Toàn quốc: Phương Pháp Chẩn Đoán Bệnh Trĩ Như Thế Nào

Thảo luận trong 'MỸ PHẨM, LÀM ĐẸP' bởi binhnghia2010, 17/6/2022.

  1. binhnghia2010

    binhnghia2010 BNC medipharm

    Tham gia:
    30/10/2014
    Bài viết:
    9
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    3
    Bệnh trĩ là căn bệnh thường gặp hiện nay và nhiều người mắc phải. Vậy phương pháp chẩn đoán bệnh trĩ như thế nào là câu hỏi của nhiều người. Bệnh trĩ hay còn gọi là bệnh lòi dom là hiện tượng giãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ ở mô xung quanh hậu môn trực tràng. Bình thường các mô này sẽ giúp kiểm soát sự tống phân ra ngoài. Khi các mô này bị viêm và sưng phồng lên thì gọi là trĩ. Bệnh trĩ có nhiều phương pháp nhận biết. Dưới đây chúng ta cùng đi tìm hiểu về các phương pháp chẩn đoán bệnh trĩ.

    https://********.dktcdn.net/100/164/964/files/phuong-phap-chan-doan-benh-tri-nhu-the-nao.jpg?v=1643356176826

    1. Phương pháp chẩn đoán bệnh trĩ

    1.1. Cơ chế bệnh sinh:

    Trong các thuyết nêu ra có hai thuyết được nhiều người chấp nhận.

    - Thuyết mạch máu: sự rối loạn điều hoà thần kinh vận mạch gây phản ứng quá mức điều chỉnh bình thường của mạng mạch trĩ và vai trò của các shunt động – tĩnh mạch. Khi các yếu tố khởi bệnh tác động làm các shunt mở rộng, máu động mạch chảy vào ồ ạt làm các đám rối bị đầy, giãn quá mức, nhất là nếu lúc đó lại có một nguyên nhân cản trở đường máu trở về (rặn mạnh vì táo bón, co thắt cơ tròn…) các mạch máu phải tiếp nhận một lượng máu quá khả năng chứa đựng nên phải giãn ra (xung huyết), nếu tiếp tục tái diễn sẽ đi đến chảy máu, máu đỏ tươi vì đi trực tiếp từ động mạch sang tĩnh mạch.

    - Thuyết cơ học: do áp lực rặn trong lúc đại tiện khó khăn (táo bón) các bộ phận nâng đỡ các tổ chức trĩ bị giãn dần trở nên lỏng lẻo, các búi trĩ (vốn là bình thường) bị đẩy xuống dưới và dần dần lồi hẳn ra ngoài lỗ hậu môn, luồng máu tĩnh mạch trở về bị cản trở, trong khi luồng máu từ động mạch vẫn đưa máu đến vì áp lực cao. Quá trình đó tạo thành vòng luẩn quẩn, lâu dài làm mức độ sa trĩ càng nặng lên.

    + Yêu cầu chẩn đoán: dựa vào các triệu chứng lâm sàng khai thác được từ hỏi bệnh, khám thực thể, đưa ra chẩn đoán xác định và phân độ trĩ. Từ đó chỉ định các xét nghiệm, khám xét cần thiết tiếp theo để xem xét các yếu tố nguy cơ (thiếu máu, xơ gan, đái đường...).

    + Các triệu chứng lâm sàng cần khai thác:

    - Tiền sử: bệnh nội khoa, ngoại khoa, tiền sử điều trị trước đây (nội khoa, thủ thuật, ngoại khoa), yếu tố thuận lợi (nghề, táo bón, xơ gan, đứng lâu, ngồi nhiều, thai nghén, tăng huyết áp…).

    - Triệu chứng cơ năng: chảy máu (mức độ, tính chất...), sa khối hậu môn (vị trí, tính chất thay đổi....), đi ngoài đau hậu môn (từng đợt, liên tục, có phải dùng thuốc giảm đau...).

    - Triệu chứng toàn thân: mệt mỏi, thiếu máu, hạch ngoại vi...

    - Triệu chứng tại chỗ: nhìn thấy búi trĩ sa xuống tự nhiên hoặc khi bảo bệnh nhân rặn, búi trĩ chảy máu hoặc tím.

    - Triệu chứng khi biến chứng (tắc mạch, hoại tử...): đau, khối tím cạnh hậu môn...

    - Khám hậu môn trực tràng và soi trực tràng ống cứng (mô tả vị trí, mức độ, tổn thương phối hợp…). Tư thế nằm sấp hoặc nghiêng hoặc ngửa. Vị trí tổn thương đánh dấu theo chiều kim đồng hồ (quy định tư thể nằm ngửa).

    - Khám phát hiện các triệu chứng bệnh phối hợp.

    . Áp xe: đau; sốt; khối xưng, nóng, đỏ, đau; có khi vỡ chảy mủ cạnh hậu môn.

    . Nứt kẽ hậu môn: đau, vết nứt thường dưới đường lược vị trí 6h, cơ thắt co bóp chặt.

    . Các bệnh khác: sa niêm mạc trực tràng, K ống hậu môn, Crohn,...

    1.2. Chẩn đoán xác định bệnh, phân độ trĩ

    + Trĩ nội:

    - Xuất phát trên đường lược.

    - Bề mặt niêm mạc không có thần kinh cảm giác.

    - Diễn biến: chảy máu, sa, nghẹt, tắc mạch.

    - Được phân thành 4 độ:

    . Độ 1: mới hình thành, chảy máu là triệu chứng chính.

    . Độ 2: búi trĩ sa xuống khi rặn, tự lên được.

    . Độ 3: búi trĩ sa ra ngoài, phải đẩy mới lên được.

    . Độ 4: búi thĩ sa thường xuyên, có thể nghẹt dẫn đến hoại tử.

    + Trĩ ngoại:

    - Xuất phát dưới đường lược.

    - Có thần kinh cảm giác.

    - Diễn biến: tắc mạch, mẩu da thừa.

    + Trĩ hỗn hợp: trĩ nội và trĩ ngoại cùng có ở một búi trĩ hoặc nhiều búi trĩ.

    + Trĩ có biến chứng:

    - Chảy máu: cấp hoặc mãn tính phụ thuộc vào mức độ chảy máu, lượng máu mất, tình trạng toàn thân. Nếu có chảy máu cấp có khi phải can thiệp cấp cứu cầm máu (ỉa máu đỏ tươi, phun thành tia, da xanh, niêm mạc nhợt, hồng cầu hematocrit giảm).

    - Tắc mạch: đau nhiều hậu môn, khám tại chỗ búi trĩ tím kích thước khác nhau, có thể một nơi hay nhiều nơi, có thể ở trĩ nội hoặc trĩ ngoại, có thể phối hợp...Có thể kèm theo nhiễm trùng hoại tử.

    - Sa, nghẹt trĩ: toàn bộ búi trĩ sa ra ngoài thường xuyên không thể đẩy lên hoặc đầy lên lại xuống ngay kèm theo phù nề, đau có thể nhiễm trùng, loét; thường có kết hợp tắc mạch.

    1.3. Chẩn đoán phân biệt:

    + Yêu cầu chẩn đoán: phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh thường gặp có cùng triệu chứng (ỉa máu, đau vùng hậu môn, khối hậu môn...).

    + Ung thư ống hậu môn, trực tràng, đại tràng: thăm trực tràng là động tác lâm sàng quan trọng nhất để phát hiện tổn thương ung thư 1/3 giữa và 1/3 dưới trực tràng để tránh bỏ sót đáng tiếc. Nếu có nghi ngờ ung thư phải tiến hành cho chụp khung đại tràng có barit (lavement baryté), tốt nhất soi đại tràng ống mềm hoặc gửi lên tuyến cao hơn làm chẩn đoán trước khi quyết định mổ điều trị trĩ. Một vài dấu hiệu gợi ý: tuổi trung niên, gầy sút, phân lờ máu cá... Không nên kê đơn điều trị lỵ, rối loạn tiêu hóa...khi chưa loại trừ được tổn thương ác tính.

    + Nứt kẽ ống hậu môn: thường gặp ở người trẻ với tam chứng:

    - Đau hậu môn (dễ nhầm áp xe cạnh hậu môn hoặc trĩ tắc mạch hoặc có tổn thương đồng thời), đặc biệt đau dữ dội khi rặn ỉa.

    - Vết loét (vết nứt): khám hậu môn bằng cách banh nhẹ hậu môn (tránh đau) thấy vết nứt hình vợt thường ở dưới đường lược vị trí 6h, có thể thấy thớ cơ thắt hậu môn dưới vết nứt (tùy thể cấp hay mãn). Có thể quan sát thấy “cột báo hiệu” rìa hậu môn dưới vết nứt rìa hậu môn.

    - Cơ thắt co bóp chặt (nếu có nứt kẽ cấp tính khó có thể thăm trực tràng vì bệnh nhân rất đau, cơ thắt co bóp chặt không thể cho ngón tay để thăm trực tràng được).

    + Các bệnh lý khác: viêm ống hậu môn; sa trực tràng; u nhú vùng hậu môn, polyp trực tràng, ống hậu môn; bệnh Crohn...

    1.4. Chẩn đoán khả năng điều trị bệnh (chọn phương pháp điều trị thích hợp)

    + Yêu cầu: sau khi chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt mới đến bước xác định phương pháp điều trị. (Bệnh nhân có thể phẫu thuật được không? Dự kiến phương pháp phẫu thuật sẽ được thực hiện?).

    + Các yếu tố cần đánh giá và triệu chứng cận lâm sàng cần khai thác: tuổi, có bệnh mãn tính nặng phối hợp như cao huyết áp, tâm phế mãn, tiểu đường. Trong trường hợp cần thiết phải hội chẩn, khám các chuyên khoa liên quan để điều trị phối hợp.
     

    Xem thêm các chủ đề tạo bởi binhnghia2010

Chia sẻ trang này