Thông tin: Tìm Hiểu Về Bệnh Zona

Thảo luận trong 'Sức khỏe gia đình' bởi Dược sĩ Huyền Phạm, 25/2/2020.

  1. Dược sĩ Huyền Phạm

    Dược sĩ Huyền Phạm Thành viên đạt chuẩn

    Tham gia:
    12/1/2020
    Bài viết:
    55
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    [​IMG]

    1. ĐẠI CưƠNG

    - Là một phản ứng cấp tính của da với các chất kích ứng từ côn trùng.

    - Viêm da tiếp xúc do Paederus là loại thường gặp nhất.

    - Ở Việt Nam, bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa bão, thành dịch, có thể rải rác suốt cả năm.

    - Bệnh không nguy hiểm nhưng làm người bệnh lo lắng.

    2. CĂN NGUYÊN

    - Bệnh do một loại côn trùng vùng nhiệt đới nóng, ẩm có tên khoa học là

    Paederus hay còn gọi là kiến khoang (hay kiến kim, kiến lác, kiến nhốt, kiến cằm cặp, kiến cong đít...).

    - Thuộc họ cánh cứng, có mặt khắp nơi trên thế giới, thường gặp nhất là ở châu Phi và châu Á.

    - Côn trùng có mình dài khoảng 7-10mm, mảnh, có 3 đôi chân, cơ thể có 2 đỏ, 3 vòng đen rất điển hình; bay và chạy rất nhanh, thường ẩn náu ở những nơi ẩm ướt, hoạt động chủ yếu vào ban đêm và rất thích ánh sáng đèn huỳnh quang.

    Khi bị chà xát, côn trùng bị dập nát và phóng thích chất dịch trong cơ thể chứa chất paederin gây viêm da tiếp xúc.

    3. CHẨN ĐOÁN

    a) Chẩn đoán xác định

    - Lâm sàng

    + Tại vị trí côn trùng đốt, bị chà xát xuất hiện phản ứng viêm da. Ban đầu chỉ có một hoặc vài đám da đỏ, dài như vết cào xước, hơi phù nề, kích thước từ vài mm đến vài cm. Sau vài giờ hoặc một ngày xuất hiện mụn nước, bọng nước giữa dát đỏ.

    + Nếu bệnh nhẹ, người bệnh chỉ cảm thấy rát, ngứa, nổi một vài vết đỏ lấm tấm kèm mụn nước, mụn mủ nhỏ. Sau 3-5 ngày, tổn thương khô mà không thành phỏng nước, bọng mủ. Nếu nặng hơn, thương tổn rộng, bọng nước, bọng mủ nông lan rộng, có thể trợt loét, hoại tử.

    + Vị trí: bất kỳ nơi nào nhưng hay gặp ở các vùng da hở. Khi bị tổn thương ở

    mắt có thể có sưng nề, trợt đỏ, chảy nước mắt; các vị trí khác như nách, bẹn, sinh dục... có thể gây sưng đau làm hạn chế đi lại.

    + Cơ năng: bỏng rát, ngứa. Nếu bội nhiễm sẽ thấy đau nhức, khó chịu.

    + Toàn thân: một số trường hợp tổn thương lan rộng có thể gây đau nhức, sốt, mệt mỏi, nổi hạch cổ, nách, hoặc bẹn tùy theo vùng tổn thương.

    - Cận lâm sàng

    Không có gì đặc biệt, một số có phỏng mủ lan rộng, hạch sưng to, bạch cầu có thể tăng cao.

    b) Chẩn đoán phân biệt

    - Bệnh zona

    + Dễ chẩn đoán nhầm nhất.

    + Do nhiễm Varricella-zoster virút (VZV).

    + Thương tổn là dát đỏ, sau nổi mụn nước, bọng nước lõm giữa tập trung

    thành đám dọc theo thần kinh ngoại biên. Đau rát nhiều tại tổn thương.

    + Xét nghiệm tế bào Tzanck thấy tế bào ly gai và tế bào đa nhân khổng lồ.

    - Bệnh herpes da: mụn nước nhỏ tập trung thành chùm trên nền dát đỏ ở vùng

    bán niêm mạc (môi), niêm mạc (miệng, sinh dục), đau rát nhiều tại tổn thương.

    - Viêm da tiếp xúc do các nguyên nhân khác: viêm da tiếp xúc dị ứng, viêm

    da tiếp xúc kích ứng.

    4. TIẾN TRIỂN

    - Nếu được điều trị sớm, bệnh đỡ nhanh, tổn thương đóng vảy tiết sau khoảng

    4-6 ngày, khô dần, bong vảy để lại vết da sẫm màu, mất đi dần.

    - Người bệnh có thể tái phát vài lần. Ở tập thể, có thể nhiều người bị bệnh tại cùng thời điểm.

    5. ĐIỀU TRỊ

    Điều trị tại chỗ là chủ yếu, tùy theo giai đoạn tổn thương.

    a) Tại chỗ

    - Ngay khi bị tổn thương: có thể dùng nước muối sinh lý (NaCl 9%0), rửa tổn thương 3-4 lần/ngày nhằm trung hòa độc tố của côn trùng. Tránh kì cọ làm tổn thương lan rộng.

    - Khi các tổn thương đỏ, đau rát:thuốc mỡ GANIKderma

    b) Toàn thân: thường không cần phải điều trị.

    - Trường hợp thương tổn lan rộng, bọng mủ rộng và có dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân: kháng sinh uống.

    - Kháng histamin để giảm ngứa, giảm kích ứng da.

    6. PHÕNG BỆNH

    - Cách phòng bệnh tốt nhất là tránh tiếp xúc với côn trùng gây bệnh.

    - Nếu đã tiếp xúc hoặc nghi ngờ tiếp xúc thì nên:

    + Khi phát hiện côn trùng đang bò trên da, lấy ra khỏi người bằng cách thổi hoặc để tờ giấy để côn trùng bò lên. Sau đó rửa sạch vùng da đã tiếp xúc.

    + Khi đã vô tình chà xát côn trùng, phải rửa sạch tay và những vùng da đã tiếp xúc.

    + Khi phát hiện côn trùng trong khu vực sinh sống, nên ngăn bằng cách đóng cửa hoặc sử dụng lưới mắt nhỏ ngăn côn trùng hoặc thay đèn huỳnh quang bằng đèn ánh sáng vàng.

    1. ĐỊNH NGHĨA

    Bệnh zona hay herpes zoster là bệnh nhiễm trùng da với biểu hiện là các ban đỏ, mụn nước, bọng nước tập trung thành đám, thành chùm dọc theo đường phân bố của thần kinh ngoại biên. Bệnh do sự tái hoạt của virút Varicella zoster (VZV) tiềm ẩn ở rễ thần kinh cảm giác cạnh cột sống.

    Bệnh hay gặp ở những người già, những người suy giảm miễn dịch, đặc biệt ở người nhiễm HIV/AIDS.

    2. CĂN NGUYÊN, BỆNH SINH

    a) Căn nguyên

    Căn nguyên là một virút hướng da và thần kinh có tên là Varicella zoster

    virus (VZV), thuộc họ virút herpes, và cũng chính là virút gây bệnh thủy đậu.

    b) Bệnh sinh

    Ở người đã mắc bệnh thủy đậu, sau khi khỏi, một số ít virút tồn tại trong các hạch thần kinh cảm giác cạnh cột sống dưới dạng tiềm tàng, im lặng. Khi gặp điều kiện thuận lợi (các yếu tố khởi động) như suy giảm miễn dịch (suy giảm về thần

    kinh và thể lực, người già yếu, dùng thuốc ức chế miễn dịch, các bệnh về máu, đái

    tháo đường), bệnh tạo keo (đặc biệt là bệnh lupus ban đỏ), stress, điều trị tia xạ, ung thư, HIV/AIDS..., virút sẽ tái hoạt, nhân lên và lan truyền gây viêm lan toả và hoại tử thần kinh. Đồng thời virút lan truyền ngược chiều đến da, niêm mạc và gây tổn thương.

    3. CHẨN ĐOÁN

    a) Chẩn đoán xác định: chủ yếu dựa vào lâm sàng.

    - Lâm sàng

    + Tiền triệu: bệnh khởi đầu với các cảm giác bất thường trên một vùng da như bỏng, nóng rát, châm chích, tê, đau, nhất là về đêm, hiếm gặp hơn là dị cảm ở một vùng hoặc nhiều dây thần kinh chi phối từ 1-5 ngày. Kèm theo có thể nhức đầu, sợ ánh sáng và khó chịu. Thời kỳ này được cho là thời kỳ virút lan truyền dọc dây

    thần kinh.

    + Khởi phát: khoảng nửa ngày đến một ngày sau, trên vùng da có dấu hiệu tiền triệu xuất hiện những mảng đỏ, hơi nề nhẹ, đường kính khoảng vài cm, gờ cao hơn mặt da, sắp xếp dọc theo đường phân bố thần kinh và dần dần nối với nhau

    thành dải, thành vệt.

    + Toàn phát

    Triệu chứng da: vài ngày sau, trên những mảng đỏ da xuất hiện mụn nước, bọng nước tập trung thành đám giống như chùm nho, lúc đầu mụn nước căng, dịch

    trong, sau đục, hóa mủ, dần dần vỡ đóng vảy tiết. Thời gian trung bình từ khi phát tổn thương đến khi lành sẹo khoảng 2-4 tuần. Người cao tuổi tổn thương nhiều, diện rộng; mụn nước, bọng nước có thể xuất huyết, hoại tử da, nhiễm khuẩn, sẹo xấu và kéo dài. Ở trẻ em tổn thương ít, tiến triển nhanh.

    Vị trí: thường chỉ ở một bên, không vượt quá đường giữa cơ thể và theo

    đường phân bố của một dây thần kinh ngoại biên; cá biệt bị cả hai bên hay lan toả. Hạch bạch huyết vùng lân cận sưng to.

    Triệu chứng cơ năng: đau xuất hiện sớm, có thể trước cả tổn thương ngoài da và luôn thay đổi trong suốt thời gian bệnh tiến triển. Mức độ đau rất đa dạng từ nhẹ

    như cảm giác rát bỏng, âm ỉ tại chỗ hay nặng như kim châm, giật từng cơn.

    Triệu chứng đau thường phụ thuộc vào lứa tuổi. Ở trẻ em, người trẻ đau ít. Người nhiều tuổi đau thành từng cơn, kéo dài, thậm chí hàng năm khi tổn thương ngoài da đã lành sẹo, còn gọi là đau sau zona.

    Các rối loạn khác: có thể thấy rối loạn bài tiết mồ hôi, vận mạch, phản xạ

    dựng lông (nhưng hiếm gặp).

    - Các thể lâm sàng

    + Theo vị trí tổn thương

    · Zona liên sườn và ngực bụng: là thể lâm sàng hay gặp nhất, chiếm 50%

    trường hợp.

    · Zona cổ (đám rối cổ nông) và cổ cánh tay.

    · Zona gáy cổ: có tổn thương ở gáy, da đầu, vành tai.

    · Zona hông, bụng, sinh dục, bẹn, xương cùng, ụ ngồi, đùi.

    + Theo hình thái tổn thương: những hình thái này thường gặp ở những người

    suy giảm miễn dịch như HIV/AIDS, ung thư, hoá trị liệu..., bao gồm:

    · Zona lan toả (disseminated zoster).

    · Zona nhiều dây thần kinh.

    · Zona tái phát.

    + Các thể zona đặc biệt

    68· Zona mắt: chiếm 10-15% các thể zona. Do tổn thương thần kinh V hay thần kinh sinh ba chi phối cho mắt, hàm trên và hàm dưới, trong đó tổn thương nhánh mắt gấp 5 lần các nhánh khác. Có thể có các biến chứng về mắt như viêm kết mạc, giác mạc, củng mạc, thậm chí nặng đe doạ thị lực như hoại tử võng mạc cấp tính,

    viêm dây thần kinh thị giác, hội chứng đỉnh ổ mắt, viêm hậu củng mạc, glaucome

    thứ phát...

    · Zona hạch gối hay hội chứng Ramsay Hunt: do thương tổn hạch gối của dây thần kinh VII. Bệnh nhân liệt mặt một bên, ù tai, nghe kém hoặc mất khả năng nghe, buồn nôn, nôn, chóng mặt và giật nhãn cầu. Mắt không nhắm kín được (hở mi), có dấu hiệu Charler Bell. Mất cảm giác vị giác một bên 2/3 trước lưỡi, mụn nước mọc ở màng nhĩ, ống tai, vành tai. Có thể có viêm não, màng não.

    · Zona vùng xương cùng (S2, S3, S4): do viêm dây thần kinh chi phối vùng bàng quang. Bệnh nhân khó tiểu, tiểu dắt, bí tiểu, có trường hợp tiểu máu và tiểu mủ. Đau bụng giống như các triệu chứng ngoại khoa, đau quặn bụng dưới, căng tức, bí trung đại tiện, hậu môn co thắt và cứng như đá không thể khám được, đau nhức vùng da một bên sinh dục kèm theo thương tổn da điển hình.

    · Zona tai: cảm giác rát bỏng, đau vùng tai, có thể lan ra thái dương và gáy. Ðau xảy ra từng cơn kéo dài nhiều ngày làm bệnh nhân không ăn, không ngủ được, đặc biệt là zona tai kết hợp với zona họng gây đau họng không nuốt được. Rối loạn cảm giác vùng mặt, liệt mặt ngoại biên, nghe kém.

    · Zona ở người nhiễm HIV/AIDS: bệnh zona ở người có HIV dương tính giai đoạn sớm tương tự như bệnh zona ở người bình thường. Nếu nhiễm HIV giai đoạn

    muộn/AIDS, zona có thể tái phát thường xuyên, tổn thương không điểnhình như

    xuất hiện trên diện rộng, mụn nước xuất huyết, hoại tử, nhiễm khuẩn, sẹo xấu, bệnh kéo dài.

    - Cận lâm sàng

    + Chẩn đoán tế bào Tzanck: thấy các tế bào gai lệch hình và tế bào đa nhân khổng lồ.

    + Nuôi cấy virút: thường ít thực hiện.

    + PCR với bệnh phẩm trong dịch và các mô.

    + Sinh thiết da: được tiến hành nếu lâm sàng không điển hình.

    + Xét nghiệm HIV.

    b) Chẩn đoán phân biệt: tùy theo từng giai đoạn

    - Giai đoạn khởi phát: phân biệt với các loại đau như đau đầu, viêm mống mắt, viêm màng phổi, viêm thần kinh cánh tay, đau do bệnh tim, viêm ruột thừa hoặc viêm túi mật, sỏi mật, đau quặn thận, thoát vị đĩa đệm, đau thần kinh toạ...

    - Giai đoạn mụn nước, bọng nước: phân biệt với herpes simpex, viêm da tiếp xúc dị ứng (với một số loại cây cỏ, côn trùng). Hiếm hơn là một số bệnh da bọng nước tự miễn như pemphigus, pemphigoid, Duhring-Brocq, bệnh tăng IgA thành dải.

    4. ĐIỀU TRỊ

    a) Mục tiêu điều trị: làm liền tổn thương; giảm đau; ngăn ngừa biến chứng.

    b) Phác đồ điều trị

    - Trường hợp không biến chứng và ở người có miễn dịch bình thường:

    + Tại chỗ: thuốc mỡ GANIKderma

    + Toàn thân:

    · Uống acyclovir: thuốc kháng virus có tác dụng nhanh lành vết thương, giảm

    số tổn thương mới và giảm đau sau zona. Thuốc nên được dùng sớm, tốt nhất trong

    vòng 72 giờ đầu. Liều 800mg x 5 lần/ngày trong 7-10 ngày

    · Hoặc, famciclovir 500mg mỗi 8 giờ (3 lần mỗi ngày) x 7 ngày

    · Hoặc, valacyclovir 1000mg mỗi 8 giờ (3 lần mỗi ngày) x 7 ngày

    · Ngoài ra: kháng sinh chống bội nhiễm; giảm đau, kháng viêm, an thần, sinh tố nhóm B liều cao. Nếu đau dai dẳng: bôi kem chứa lidocain và prilocain, kem capsaicin, lidocain gel, uống thuốc chống trầm cảm ba vòng, phong bế thần kinh và vật lý trị liệu kết hợp. Corticoid: có tác dụng giảm đau trong thời kỳ cấp tính và

    nhiều tác giả cho rằng thuốc có tác dụng giảm đau sau zona.

    - Trường hợp suy giảm miễn dịch hay tổn thương lan rộng:

    Tiêm tĩnh mạch acyclovir 30mg/kg/ngày, chia 3 lần x 7 ngày hoặc cho đến khi thương tổn đóng vảy tiết.

    - Trường hợp có tổn thương mắt: kết hợp khám chuyên khoa mắt, điều trị acyclovir đường tĩnh mạch.

    - Đau sau zona (post herpetic neuralgia-PHN): là hiện tượng đau dai dẳng trên 1 tháng, thậm chí hàng năm với biểu hiện đau nhạy cảm, rát bỏng, đau âm ỉ hay đau nhói như dao đâm ở vùng da tổn thương zona đã lành sẹo. Bệnh thường xuất hiện ở người già, người suy giảm miễn dịch, mắc bệnh ung thư. Nguyên nhân: do

    VZV gây viêm, hoại tử và xơ hóa các đầu mút thần kinh. Một số trường hợp có thể kèm đau cơ, đau khớp, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống.

    Điều trị và dự phòng PHN:

    + Điều trị bệnh zona bằng thuốc kháng virus sớm trong vòng 72 giờ đầu.

    Amitripylin viên 25mg, liều 25-75mg/ngày. Tác dụng phụ: hạ huyết áp tư

    thế, ngủ gà, khô miệng, lú lẫn, táo bón, bí tiểu, tăng cân. Hạn chế tác dụng phụ bằng

    cách dùng liều tăng dần.

    + Carbamazepin viên nén 200mg, liều 400-1.200mg/ngày. Tác dụng phụ: chóng mặt, buồn nôn lúc bắt đầu điều trị, hạn chế bằng cách tăng dần liều.

    + Gabapentin viên 300mg, liều 900-2.000mg/ngày. Tác dụng phụ: ngủ gà, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, đi loạng choạng, run. Hạn chế tác dụng phụ bằng cách tăng dần liều.

    + Pregabalin 150mg-300mg/ngày.
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi Dược sĩ Huyền Phạm
    Đang tải...


  2. mật ong thiên nhiên số 1

    mật ong thiên nhiên số 1 Mật ong thiên nhiên nguyên chất 100%

    Tham gia:
    13/11/2018
    Bài viết:
    11,361
    Đã được thích:
    599
    Điểm thành tích:
    773
    zona nếu không được điều trị kịp thời nếu lan rộng đến những vùng như mặt, tai... sẽ rất nguy hiểm
     

Chia sẻ trang này