấp môi chút nước chanh, nước mơ hoặc nước “bò húc”.

    Ông Long còn nạp “năng lượng” bằng cách ngồi xếp bằng nhìn Mặt trời trực tiếp mấy tiếng liền không chớp mắt. Khi không nhìn nữa, mắt cụ bình thường lại ngay, không hề bị lóa.

    Còn theo ông Long cho biết, trước đây ông chỉ chữa bệnh cho bà con tại nhà. Năm 1986 có một phụ nữ tên là Ngà ở Thái Lan về chữa bệnh. Cô ấy bị bệnh liệt nửa người, đau đớn không đi lại được, tình cờ biết tiếng ông, đã tìm lên Bắc Giang nhờ chữa trị. Chữa nửa tháng thì hết đau, bệnh khỏi dần.

    Sau đó một người bà con của cô Ngà từ Đà Lạt - Lâm Đồng ra mời ông Long vào chữa bệnh. Bà này rất khá giả, có vô số nhà cho thuê. Bà giao hẹn: “Nếu thầy chữa khỏi bệnh đau chân, tôi sẽ biếu thầy một cái nhà”... Ông Long đã chữa khỏi chứng đau chân cho người này, còn nhà thì ông không lấy.

    Sau những ca bệnh nổi tiếng đó, danh tiếng của ông Long nổi như cồn, người dân các tỉnh miền Nam lần lượt mời ông đi hết chỗ này đến chỗ kia để trị bệnh.




    Phương pháp chữa bệnh bằng ngón chân của ông Long vẫn đang được tranh cãi trong giới khoa học




    Kiểm chứng của khoa học

    Theo PGS. TS Bùi Tiến Quý, Trưởng phòng Trắc nghiệm (Trung tâm Tiềm năng con người), ông Long là người đầu tiên được kiểm chứng trước các nhà khoa học để tiến tới xây dựng một quy chế quản lý những người có khả năng nghiên cứu, những người có khả năng đặc biệt.

    TS Quý cho hay, về lý thì người được phép chữa bệnh cần có 2 yếu tố: Phải được đào tạo và phải có giấy phép hành nghề. Nhưng ông Nguyễn Thành Long chưa có 2 yếu tố đó, nên đáng ra không được cấp phép hành nghề. Tuy vậy, nếu xét về mặt thực tế thì ông Long đã chữa khỏi cho nhiều người, đó là việc có thật.

    Để những người có khả năng đặc biệt như ông Long có điều kiện khẳng định tài năng, Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam được Nhà nước giao nhiệm vụ xây dựng Quy chế quản lý những người có khả năng nghiên cứu, những người có khả năng đặc biệt và Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người được chọn làm việc này. Trung tâm đã tạm chia những người có khả năng đặc biệt làm 3 nhóm, ông Long thuộc Nhóm1 - Nhóm những người có khả năng đặc biệt trong lĩnh vực chữa bệnh không dùng thuốc. Ông Long cũng là người đầu tiên được đưa về Trung tâm trắc nghiệm, không trắc nghiệm bình thường theo cảm tính, mà kết hợp với máy móc hiện đại.

    Cụ thể, các bệnh nhân đến Trung tâm chữa bệnh đều có bệnh án. Trước khi gặp ông Long đều kiểm tra bằng máy RFI (máy đo tần số bằng phương pháp chụp ảnh cộng hưởng từ) để có bảng tổng hợp sức khỏe.


    Trung tâm chưa thể kết luận


    Vừa qua chúng tôi mời ông Nguyễn Thành Long về thực nghiệm ở Trung tâm được 20 ngày. Tại Trung tâm, ông Long đã chữa thực nghiệm trước sự giám sát của các nhà khoa học được 41 ca. Hiện chúng tôi chưa thể công bố kết quả đo qua máy RFI và của Bệnh viện phục hồi chức năng Hà Nội được. Bởi vì để kết luận, đánh giá về một người có khả năng đặc biệt và kết quả của sự trắc nghiệm ấy phải thông qua một Hội đồng khoa học chuyên ngành. Muốn khẳng định phương pháp chữa bệnh bằng năng lượng sinh học của ông Long có tốt hay không cũng cần phải lập một Hội đồng giám định để đảm bảo tính khách quan.

    Vì vậy tới thời điểm này chưa thể kết luận gì vì thời gian thực nghiệm còn cần kéo dài thêm. Chúng tôi đang sắp xếp để mời ông Long tiếp tục về Trung tâm chữa bệnh thực nghiệm sau một thời gian gián đoạn vì lý do khách quan.

    Tôi thấy phương pháp chữa bệnh của ông Long với các bệnh nhân có nhiều chuyển biến tốt. Bệnh khỏi hẳn hay chỉ đỡ thì chưa thể kết luận, nhưng nếu thời gian trị liệu kéo dài hơn thì kết quả chắc chắn sẽ khả quan hơn! Giấy phép Trung tâm cấp cho người có khả năng đặc biệt có tác dụng tới mức nào phụ thuộc vào chủ trương của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, trên cơ sở ban hành quy chế về quản lý những người có khả năng đặc biệt.

    Ông Nguyễn Thành Long thuần túy tới Trung tâm không phải chữa bệnh, kiếm tiền. Mục tiêu của ông là muốn được ghi nhận về phương pháp trị liệu còn bí ẩn này. Nhưng cơ sở pháp lý để ghi nhận hiện nay chưa thuận lợi vì ông Long là người đầu tiên. Mọi việc đều "vạn sự khởi đầu nan". Ông Bùi Tiến Quý (Trưởng phòng Thực nghiệm, Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người, thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam)/ Thu Hương (ghi)

    >>Ông Long có nguồn năng lượng quá nhiệt

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Chủ nhiệm bộ môn Thông tin dự báo, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người cho biết: “Tôi đã 77 tuổi, bị đau lưng đã lâu, lưng còng xuống do bị vôi vôi hóa cột sống. Tôi đã uống một số loại thuốc, áp dụng đúng các tư thế khi ngủ, nhưng dáng lưng vẫn còng xuống. Có cô bạn thấy vậy mới dẫn tôi tới ông Long để bấm huyệt. Người bình thường chỉ 30 – 40 phút, riêng tôi làm mất hơn 1 giờ. Tôi thấy ông bấm đau, nhưng đau ngừng sau khi hết bấm và thấy khoan khoái. Sau 2 lần bấm huyệt, lưng tôi đã cử động thoải mái. Sau 5 - 6 lần thì ông Long bảo cơ bản đã chữa rồi, nhưng cần củng cố thêm càng tốt.

    Tôi mời ông lên thăm và tìm hiểu thêm về cơ chế chữa bệnh. Đôi bàn tay đặc biệt của ông sờ đâu là biết có bế tắc ở huyệt, máu, hay cơ, biết chỗ này đau, chỗ kia không đau. Tôi biết ông Long có giác quan không như những người bấm huyệt thông thường khác, mà có thể nhận rõ điểm đau ở mỗi người. Ông Long có nguồn năng lượng quá nhiệt, nhiệt phải thoát ra bằng cách chữa bệnh cho người khác. Điều kiện chữa bệnh là phải ở trong phòng có quạt mạnh hoặc điều hòa”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải


    >>Chữa bệnh phải đúng quy định

    “Sử dụng năng lượng sinh học để chữa bệnh không phải là phương pháp của y học cổ truyền. Theo Luật Khám chữa bệnh, những phương pháp chữa bệnh mới, thuốc mới muốn được áp dụng để khám chữa bệnh rộng rãi trong nhân dân phải được phép của Bộ Y tế. Tôi không phản đối nên chữa bệnh bằng phương pháp năng lượng sinh học hay không, nhưng muốn áp dụng phải có nghiên cứu theo đúng quy định của Bộ Y tế. Nếu nghiên cứu, khảo nghiệm có kết quả thì Bộ sẽ cấp giấy phép”. Ths. Y khoa Nguyễn Hoàng Sơn (Phó Vụ trưởng Vụ Y dược cổ truyền Chuyên gia Hội đồng thẩm định thuốc Đông dược, Bộ Y tế)

    >>Phải xác định về mặt khả năng

    Trước hết “Về lý thuyết có những người bẩm sinh đã có hoặc tập được cách tích năng lượng. Mới đây ở Trung Quốc có người có khả năng phát công chữa một số bệnh. Người này chỉ cần phẩy tay là chữa bệnh được cho người khác. Nhưng bên cạnh những người có khă năng đặc biệt thật sự, cũng có những người tự dựng nên các câu chuyện thần bí, tự xưng, ngụy tạo. Nếu không quản lý, cứ để họ “làm phép” bậy, dùng sai mục đích thì không nên.

    Hiện phương pháp chữa bệnh bằng năng lượng sinh học ở Việt Nam chưa phát triển và đang trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm và sẽ có hội đồng xem xét. Vì vậy, trước hết theo tôi cần phải xác định người chữa bệnh bằng năng lượng sinh học có khả năng thật hay không?. PGS.TS.BS Phạm Vũ Khánh (Vụ trưởng Vụ Y dược cổ truyền – Bộ Y tế)



    (Theo Giadinh.net)
     
  14. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    THIỀN (DHYANNA)
    Nguyễn Xuân Điều

    Muốn đánh thức khả năng tiềm ẩn trong cơ thể, con người phải có phương pháp tập luyện để biến đổi cơ thể vật chất và cơ thể năng lượng (Hào quang) tương thích với nhau ở mức cao. Việc mở Luân xa và Thiền đạt trạng thái vô thức là hai điều kiện cần và đủ để thu năng lượng vũ trụ tạo ra năng lượng sinh học mạnh. Chính vì vậy, sau khi được mở Luân xa, muốn thu được năng lượng vũ trụ một cách thường xuyên, học viên phải luyện tập bằng phương pháp Thiền (Dhyanna).

    Thiền (Dhyanna) là một kỹ thuật tu luyện nhằm đưa cơ thể sống của con người hòa nhập với trạng thái tự nhiên huyền diệu của trật tự vũ trụ. Thiền là một hiện tượng năng lượng, là sự quan sát bên trong để con người khai thông trí tuệ và khám phá những khả năng tiềm ẩn của chính mình.

    I. TƯ THẾ THIỀN
    Có rất nhiều tư thế Thiền. Ở chương trình này, chúng ta chỉ thực hành 7 tư thế sau, trong đó tư thế ngồi Hoa Sen là tốt nhất:

    1. Ngồi hoa sen 2. Ngồi một nửa hoa sen

    3. Ngồi xếp bằng 4. Ngồi trên ghế

    5. Đứng 6. Quỳ

    7. Nằm





    Ngồi hoa sen

    II. CÁCH CHỌN HƯỚNG THIỀN
    Con người là một tiểu vũ trụ, chịu sự tác động của môi trường năng lượng bên ngoài. Việc định hướng thiền nhằm giúp cơ thể thu năng lượng tốt hơn căn cứ theo Ngũ hành Sinh Khắc: Ngũ Hành Bát Quái, Can Chi Ngũ Hành và Thiên Bàn.

    Bước 1: Xác định hàng Can:

    Số đơn vị của năm sinh ứng với hàng Can như sau:

    Giáp: 4; Ất: 5; Bính: 6

    Đinh: 7 ; Mậu: 8 ; Kỷ: 9

    Canh: 0; Tân: 1; Nhâm: 2; Quý: 3

    Bước 2: Xác định hàng Chi:

    - Lấy tổng 2 số đầu của năm sinh chia 3, được số dư chính là điểm khởi đầu đã đánh số trên Thiên Bàn.

    - Lấy 2 số cuối của năm sinh chia 12, được số dư chính là số phải đếm từ điểm khởi đầu đã tính ở trên, theo chiều kim đồng hồ trên Thiên Bàn để xác định hàng Chi.

    THIÊN BÀN



    Bước 3: Xác định Mệnh:

    Tra cứu Can – Chi đã tính được ở Bước 1 và Bước 2 trên bảng Can Chi Ngũ Hành để xác định Mệnh:

    NGŨ HÀNH CAN CHI



    Bước 4: Xác định hướng Thiền:

    Từ Ngũ Hành Tương Sinh, xác định hướng tương sinh cho người Mệnh đã tìm được ở Bước 3:



    Ngũ Hành Sinh Khắc



    Bát quái

    Ví dụ: Tính hướng ngồi Thiền cho một người sinh năm 1967

    - Can: Người sinh năm 1967 có hàng đơn vị là 7, ứng với chữ Đinh

    - Chi:

    o Lấy cụm 19: (1+9):3 dư 1 → Điểm khởi đầu từ cung Tí trên Thiên Bàn

    o Lấy cụm 67: 67:12 dư 7 → Có số phải đếm là 7

    o Từ Thiên Bàn, bắt đầu đếm từ cung Tí theo chiều kim đồng hồ: 1 → 7, dừng ở Mùi. Như vậy người sinh năm 1967 có Chi là Mùi.

    - Mệnh: Trên bảng Can Chi Ngũ Hành, xác định được người tuổi Đinh Mùi là mệnh Thuỷ.

    - Hướng thiền:

    o Từ Ngũ Hành Tương Sinh ta thấy người mệnh Thuỷ cần ngồi quay về hướng Kim (Kim sinh Thuỷ)

    o Đưa vào Bát Quái, hướng Kim là hướng Tây hoặc Tây Bắc

    → Như vậy, người sinh năm 1967 khi Thiền ngồi quay về hướng Tây hoặc Tây Bắc là tốt nhất.


    http://vn.360plus.yahoo.com/nangluongduongsinh/article?mid=14
     
  15. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
  16. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG


    Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”.

    Nguyên tác có tất cả sáu quyển ghi nhận đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy sự huyền bí ở Ấn độ, Tây Tạng, Trung hoa và Ba Tư. Ba quyển đầu ghi lại những cuộc thám hiểm của phái đoàn từ Anh sang Ấn, sự gặp gỡ giữa phái đoàn và những vị thầy tâm linh sống ở châu Á, và ở dãy Hymalaya . Ba quyển sau là những ghi nhận riêng của giáo sư Spalding về các cuộc hành trình. Sự trao đổi kiến thức giữa phái đoàn và các vị thầy tâm linh, với bản tường trình của phái đoàn đã đưa đến những cuộc tranh luận sôi nổi. Cuối cùng thì ba người trong phái đoàn đã trở lại Ấn Độ sống đời ẩn sĩ. Hồi ký của giáo sư Spalding là một công trình nghiên cứu nghiêm túc với nhiều sự kiện được phái đoàn ghi nhận đầy đủ một cách khoa học, và cho đến nay vẫn còn nhiều đọc giả hâm mộ, nhiệt liệt tán thưởng các quyển hồi ký này.

    Mời các bạn đọc những chương đầu của tác phẩm “Hành Trình Về Phương Đông”.


    http://vn.360plus.yahoo.com/nangluongduongsinh/article?mid=25
     
  17. ly.babi

    ly.babi Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    2/9/2011
    Bài viết:
    65
    Đã được thích:
    5
    Điểm thành tích:
    8
    Ðề: Thiền

    giờ mình ko có thời gian học, nhưng chắc sẽ lưu lại để hôm sau tập, cảm ơn mẹ nó
     
  18. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Việc thì lúc nào hết đâu mẹ? Càng ngày càng bận mà :)
     
  19. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    Bí ẩn những lời tiên tri thành sự thật kinh hoàng


    Con người có thể biết trước được tương lai hay chỉ là sự ngẫu nhiên? Nhưng có những sự việc xảy ra chỉ ít lâu sau khi các nhà tiên tri dự đoán và cho đến tận bây giờ, vẫn chưa có câu giải thích nào thoả đáng cho những sự việc đó.

    http://vietnamnet.vn/vn/tin-nhanh/43654/bi-an-nhung-loi-tien-tri-thanh-su-that-kinh-hoang.html
     
  20. zetafashion

    zetafashion

    Tham gia:
    29/11/2010
    Bài viết:
    14,867
    Đã được thích:
    6,471
    Điểm thành tích:
    3,063
    Ðề: Thiền

    [video=youtube;o-Kj5d9A6bI]http://www.youtube.com/watch?v=o-Kj5d9A6bI[/video]
     

Chia sẻ trang này